Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘gadamer’

“Gadamer cho rằng thông diễn học của Schleiermacher chủ trương một sự biến đổi triệt để về nhiệm vụ của việc hiểu. Thay cho việc hướng đến một sự thống nhất về chân lý của văn bản, nhiệm vụ chủ yếu của người lý giải là nhằm tái tạo quá trình sáng tạo của tác giả để hiểu ý nghĩa mà tác giả muốn thể hiện. Nhiệm vụ của thông diễn học được chuyển sang việc tái kiến tạo. Mục đích thông diễn học của Schleiermacher là hiểu “không chỉ nguyên nghĩa các từ ngữ và nghĩa khách quan của chúng, mà còn hiểu tính cá nhân của người nói hay tác giả” (Chân lý và phương pháp [CP], trang 186), ngụ ý “một sự tái tạo hành vi sáng tạo” (CP, trang 187). Mặc dù công nhận Schleiermacher có “những bình luận xuất sắc về lí giải ngữ pháp” (CP, tr. 186), phê bình của Gadamer tập trung vào lý giải tâm lý của Schleiermacher, tức là “dần dần ngự trị sự phát triển của tư tưởng” (CP, tr. 187). Để tái tạo tư duy của tác giả, người lý giải phải khám phá những tư tưởng của tác giả quyết định những tác động về sau. Đối với Gadamer, việc đặt tầm quan trọng vào lý giải tâm lý này ngụ ý rằng chủ đề chính trong việc hiểu một văn bản bị bỏ qua và được thay thế bằng một sự tái kiến tạo thẩm mỹ về tính cá nhân của tác giả. Sự lý giải có tính chất dự đoán về hoạt động sáng tạo tiền giả định việc có thể hiểu nhau, “tức là, toàn bộ tính cá nhân là một sự biểu thị của cuộc sống phổ quát” (CP, tr.189). Gadamer cho rằng chỉ có sự tiền giả định này đảm bảo cho người lý giải thâm nhập vào tư duy của tác giả. Schleiermacher vận dụng vòng tuần hoàn thông diễn giữa bộ phận và toàn thể vào tác giả sao cho những tư tưởng cá nhân của anh ta phải được hiểu “như một yếu tố trong ngữ cảnh toàn thể của đời sống một con người” (CP, tr.190). Như ta sẽ thấy, Gadamer xem hành vi tái tạo có tính chất dự đoán này là không thể có được. Schleiermacher cho rằng người lý giải có thể hiểu tác giả hơn tác giả hiểu chính mình, vì trong việc tái cấu tạo tư tưởng của tác giả, người lý giải sẽ nhận thức được những ảnh hưởng mà tác giả đã không nhận ra. Theo Gadamer, điều này cho thấy rằng “Schleiermacher đang vận dụng mỹ học của tài năng thiên bẩm cho thông diễn học phổ quát của ông” (CP, tr.192). Gadamer kiên quyết cho rằng việc hiểu tốt hơn là nên nhằm hiểu đúng đắn về chủ đề đang được thảo luận”.

Advertisements

Read Full Post »

HANS-GEORG GADAMER (1900-2002)

Dịch từ: Handwörterbuch Philosophie, 2003, Wulff D. Rehfus, Vandenhoeck & Ruprecht,Verlage. 111-113.

Ông là triết gia người Đức, sinh 11.2 tại Marburg và mất 13.3 tại Heidelberg. Ông học triết học, ngữ văn Đức, lịch sử và lịch sử nghệ thuật tại Breslau và Marburg (nơi ông cũng học ngữ văn cổ điển từ 1924-1927). Năm 1922, ông đạt học vị tiến sĩ (do Natorp hướng dẫn) với luận án Das Wesen der Lust nach den platonischen Dialogen (Bản chất của sự vui sướng theo các đối thoại Platon). Luận văn nhậm chức giáo sư được ông viết năm 1929 (dưới sự hướng dẫn của Heidegger) có tên là Interpretation zum platonischen Philebos. Gadamer dạy học ở Marburg và Kiel, 1937 trở thành giáo sư dự bị ở Marburg và năm 1939 là giáo sư chính thức ở Leipzig. Từ 1947 đến 1949, ông giữ chức giáo sư ở Frankfurt/M, và từ 1949 đến 1968 ông dạy học ở Heidelberg (với tư cách kế tục Karl Jasper). Sau khi nghỉ hưu, ông nhiều lần nhận lời mời thỉnh giảng ở nước ngoài, đồng thời thực hiện các bài giảng và hoạt động thuyết trình ở trong nước và nước ngoài.

Phạm vi lĩnh vực rộng lớn của Gadamer, đương thời được trình bày trong một tập sách tuyển chọn mười năm (Gesammelte Werke, 1985 – 1995) và trong một tuyển tập bổ sung có tính chất tập hợp, bao gồm các tác phẩm về triết học Hy Lạp, triết học hiện đại, cùng với các tác phẩm về mỹ học và thi pháp học. Trong trung tâm điểm, các công trình của ông đặt định cho sự thành lập một thông diễn học triết học, vốn được ông định danh trong công trình quan trọng của ông xuất bản năm 1960: Wahrheit und Methode.

Với chủ trương của mình, Gadamer tiếp nối nỗ lực đặt cơ sở cho một bản thể học nền tảng thuộc về dự án ban đầu trong học thuyết của Heidegger về “thông diễn học về kiện tính”, dự án được mở đầu trong bài giảng ở Freiburge từ đầu những năm 20, và trong công trình chủ chốt của Heidegger Sein und Zeit từ 1927. Bằng “thông diễn học về kiện tính” cũng như là “thông diễn học về Dasein”, Heidegger vượt qua triết học về việc hiểu trong giai đoạn hậu kỳ của Dilthey, vốn được phát triển trong bối cảnh của một lý thuyết về “các tinh thần khách quan”. Heidegger vận dụng tri thức của Dilthey về việc con người “đã tồn tại bên trong” một thế giới khả niệm – một thế giới là cơ sở và là môi trường cho hoạt động hiểu – vào một trình bày cơ bản của ông về bản thể học của Dasein, nghĩa là trình bày cơ bản về cận-nhân loại học; theo đó, việc hiểu không chỉ được xem như là một phương pháp của khoa học tinh thần, cũng như là một hình thức nhận thức đặc thù, mà hơn nữa, còn là điều kiện và cơ sở cho sự tự nhận thức, thể hiện một kiểu thức tồn tại phổ sinh nguyên sơ tiên khởi của cá nhân. Do vậy, đặt trong một cảnh trạng, việc hiểu là một “hình thức cơ bản của sự tồn tại” của Dasein cá thể, nghĩa là một “phổ sinh”.

(còn tiếp)

Read Full Post »