Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘ĐỌC VĂN’ Category

LÁ DIÊU BÔNG –

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
Chị bảo
Đứa nào tìm được lá Diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng

Hai ngày Em tìm thấy Lá
Chị chau mày
Đâu phải lá Diêu bông

 

Mùa đông sau Em tìm thấy Lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông

 

Ngày cưới chị
Em tìm thấy Lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim

 

Chị ba con
Em tìm thấy Lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn

 

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
…ới diêu bông…!

 

“Trong viên ngọc kết tinh của muôn vàn nỗi niềm, cảnh sắc, hương vị, âm thanh, tiết tấu, của cuộc sống vừa là xa xưa, vừa là đương đại, lúc huyền ảo, lúc hiện thực, như mê mà tỉnh, như ngủ mà thức, hư hư thực thực ấy, thì hình ảnh mẹ tôi bàng bạc bao phủ cả tập thơ, rồi đến cậu bé con cầm chiếc lá Diêu bông trong tay đi xuyên thời gian, xuyên suốt vùng quê đa tình diễm ảo, và bên cạnh cậu bé con ấy là một người con gái quê cũng đa tình diễm ảo, như cánh mây trắng mỏng cứ vần vụ, như chạy như bay, lại như đậu tà tà trên lá cỏ, trên cành hoa, lúc cao thì cao vút không ai níu được vạt áo, lúc thấp thì lại rành rành trước mặt như một cành cây, một chiếc lá bình thường”. (Vĩ thanh, Hoàng Cầm thơ, Nxb HNV)

 

 

Văn bản văn học biểu lộ và đồng thời giải tỏa một cách gián tiếp các xung động tâm lý trong vô thức. Do phải né tránh sự kiểm soát của ý thức đối với những ham muốn không được thỏa mãn, hình ảnh chủ thể và người khác, thường là những người thân trong gia đình, bị hoán đổi và che giấu vị trí và quan hệ trong hiện thực. Từ góc độ này, văn bản là thế giới huyễn tưởng, trình hiện sự xung đột giữa bản ngã với chính nó, giữa ham muốn và đè nén. Bài thơ Lá Diêu Bông cho thấy khát khao và tuyệt vọng trong tìm kiếm bản ngã và tình yêu đích thực.

 

Theo lời Hoàng Cầm, cha ông là con nhà nho nghèo bất đắc chí, còn mẹ là người mê hát, nên cha ông không yêu thương vợ mình. Cha ông tìm kiếm lí tưởng của đời mình nhưng không thành, và luôn vắng nhà. Mẹ ông sinh ra ông trong căn nhà trống, không có chồng ở bên, và suốt đời Hoàng Cầm băn khoăn về việc mình có phải là con của cha mẹ hay không. Theo lời kể Hoàng Cầm, bi kịch tình yêu của cha mẹ đã trở thành nỗi ám ảnh tuổi thơ. Ông cho rằng mình sinh ra không từ một tình yêu đích thực. Trong lời của ông, ông “xổ ra ở cõi đời này”, trong “ngôi nhà tre rất trống vắng”. Vì thế, ông tự cảm thấy mình tồn tại như một hệ quả bất đắc dĩ ở cõi đời này (lưu ý chữ “xổ”: tháo ra, vọt ra, không được chờ đợi). (Xem Hoàng Cầm, 2011, “Vĩ thanh”, Hoàng Cầm thơ, Nxb Hội nhà văn)

Đối chiếu với những lời kể của ông, ta có thể thấy cấu trúc hình ảnh của bài thơ (khung 1) đã che giấu những ham muốn vô thức và chuyển vị mối quan hệ gia đình (khung 2, 3):

 

Khung 1:

 

Chị                                 em

Khung 2:

Tình yêu

 

Cha                                mẹ

Khung 3:

Bản ngã

 

Mẹ                                 cha

 

Phân tích sơ bộ:

 

Hình ảnh chiếc lá là nỗi khát khao không được thỏa mãn về một tình yêu đích thực, là sự tái lặp nỗi đau bi kịch của tình yêu cha mẹ và là sự vô vọng của hành trình đi tìm bản ngã đích thực. Hành trình đi tìm chiếc lá là hành trình trở về giải đáp câu hỏi về bản ngã (tôi là ai?) của ông, cũng là giải đáp câu hỏi về bi kịch gia đình. Nhưng mỗi câu trả lời, mỗi chiếc lá tìm được, càng cho thấy sự không đích thực của bản ngã cũng như sự không đích thực của mối quan hệ gia đình. Hoàng Cầm luôn trở về quá khứ để kiếm tìm điều ông mong muốn và hi vọng, nhưng ông không bao giờ về được, mà luôn cảm thấy bị kẹt lại trong không gian giữa quá khứ và hiện tại, như cậu bé suốt đời đi tìm chiếc lá Diêu Bông.

Lời ông tự diễn giải về bài thơ thể hiện sự tuyệt vọng của người không thể đến được với điều đích thực. Ngôn từ cho thấy tính không chắc chắn, không rõ ràng trong cách ông viết về quá khứ: “diễm ảo”, “vừa là… vừa là”, “lúc… thì, lúc … thì”…. Lời diễn giải chính là huyễn tưởng đối ứng với bài thơ, ở đó ông trong vai trò người đọc khi đọc bài thơ của mình.

Trong bài thơ, qua hành trình đi tìm tình yêu đích thực, nhân vật trữ tình em đồng nhất với người mẹ cô đơn suốt đời mong mỏi tình yêu từ người cha luôn xa cách, hờ hững, lạnh lẽo. Trong hành trình đi tìm bản ngã, nhân vật trữ tình em đồng nhất mình với người cha lang thang đi tìm giá trị đích thực cho cuộc đời mình, nên không đến được với ý nghĩa đích thực của cuộc đời là tình yêu đối với người mẹ.

Nhân vật người chị vừa là người mẹ đầy ý nghĩa đối với người cha, nhưng người cha không hề đến được vì mặc cảm định kiến văn hóa, vừa là người cha xa lạ với người mẹ cô đơn. Nhân vật trữ tình em vừa là người cha không đến được với ý nghĩa đích thực của cuộc đời ngay bên mình, vừa là người mẹ luôn mong chờ tình yêu đích thực. Chiếc lá là huyễn tưởng về bản ngã đích thực mà người em cũng như người cha không bao giờ thỏa mãn được, cũng là huyễn tưởng một tình yêu đích thực mà người em cũng như người mẹ suốt đời không thể có.

Advertisements

Read Full Post »

index

 

Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…

Trong tiểu thuyết Cảm tình viên (The Sympathizer), Nguyễn Thanh Việt đã để cho nhân vật của mình cùng những người bạn lắng nghe và xúc động trước câu hát trên tại buổi gặp gỡ trước khi họ bước chân ra phi trường Tân Sơn Nhất vào ngày 30 tháng 4. Đó là câu hát nói lên được mong muốn trở về ngay cả khi chưa thực sự ra đi. Tôi không biết chính xác về những chuyến hồi hương thực tế của Nguyễn Thanh Việt, nhưng tôi luôn nhận ra những cuộc hồi hương trong tâm tưởng như thế ở các tác phẩm của anh.

Khi một người li hương nghĩ mình là người tị nạn, là kẻ lạ ở một xứ xa, một người Việt trên đất Mỹ thì chiều hướng hồi hương luôn tồn tại như là nguồn gốc cho câu hỏi về bản sắc. Đó là cuộc hồi hương qua những câu chuyện ma của người mẹ Việt trên đất Mỹ, những câu chuyện luôn mở đầu bằng “để tao kể mày nghe…” (“Những người đàn bà mắt đen”, tập truyện ngắn Người tị nạn). Thế giới của người chết, qua những câu chuyện ma ở Việt Nam, không phải đã mất, mà luôn “bên cạnh thế giới của chúng ta”, qua đó, nhân vật trong truyện hiểu hơn về chính mình trong thế giới thực của họ, đất Mỹ mà họ đang sống. Đó cũng là sự hồi tưởng của Liêm về mảnh đất Long Xuyên, mảnh đất mà cậu đã rời đi để lên Sài Gòn tìm đường sống, và lại rời tất cả một lần nữa để qua Mỹ tìm con đường sống khác (“Kẻ thứ ba”, Người tị nạn). Cậu đã không muốn đọc lá thư từ người cha gởi từ mảnh đất ấy, vì tưởng rằng nó chỉ có những lời khuyên và nhu cầu; nhưng khi đọc xong, cậu nhìn mình trong gương và tự hỏi “rồi, sao cậu không nhận ra mình?”. Nỗi băn khoăn về bản sắc của chính mình khi ta ý thức mình đang dần trở thành kẻ khác đào sâu vào những rạn nứt trong bản ngã của ta. Chiều hướng hồi hương, như thế, vừa mở rộng các giới hạn của bản ngã vừa làm tan vỡ nó, như lời một nhân vật trong truyện ngắn “Một vụ ghép tạng”: “Vậy chuyện đó biến tôi thành cái gì? Người Hoa hay người Việt? Cả hai? Hay không phải người nào cả?”

Vì chiều hướng hồi hương định hình cho những câu hỏi hiện sinh “Chúng ta từ đâu đến? Chúng ta là ai? Chúng ta sẽ đi về đâu” (tên một họa phẩm nổi tiếng của Paul Gauguin) nên nó cũng là điều gì đó luôn tồn tại, vượt qua khỏi ranh giới của đạo đức, ý hệ và chủng tộc. Nó luôn có ở đó, dù chúng ta có cố tình che giấu hay lãng quên. Trong đoạn cuối cuộc đời, khi chứng quên dần dần nuốt lấy nhận thức về đời sống thực của ông giáo sư (“I’d love you want me”, Người tị nạn), thì kí ức về người đàn bà tên Yến ở Đà Lạt năm xưa lại trở thành cõi thực trong nhận thức của ông. Ông đã gọi vợ mình bằng tên của người tình trong quá khứ, bà đã vô cùng tức giận và đau đớn, nhưng bà cuối cùng cũng nhận mình là Yến, vì vượt lên trên tất cả, xét cho cùng, sống tận cùng với hiện tại nghĩa là hòa giải với tổn thương từ quá khứ. Chúng ta là ai? Chúng ta chính là điều mà chúng ta đã sống với.

Tôi ấn tượng với cách tác giả biểu đạt hình ảnh Việt Nam trong truyện ngắn “Người Mỹ” (Người tị nạn). Hình ảnh Việt Nam trong kí ức của Carver được nhìn từ trên cao trong buồng lái của chiếc B52, trong khi Việt Nam trong đời sống của Claire, con gái ông, là những cánh đồng đầy bom đạn mà cô và người bạn Mỹ của mình hằng ngày đối diện với cái chết để gỡ đi. Cái này là đối ảnh của cái kia, và chúng giúp soi tỏ lẫn nhau, và điều quan trọng là chúng đặt nhân vật trong thế đối diện với kí ức của mình. Cuối tác phẩm Carver đã khóc, dù người lính kiêu hãnh và phần nào độc đoán trong ông không thừa nhận điều đó. Có lẽ, hơn tất cả, giọt nước mắt mới là hiện thực về Việt Nam trong ông lúc này.

Tôi đã nhiều lần đọc tên người Việt không dấu trong các văn bản viết bằng tiếng Anh, nhưng không hiểu sao, chỉ khi tiếp xúc với truyện ngắn của Nguyễn Thanh Việt, sự mất bản sắc trong biểu đạt về cái tên bằng ngôn ngữ khác mới hiện lên trong cảm nhận của tôi. Đó là qua cách đọc của nhân vật Parrish Coyne (Kẻ thứ ba, Người tị nạn), Liêm biến thành “Li-am”, và trên tấm bảng ông cầm, nó biến thành “LIEM”. Nhân vật này đã hỏi lại hai lần “Li-am, phải vậy không?”. “Li-am” là chuỗi phát âm na ná âm thanh chỉ tên một người Mỹ, nó xé rời âm tiết “liêm” thành hai mảnh. Nó làm cho cái tên trở thành xa lạ. Âm thanh của cái tên không còn là nó nữa khi nó chuyển sang không gian ngôn ngữ khác, dù nó vẫn gọi tên con người thực đó mà thôi. Ngay giây phút ấy, nhân vật đã không còn là chính mình trong cảm nhận về mình xưa nay qua cách gọi tên của người bản xứ. Câu hỏi tôi là ai, vì thế, gắn bó sâu sắc với câu hỏi tôi từ đâu đến và tôi sẽ đi về đâu.

Khi đọc các tác phẩm và các công trình của Nguyễn Thanh Việt, đôi lúc tôi dừng lại và hỏi, Việt Nam đang là gì trong anh; nhưng cũng hầu như ngay lập tức, tôi đối diện với câu hỏi khác, Việt Nam đã là gì trong chúng ta, trong tôi. Đúng vậy, sự hồi hương không phải là hành trình của riêng ai, nó là hành trình của mỗi chúng ta, là cách ta nhìn quá khứ để nhận thức hiện tại. Và như thế, li hương trong thực tế chỉ cấp cho tác giả một điều kiện để anh thực hiện hành trình này một cách tất yếu hơn chúng ta, hơn tôi, mà thôi.

Bài đã đăng báo Một thế giới.

Read Full Post »