Feeds:
Bài viết
Bình luận

 

TẠP CHÍ

  1. Hoàng Phong Tuấn, 2003, ‘Giọng điệu trữ tình thơ Hồ Xuân Hương trong ba bài Tự tình’, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHSP TPHCM, số 33, tr 60-63.
  2. Hoàng Phong Tuấn (2004), “Văn học đối thoại với văn hoá”, Văn hoá nghệ thuật (12), tr.39 – 41.
  3. Hoàng Phong Tuấn, 2005, ‘Gía trị văn hóa của tác phẩm văn học’, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHKHXH-NV, TPHCM, số 30, tr 44-50.
  4. Hoàng Phong Tuấn, 2006, ‘Tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong sáng tạo nghệ thuật’, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHSP TP HCM, số 9, trang 82-90.
  5. Hoàng Phong Tuấn, 2009, ‘Khía cạnh tương tác trong khái niệm tầm đón đợi của Hans Robert Jauss’, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHSP TP HCM, số 17 (51), trang 11-24.
  6. Hoàng Phong Tuấn, 2009, ‘Góp phần tìm hiểu sự kế thừa và vận dụng của Hans Robert Jauss về quan niệm lịch sử tác động’, Niên giám bình luận văn học, Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM, trang 7-23.
  7. Hoàng Phong Tuấn, 2012, ‘Một số điểm chính trong lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser’, Niên giám bình luận văn học, Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP HCM, trang ——-
  8. Hoàng Phong Tuấn, 2013, ‘Phân tích tác động thẩm mỹ của văn bản thơ Đèo Ba Dội từ góc độ mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss’, Nghiên cứu văn học, số 1, trang 148-153.
  9. Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Những điểm chính trong hành trình lí thuyết của Hans Robert Jauss”, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHSP TP HCM, số 2, trang 138-143.
  10. Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Ý hệ và diễn giải”, Kỷ yếu Hội thảo 100 năm giáo trình Ngôn ngữ học đại cương của F.Saussure, VUSTA, trang 192-195.
  11. Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Tính đại chúng của sự đọc và huyễn tưởng tinh thần của văn học”, Văn nghệ quân đội, số 10, trang —-
  12. Hoàng Phong Tuấn, 2016, ‘Định chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận’, Nghiên cứu văn học, số 9, trang 16-23.
  13. Hoàng Phong Tuấn, 2017, “Chuyển hướng văn hóa của nghiên cứu tiếp nhận: vấn đề và sự gợi mở”, Nghiên cứu văn học, số 5, trang 50-59.

CHƯƠNG SÁCH

  1. Hoàng Phong Tuấn, 2006, ‘Ý thức luân lí đạo đức trong tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương’, Khoa Ngữ văn: 30 năm nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trang 107-103.
  2. Hoàng Phong Tuấn, 2012, ‘Lý thuyết tiếp nhận văn học đầu thế kỷ XXI: những tiếp cận từ góc độ diễn ngôn’, Tiếp nhận văn học nghệ thuật, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, trang —–
  3. Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Người đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình trên Internet”, Những người thiểu số ở đô thị, tập 2, Nxb Tri thức, Hà Nội, trang 329-368.
  4. Hoàng Phong Tuấn, 2017, “Viết lại kí ức, kiến tạo hòa giải: Nhật kí Đặng Thùy Trâm trên truyền thông đại chúng”, Văn chương nghệ thuật và thiết chế văn hóa, Nxb Thế giới, trang 86-106.

SÁCH DỊCH

  1. Hoàng Phong Tuấn (dịch chung, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính), 2015, Từ điển Hegel, Nxb Tri Thức, Hà Nội.
  2. Hoàng Phong Tuấn (dịch chung, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính), 2013, Từ điển Kant, Nxb Tri thức, Hà Nội.

SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN

  1. Hoàng Phong Tuấn, 2017, Văn học – người đọc – định chế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

  1. Thuyết trình: “Về các khái niệm của Roland Barthes: Thuyết cấu trúc, tác giả, lối viết”, Đại học KHXHNV Tp HCM, 2011.
  2. Thuyết trình: “Chủ thể tính trong bối cảnh đương đại: các góc nhìn triết học, xã hội học, văn học”, Đại học KHXHNV TP HCM, 2016.
  3. Thuyết trình: “Lí thuyết tiếp nhận đương đại”, Đại học Sư phạm TP HCM, 2017.
  4. Chủ trì tiểu ban “The Traveling of Texts and the Areas of Meaning”, hội thảo quốc tế AAS-in-ASIA: Asia in Motion: Geographies and Genealogies, tại New Delhi, Ấn Độ, 2018.
  5. Báo cáo (đồng tác giả): “Sex Representation and Interpretation in Murakami Haruki’s Norwegian Wood: from Novel to Film to Reader’s Responses in Vietnam”, The travelling of Texs and Areas of Meaning, AAS, New Delhi 2018.
  6. Visiting scholar tại University of Oregon, USA (2018).

SÁCH SẮP XUẤT BẢN

  1. Dẫn nhập tiếp nhận văn học
  2. Lí thuyết tiếp nhận đương đại (tuyển dịch)
Advertisements

NƯỚC

(…) Lại tiếng gõ cửa nhè nhẹ, chắc là cô đến. Cô luôn như thế, gõ cửa nhè nhẹ như lần đầu cô đến căn phòng trọ của anh cách đây đã ba năm. Có lẽ anh đã nghĩ đến cô từ khi nghe tiếng gõ cửa như thế. Chúng đơn giản là xoa dịu dây thần kinh của anh luôn chực căng ra như sắp đứt lìa, như cách cô chạm nhẹ vào cuộc đời anh, và để anh ở đó. Và có lẽ như cảm thấy rằng cánh cửa không khóa, anh nghe tiếng đầu ngón tay cô khẽ chạm vào mép cửa, rồi bước chân của cô qua ngạch cửa. Bao giờ cũng vậy, cách cô cởi giày nhẹ nhàng luôn hiện qua từng hình ảnh trong óc anh. Cô chỉ ngồi đó, trong góc phòng nhờ nhờ tối. Ánh sáng buổi chiều phủ lên phần váy và đôi chân của cô một lớp mờ. Những ngón chân mảnh, ngón gần ngón cái thon dài hơn các ngón khác. Có vài lần anh chạm vào đầu ngón chân thon dài ấy và cảm thấy vết đau buốt nơi vỏ não của mình dịu nhẹ đi. Anh như cảm nhận được dòng nước lạnh của con rạch sau cơn mưa. Nước ngập đến quá mang tai, cảm giác rợn nhẹ lan dần từ hai chân lên đến đỉnh xương vai, thấu ra phía sau ót rồi ngấm lên đỉnh đầu, len lỏi vào từng chân tóc. Lan đến đâu những kí ức đau đớn quay cuồng trong anh đông cứng lại, nứt toác, rồi vỡ dần đi. “Sao anh không báo cho em biết?” Anh không trả lời, anh không biết trả lời thế nào. Anh chỉ thấy mình không nên làm phiền cô. Có lần anh nhẹ nhàng nói với cô như thế. Cô chỉ lặng lẽ nhìn xuống và bấu nhẹ đầu ngón chân của mình vào mũi giày. “Cảm ơn em đã đến anh”. Hơi thở ra của anh kéo dài như vô tận và anh thấy mình tan rữa ra sau lời cảm ơn ấy. “Anh vẫn tiếp tục tìm kiếm à?” “Anh không biết nữa. Nhưng anh cũng không còn cách nào khác”. Anh nhìn ra ngoài khoảng trống của trời chiều qua khung cửa khép hờ. Cũng màu xám đen ấy, đã trở đi trở lại trước mắt anh không biết bao nhiêu lần. Lần nào trong số chúng không phải là thực tại? Có lần anh nhìn ra ngoài trời lúc đang trưa, nhưng vẫn thấy chỉ màu xám đen ấy. Một lần khác anh cảm thấy chắc chắn rằng mình đã từng nhìn thấy màu ấy nhiều lần trong quá khứ, nhưng lại không thể nhớ ra lúc nào và với hình ảnh gì. “Em chỉ cảm thấy hơi sợ mà thôi…. Những vết đinh ấy”. Anh cựa mình khẽ xoay người hướng đôi mắt lên nhìn rõ cô hơn. Màu xám đen phủ gần khắp khuôn mặt của cô, chỉ còn một phần của mái tóc và gò má với một cánh mũi là màu hơi nhạt hơn, nhưng anh cũng cảm thấy cái nhìn của cô chầm chậm ngấm vào anh, rồi xuyên qua anh, làm anh trong suốt. Anh bỗng cảm thấy mình thật mong manh. Tất cả những điều này có ý nghĩa gì? Sự tìm kiếm khốn khổ và vô vọng này có ý nghĩa gì? Anh không biết rõ. Nhưng anh cũng không biết mình sẽ thế nào nếu thôi tìm kiếm. Đã nhiều lần anh nghĩ mình nên dừng lại, đó là khi anh nằm một mình trong căn phòng trọ cũ trước đây, lắng nghe tiếng ồn ào từ dưới con hẻm vọng lên. Căn phòng lạnh lẽo và xám đen với những viên gạch bông dơ bẩn và nứt nẻ nối đuôi nhau một cách buồn chán. Anh đã nằm yên như thế từ ngày này sang ngày khác để lắng nghe cơ thể của mình tan ra, ngấm vào từng vết nứt của sàn gạch. Để cảm thấy tất cả sự vô nghĩa khi hồi tưởng về nhiều ngày dài lang thang hết con hẻm này đến con hẻm khác. Nhưng những vết đinh ấy vẫn không thôi len lỏi vào trong cơ thể anh. Chúng xuyên qua thớ gân, làm nứt những khớp xương của anh. Chúng làm anh rạn vỡ và tê liệt. “Nhưng anh nên báo cho em. Đừng như thế nữa”. Thực ra anh cũng không biết chắc rằng mình sẽ lại dời đi đâu (…)

1.Quan niệm của Gramsci về bá quyền và văn hóa

Góc nhìn về văn hóa của Gramsci là sự phát triển quan điểm của Marx về sự nhận thức mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong quyển Những ghi chép trong tù tập 10, Gramsci viết: “Định đề nằm trong Lời nói đầu cho cuốn Góp phần phê phán kinh tế chính trị cho rằng con người ý thức được các xung đột cơ sở hạ tầng ở cấp độ của các ý hệ nên được xem như là một khẳng định về giá trị nhận thức luận chứ không đơn thuần là giá trị tâm lí hay đạo đức” (Gramsci, 2000: 192). Trong Lời nói đầu này, khi nhận định về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, Marx cho rằng xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thể hiện ở cấp độ kiến trúc thượng tầng, trong đó, sự đấu tranh thể hiện ở bình diện sự đấu tranh ý hệ. Ông viết: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Khi nghiên cứu những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng phải phân biệt cuộc đảo lộn vật chất – mà người ta có thể xác nhận được với một sự chính xác của khoa học tự nhiên – trong những điều kiện kinh tế của sản xuất, với những hình thái pháp lí, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học, tóm lại, với những hình thái tư tưởng trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết cuộc xung đột ấy” (Mác và Ăng-ghen, 1981: 638). Tuy nhiên, trong khi Marx cho rằng phải giải thích mâu thuẫn giai cấp bằng cơ sở kinh tế, tức là mâu thuẫn và đấu tranh giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, thì Gramsci cho rằng bình diện của đấu tranh ý hệ (ideology) mới là đầu mối để nhận thức vấn đề mâu thuẫn giai cấp. Không những thế Gramsci còn cho rằng đó mới là phương pháp luận cho nhận thức xã hội và lịch sử. Là bởi vì, đối với ông, chính sự ý thức của con người về xung đột mới là hiện thực của ý hệ. Ý hệ không sinh ra và tồn tại như cái gì tự trị và tự tại, nó sinh ra trong ảo tượng (illusion) của con người về sự quy định (determination) trong động hướng (moment) vượt bỏ cái khác đối lập với mình, qua đó tìm kiếm vị trí và ý nghĩa của bản thân mình trong đời sống hiện thực và trong lịch sử, một ý niệm ảnh hưởng Hegel trong quan niệm về làm chủ và làm nô. Nhưng khác với Marx trong sự ảnh hưởng Hegel, Gramsci đưa ý niệm về mâu thuẫn và đấu tranh về phạm vi ý thức con người, thay vì tìm kiếm nguồn gốc của nó trong cơ sở kinh tế chính trị.

Không phải ngẫu nhiên mà phải đến quyển viết tay số 10, tức khoảng năm 1932-1935, Gramsci mới khái quát ý niệm này thành vấn đề phương pháp luận. Chantal Mouffee, lí thuyết gia chính trị và là chuyên gia hàng đầu về Gramsci hiện nay, cho rằng bước chuyển trong quan niệm về bá quyền của Gramsci bắt đầu từ quyển viết tay số 4, tức năm 1930-1932, khi ông phân tích về các quan hệ quyền lực trong xã hội (Mouffee, 1979: 180-181). Trong cái nhìn của Gramsci, vấn đề lãnh đạo cách mạng xã hội về mặt tư tưởng không chỉ là vấn đề chỉ của giai đoạn cách mạng mà thôi, nó thực sự là bản chất của xã hội con người, và trong vấn đề ấy, bá quyền hiện lên như là cái gì tất yếu, và quan hệ quyền lực chỉ là hình thức của nó mà thôi. Như thế là Gramsci đã phát triển ý niệm về mâu thuẫn trong quan niệm của Hegel không phải như là một vấn đề của tiến trình lịch sử hiện thực, qua đó, xã hội phải vượt bỏ mâu thuẫn của chính nó để vươn lên hình thức cao hơn, mà như là một vấn đề của sự tạo thành xã hội. Đây không phải là vấn đề xã hội có thể được thay đổi để tiến bộ hơn bằng cuộc cách mạng về giải quyết mâu thuẫn của cơ sở hạ tầng kinh tế, mà là một điều gì phổ quát hơn, như là một cấu trúc hiện thực của xã hội ở cấp độ ý hệ. Và vì thế, đối với ông, vấn đề mâu thuẫn và đấu tranh ở cấp độ ý hệ chính là phương pháp luận cho nhận thức xã hội.

Chính ở chỗ này mà Gramsci chuyển vị vấn đề sang sự thực hành bá quyền. Bởi vì sự ý thức của con người về sự xung đột của ý hệ và đấu tranh chống lại nó chỉ hiện ra rõ nhất trong hệ thống những sự thực hành xã hội, tức là vấn đề của chính trị học. Đây là điểm khác thứ hai của Gramsci về mặt phương pháp luận so với tiếp cận của Marx. Trái với Marx, người xem sự phân tích kinh tế chính trị học mới là phương pháp luận cho nhận thức xã hội tư bản, Gramsci di chuyển nó sang vấn đề lí thuyết và thực hành chính trị. Điều này không có nghĩa là ông không xem trọng vấn đề kinh tế, như một số diễn giải hiện nay chỉ chú trọng phân tích lời phê phán của ông về góc nhìn duy kinh tế (Steve Jones 2006), mà điều này có nghĩa là đối với ông, các quan hệ quyền lực mà nhóm lãnh đạo ý thực được và thực hiện nó như là công cụ đấu tranh ý hệ mới là điều quan trọng. Đó là lí do mà ngay sau câu trích dẫn về ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức về đấu tranh trong bình diện các ý hệ, ông viện dẫn Lenin: “Do đó mà nguyên tắc lí thuyết-thực hành về bá quyền cũng có ý nghĩa nhận thức luận, và chính ở đây mà ta cần tìm hiểu sự đóng góp lí thuyết vĩ đại nhất của Ilyich [Lenin] cho triết học thực hành. Về mặt này ta có thể nói rằng Ilyich đã thúc đẩy triết học xét như là triết học trong chừng mực ông ta thúc đẩy học thuyết chính trị và thực hành chính trị” (Gramsci, 2000: 192). Steve Jones giải thích rằng Gramsci dẫn chiếu đến Lenin là vì Lenin xem trọng vai trò của đấu tranh tư tưởng và văn hóa, nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân như là một giai cấp lãnh đạo trong việc kiểm soát tư tưởng và định chế, và cuối cùng, cuộc đấu tranh cách mạng là cuộc đấu tranh của toàn bộ các giai cấp và tầng lớp bị áp bức, không chỉ là cuộc đấu tranh của người lao động về mặt kinh tế (Steve Jones, 2006: 43). Tuy nhiên, sự dẫn chiếu đến Lenin không phải có nghĩa là Gramsci lấy Lenin như là một hình mẫu của bá quyền, mà có nghĩa là trường hợp Lenin sẽ cho thấy nhận thức hiện thực của sự thực hành bá quyền bằng hình thức xử lí quan hệ quyền lực ở cấp độ chính trị chính là phương pháp luận để nhận diện thực tại xã hội.

Chính do đó mà Gramsci đã nâng tính phổ quát của vấn đề bá quyền: bá quyền sinh ra từ nhu cầu tồn tại và khẳng định vị trí của nhóm xã hội. Cũng trong đoạn trên, Gramsci viết, “Sự hiện thực hóa công cụ bá quyền, trong chừng mực nó tạo ra lĩnh vực ý hệ mới, quy định sự cải tạo ý thức và sự cải tạo các phương pháp của tri thức: nó là một sự kiện của tri thức, một sự kiện có tính triết học” (Gramsci, 2000, 192). Bá quyền hiểu theo nghĩa này không phải là sự trấn áp bạo lực thể xác mà là sự phổ biến các ý hệ mới của nhóm xã hội, thay đổi nhận thức và phương pháp nhận thức của xã hội. Vì thế nó là sự kiện của nhận thức và tri thức, sự kiện có tính triết học nhiều hơn là có tính quân sự hay bạo lực. Ví dụ như các nhóm thiểu số người đồng tính, nhóm đấu tranh cho nữ quyền, để khẳng định quyền và nhu cầu cũng như cất lên tiếng nói cho quyền và nhu cầu đó, các nhóm này tạo ra các diễn ngôn diễn giải lại nhận thức của xã hội về họ, nhằm chống lại với những người có quan niệm kì thị, nêu ra những đề nghị tác động đến các định chế bá quyền trực tiếp là luật pháp và sự quản lí nhà nước. Đó chính là hình thức khởi nguyên của sự phổ biến ý hệ và nhận thức mới, một hình thức bá quyền về ý nghĩa và diễn giải ý nghĩa.

Nhìn chung, có mấy khía cạnh về bá quyền trong quan niệm của Gramsci. Thứ nhất, bá quyền không phải là hành động mà là mối quan hệ; không phải là hành động áp bức đơn thuần của người này với người kia, nhóm này với nhóm kia, mà là quan hệ giữa áp bức và tuân chịu về mặt ý hệ. Một nhóm xã hội muốn chi phối và phổ biến, nó thực hiện những đặt định về ý hệ bằng nhiều hình thức khác nhau, đòi hỏi sự tuân chịu của các thành viên. Nó giáo dục và tuyên truyền văn hóa, phổ biến cái nhìn về thế giới của nó, định hình nên các hệ giá trị và các chiến lược cấp nghĩa cho sự vật thông qua các định chế xã hội. Như vậy, các hiện tượng văn hóa trong xã hội chính là những sự phổ biến ý hệ của các nhóm xã hội, hay là sự thực hành bá quyền của chúng. Thứ hai, thực hành bá quyền có tính chất tiến trình. Ông gọi đó là cuộc chiến về vị thế (war of position), trong đó sử dụng công cụ bá quyền chính là sự sáng tạo, phổ biến và đặt định quan niệm về thế giới, cách giải thích thế giới, là quyền cấp nghĩa và giá trị cho sự vật. Cuối cùng, bá quyền là sự chuyển động mềm dẻo và phức tạp, nó không đơn thuần là sự bắt buộc một chiều và nhất thành bất biến. Nó là tiến trình thỏa thuận và thương lượng, ta chấp nhận điều gì đó để nhận được điều gì đó, được thuyết phục để tin vào điều gì đó để làm điều gì đó đáp ứng sự mong mỏi của ta. Các nhóm xã hội thực hiện bá quyền bằng cách phổ biến, thuyết phục, thông qua thỏa thuận, để nhận được sự ưng chịu/ tuân chịu các giá trị nào đó, góc nhìn và quan niệm nào đó. Đóng góp của Gramsci ở đây là sự nhận thức về kiến trúc thượng tầng của xã hội được thông qua tổng thể thực hành bá quyền hay là tổng thể các quan hệ quyền lực của các nhóm xã hội. Góc nhìn này của ông tạo nên cái gọi là trào lưu “Trở về với Gramsci” (Turn to Gramsci) trong nghiên cứu văn hóa Anh-Mỹ.

(Còn tiếp)

Một triết gia đã nói rằng, nếu tôi đọc nhiều như họ thì tôi cũng đã biết ít như họ. Nghịch lí ở đây là nếu ta biết càng nhiều bình diện, thì ta sẽ biết càng ít về tính hệ thống của từng bình diện. Cũng phải thôi, đời có mấy khi ta có được nhiều thứ cùng một lúc.

Mấu chốt ở đây là việc chọn đọc. Theo mình, để chọn đọc, ta nên biết mình cần đọc sách gì và biết phân loại sách.

Biết mình cần gì là một câu hỏi vĩ đại. Với mình, đọc là để tìm câu trả lời cho mình, không cho ai khác và không theo ai khác. Đa phần các câu hỏi hệ trọng trong đời liên quan đến những ám ảnh cá nhân của ta mà thôi. Vì thế, mình không bàng hoàng báo hức vội vàng tìm đọc những cuốn sách mà giới này giới nọ hay nói đến, người này người nọ vừa nhắc đến. Mình cần đọc sách gì, hiểu theo nghĩa như thế, về cơ bản là cho một mục đích lâu dài. Từ mục đích đó, mình dần thiết lập một tấm bản đồ các vấn đề chủ chốt, các khái niệm chủ chốt. Rồi từ từ như người leo núi, mình vừa đi vừa ngoái nhìn lại phía sau, nghĩa là đọc lại cuốn sách đã đọc, để thay tác giả trả lời các chất vấn của người phê phán ông ta.

Thực ra, đọc ít theo quan niệm như trên của mình là một tham vọng, tham vọng đi tìm cái cốt lõi của sự hình thành lịch sử các lí thuyết (sự hình thành lịch sử, chứ không phải lịch sử định sẵn của sự hình thành). Vì thế, việc phân loại sách để đọc có tầm quan trọng nhất. Có nhiều loại sách khác nhau, và có nhiều cách đọc khác nhau đối với chúng. Phân loại sách để biết ta cần đổ công sức suy nghĩ cho loại sách nào, còn sách nào thì đọc chỉ để biết, bổ trợ cho việc suy nghĩ loại sách trên mà thôi.

Đọc để nghĩ đương nhiên là dành cho các sách kinh điển, các “key text”, các sách được viết bởi những lí thuyết gia chủ chốt, khai sinh ra một học thuyết, tạo một sự chuyển hướng nhận thức. Nhưng các sách này cũng có nhiều loại, loại khởi nguồn, loại diễn giải, và loại tổng kết. Nhất là các lí thuyết gia hiện đại, vốn là những người bị hệ thống các định chế đương đại đòi hỏi họ phải viết rất nhiều, thì việc chọn sách nào của họ để đọc là một điều không đơn giản.

Về cơ bản, các công trình khởi nguồn là các công trình mà lí thuyết gia dựa trên một trường hợp để chống lại hệ thống các quan điểm trước đó. Loại diễn giải vận dụng là loại mở rộng, giải thích, ứng dụng sang thứ khác, đa phần là do chính họ viết sau khi quan niệm mới của họ được chấp nhận và gây tranh luận. Cuối cùng là loại hệ thống hoá lại lí thuyết, khớp nối chúng với các lí thuyết hiện hành, làm cho chúng rõ hơn. Nhìn chung, cả ba loại này hoàn tất câu chuyện về một lí thuyết do lí thuyết gia để lại cho đời sau.

Ngoài các sách do lí thuyết gia chủ chốt viết ra, còn các sách nghiên cứu ứng dụng, giới thiệu dẫn nhập, trình bày lịch sử do những nhà nghiên cứu khác viết ra. Những sách này ta cũng cần phải biết đọc và sử dụng chúng, nếu không, sẽ như Alice lạc vào sứ sở thần tiên, thấy cái gì cũng kì thú nhưng không biết mỗi cái trong số chúng sẽ có thể làm gì cô bé.

Đọc ít

Thực ra mình đọc rất ít sách. Cũng do một dạo mê bonsai. Suốt ngày chỉ xem cây, vẽ cây. Nhưng cái chính là quan niệm về đọc sách của mình. Theo mình, đọc cốt không phải để biết, mà để suy nghĩ. Đọc để biết thì chủ yếu là xem người ta nói gì, đọc để suy nghĩ thì ngẫm về điều người ta nghĩ. Muốn ngẫm về sự nghĩ như vậy, thì một là phải đọc chậm, thật chậm, và đọc đi đọc lại. Hai là đọc có hệ thống.

Đọc chậm để có thời gian tìm hiểu kiến thức nền mà tác giả sử dụng làm chất liệu suy nghĩ và để dõi theo mạch lập luận của tác giả. Kiến thức nền là điều rất quan trọng. Như lí thuyết văn học chẳng hạn, có rất nhiều khái niêm triết học phương Tây mà mình không biết, rồi mỗi khái niệm như thế được các triết gia sử dụng khác nhau. Đọc Jauss có câu mình phải dừng lại mấy tháng để đọc sách của các triết gia và tra đủ các tài liệu đi hỏi thầy hỏi bạn rồi mới đọc tiếp.

Mạch lập luận là điều quan trọng không kém. Theo mình, một quan điểm lí thuyết là một toà nhà có nhiều tầng, được thiết kế với các viên gạch khái niệm và các trụ cột lập luận. Việc đọc chính là dõi theo các điểm khớp nối và suy ngẫm về tổng thể toà nhà này. Đọc như thế sẽ không phải một lần là xong, mà là đọc đi đọc lại.

Nhưng điểm chính trong cách đọc của mình là phương pháp đọc có hệ thống và lũy tiến các hệ thống. Có hệ thống nghĩa là hình dung các lí thuyết theo một tấm bản đồ. Ví dụ, đọc mỹ học Kant trong cuốn phê phán thứ ba chẳng hạn, thì Kant chống ai, và có những người nào chống Kant, sinh ra các đường hướng khác nhau thế nào. Việc đọc như thế cũng là có lũy tiến. Nghĩa là hệ thống khái niệm sẽ tích lũy và bổ trợ cho nhau trong lĩnh vực khác. Ví dụ Gramsci vượt Marx về mặt quan niệm văn hoá theo cách khác với Lukács, và Hall phát triển Gramsci về văn hoá theo cách khác với nhánh khác; nhưng Gramsci cũng sinh ra quan niệm về chính trị học được Mouffe phát triển theo cách khác với Bennett, vốn chủ yếu phát triển theo nhánh của Althusser. Và quan niệm chính trị học này sinh ra một quan niệm khác về văn hoá. Tức là đọc một triết gia chủ chốt thì có được bức tranh hệ thống của nhiều lĩnh vực. Theo mình, đây chính là mấu chốt của tư duy liên ngành.

Phương pháp đọc này làm mình rất đỡ mất sức khi đọc các nghiên cứu. Ví dụ, khi đọc một bài tạp chí nghiên cứu mình xem khái niệm công cụ nằm trong khung lí thuyết nào, xem họ xử lí dữ liệu nào và có chất vấn gì mới không. Điều này cũng tránh cho mình mất quá nhiều thời gian vào các bài nghiên cứu vận dụng, trừ phi cần tìm hiểu lịch sử vấn đề cho một nghiên cứu của mình. Đọc nhiều các bài nghiên cứu vận dụng cũng như ăn hết các trái táo để biết táo là thế nào, trong khi thực ra chỉ cần nhâm nhi một trái táo để suy nghĩ xem có thể làm gì với nó, là cách để hiểu được các khả thể của nó. Mà xét cho cùng, đời có mấy loại táo ngon đâu, nói chi đến từng trái táo.

 

Quyển sách Dẫn nhập tiếp nhận văn học này trình bày các khái niệm, vấn đề và phạm vi của tiếp nhận văn học. Khác với các quyển sách đã có, vốn trình bày tiếp nhận văn học trong góc nhìn hàn lâm về lí thuyết phê bình, hay lịch sử và các vấn đề của lí thuyết tiếp nhận (Robert Holub, 1984; Elizabeth Freund, 1987; Richard Beach, 1993; Todd F. Davis and Kenneth Womack, 2002), quyển sách này nỗ lực trình bày tiếp nhận văn học trong hình thức nhập môn, hướng đến tính thực tiễn và tính đương đại, nhằm phục vụ nhu cầu của sinh viên và người làm trong các lĩnh vực liên quan đến văn hóa.

Đối tượng của quyển sách trước hết là sinh viên của ngành ngữ văn, sư phạm, truyền thông đại chúng, văn hóa học, và các ngành liên quan. Quyển sách này sẽ giúp họ làm quen với lĩnh vực tiếp nhận văn học, giúp họ nắm bắt một số đặc điểm, các khái niệm cơ bản của tiếp nhận văn học. Quyển sách cũng giúp họ hình dung được tiếp nhận văn học trong nhà trường, trong phê bình văn học, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong bối cảnh xã hội, văn hóa.

Quyển sách cũng hướng đến xây dựng nền tảng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành văn học và nghiên cứu văn hóa, giúp họ có cái nhìn thực tiễn về nghiên cứu tiếp nhận văn học. Quyển sách cũng bước đầu giới thiệu các khuynh hướng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các khuynh hướng lí thuyết, các trích đoạn lí thuyết quan trọng.

Quyển sách cũng có ích cho người làm việc trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh văn hóa, xuất bản sách, báo chí và truyền thông đại chúng nói chung. Quyển sách đem lại những kiến thức để phân tích nhu cầu và thị hiếu của công chúng đọc, các tiêu chuẩn đánh giá sự hấp dẫn của tác phẩm đối với công chúng, những gợi ý cho việc định hướng nhu cầu đọc và tiếp nhận văn học của công chúng.

Tính thực tiễn của quyển sách thể hiện qua việc nội dung được liên hệ trực tiếp với trường hợp của thực tiễn văn hóa, văn học và giáo dục, thông qua ví dụ, thực hành thảo luận. Tính đương đại của quyển sách thể hiện qua việc kết nối vấn đề của tiếp nhận với các câu hỏi về giới, tự sự về quốc gia dân tộc, kí ức, thực hành và sản xuất văn hóa đại chúng… Tuy vậy, quyển sách cũng nỗ lực bám sát các chuyển hướng lí thuyết và phương pháp nghiên cứu tiếp nhận, những khó khăn mà lí thuyết gia tiếp nhận nỗ lực giải quyết và cả những vấn đề còn bỏ ngỏ, nhằm phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu nâng cao.

Do yêu cầu đó, quyển sách chọn lựa tầm nhìn văn hóa/ nghiên cứu văn hóa, vốn đang được chú ý trong thời gian gần đây (James L. Machor và Philip Goldstein, 2001), thay vì chỉ bó hẹp trong tầm nhìn nghiên cứu và phê bình văn học. Tầm nhìn nghiên cứu văn hóa cho phép mở rộng phạm vi của vấn đề tiếp nhận, đồng thời tiệm cận được với thực tiễn của tiếp nhận vô cùng đa dạng trong bối cảnh xã hội thông tin và toàn cầu hóa hiện nay.

Định hướng như trên tất yếu sẽ đặt việc trình bày tiếp nhận văn học trong hướng tiếp cận liên ngành của viễn tượng nhân học, một định hướng đã được chú ý đến trong thời gian gần đây (Wolfgang Iser, 1992; Janice Radway, 1988, 2008), trong đó các góc nhìn nghiên cứu văn học, giáo dục học, tâm lí học, xã hội học, truyền thông đại chúng, sự sản xuất văn hóa được soi chiếu lẫn nhau trong hiện tượng tiếp nhận. Định hướng trên có ích cho việc triển khai một cuốn dẫn nhập, vì nó nhằm mục đích làm cho quyển sách hướng đến phục vụ cho nhu cầu thực tiễn của đa số người đọc, giúp họ có thể sử dụng kiến thức một cách linh hoạt hơn trong một xã hội đa văn hóa và không ngừng biến đổi như hiện nay.

Cấu trúc của quyển sách vì vậy ưu tiên cho cái nhìn tổng quan (chương 1), đi vào thực tiễn (chương 2, 3, 4, 5), rồi cuối cùng mới là khái lược lí thuyết và phương pháp nghiên cứu (chương 6, 7).

Quyển sách có các thành phần nội dung chính:

  • Khái niệm và kiến thức cơ bản định hình cấu trúc chung của quyển sách
  • Kiến thức mở rộng (trong khung) và nâng cao (in nghiêng) đan xen giữa và cuối các nội dung cơ bản
  • Các trường hợp thực tiễn được phân bổ trong nội dung cơ bản và phần thảo luận- phân tích dành cho người học
  • Phụ lục trích đoạn văn bản lí thuyết (tiếng Anh), giải thích khái niệm lí thuyết

“….

Tiếp nhận văn học là gì?

Từ ngữ “tiếp nhận” (Chữ Latin là receptio), trong nghĩa là sự diễn giải ý nghĩa ngôn từ, xuất hiện trong ngữ cảnh giai đoạn đầu thần học thời trung cổ Latin. Theo đó, những gì được tiếp nhận chỉ có thể được tiếp nhận trong góc nhìn của người tiếp nhận (Quidquid recipitur ad modum recipientis recipitur). Quan niệm này thể hiện rằng con người là hữu hạn, nên sự diễn giải của họ về Chúa thông qua Kinh thánh xuất phát từ sự hữu hạn của họ và vì thế, không thể hoàn tất. Nhưng cũng trong ngữ cảnh này, vào thế kỉ thứ 6, nảy sinh quan niệm về một tiến trình diễn giải có thể được hoàn tất thông qua sự chuyển biến trong quá trình các người đọc tương tác với Kinh thánh: Kinh thánh giàu có lên đối với tất cả người đọc nó (Scriptura sacra… aliquo modo cum legentibus crescit) (Jauss, 1990). Hai mặt của khái niệm này đã gợi lên những khía cạnh quan trọng của tiếp nhận văn học: tiếp nhận là mang tính cá nhân, ý nghĩa của tác phẩm tùy thuộc vào người tiếp nhận, và sự tiếp nhận là có tính tiến trình, người đọc làm giàu có ý nghĩa cho văn bản và qua đó làm giàu có chính mình.

Thập niên 1970, với sự ra đời của trường phái Constance, khái niệm này được phát triển theo hướng làm rõ bản chất của hoạt động thẩm mỹ ở khía cạnh người đọc mặc nhiên (the implicit reader), nghĩa là cái cấu trúc của văn bản mời gọi sự diễn giải, và người đọc lịch sử (the historical reader), nghĩa là tiến trình hiện thực hóa ý nghĩa, qua đó chân trời chờ đợi của người đọc có thể chuyển đổi thông qua việc diễn giải ý nghĩa văn bản (Jauss, 1990).

Ở một phía khác, các nước Anh-Mỹ, một mặt, có nguồn gốc sâu xa từ sự ảnh hưởng thần học trong triết học Hegel được tiếp thu ở đây, tiếp nhận văn học được miêu tả như sự tương tạo (transaction) giữa chủ thể và đối tượng, người đọc trưởng thành trong quan hệ với văn bản, và văn bản giàu có thêm ý nghĩa trong quan hệ với người đọc (Louise Rosenblatt, 1938). Mặt khác, từ Richards tiếp nhận văn học được miêu tả ở góc độ sự tác động của văn bản đối với người đọc, và sự hồi ứng (response) của người đọc đối với tác động này (Elizabeth Freud, 1987)”….