Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘DẠY HỌC’ Category

Các anh chị sinh viên năm 3 hệ cử nhân học chuyên đề Tiếp nhận văn học thân mến, tôi muốn chia sẻ với các anh chị vài điều về bài tập thực hành nghiên cứu của chuyên đề này:

  • Về tâm thế và tầm nhìn. Các anh chị phải có tâm thế và tầm nhìn với chuyên đề này: các anh chị rồi đây sẽ làm chuyện gì, ở lĩnh vực gì, thì hãy chọn một vấn đề của lĩnh vực ấy và trao đổi với tôi để định hướng đề tài. Vì sao như vậy? Vì chuyên đề là khóa học vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề của thực tiễn, nên đề tài phải phục vụ cho thực tiễn ấy.
  • Về định hướng lựa chọn đề tài. Mỗi giảng viên có một thiên hướng của riêng mình. Tôi cũng vậy. Thiên hướng này có thể di chuyển phạm vi và đối tượng khảo sát, nhưng định hướng lí thuyết và con đường tiếp cận thì ít thay đổi. Chuyên đề không hoàn toàn là kiến thức tổng quát nữa, chuyên đề là người giảng viên dựa trên kinh nghiệm và định hướng nghiên cứu của riêng mình mà hướng dẫn các anh chị bước đầu đưa kiến thức vào giải quyết thực tế đời sống của lĩnh vực. Các anh chị phải đi theo hướng mà tôi đã đi là điều tất yếu. Thế nên không phải đề tài nào cũng được duyệt xét, cần phải chuẩn bị cho điều ấy.
  • Về sự cẩn trọng trong tiếp cận dữ liệu. Mọi nghiên cứu đều phải nghiêm túc từ giai đoạn tiếp cận dữ liệu. Dù cho nghiên cứu ấy không đạt được những khái quát và phân tích đáng kể, nhưng nó phải ít nhất có ích về mặt dữ liệu. Chính ở đây, mọi sự thiếu nghiêm túc trong tiếp cận dữ liệu đều không được phép xảy ra.

(còn tiếp)

Advertisements

Read Full Post »

Gởi các sinh viên và học viên cao học của tôi.

Một số sinh viên và học viên thường hay thắc mắc tại sao tôi ít hướng dẫn luận văn. Việc này có nhiều lí do, nhưng có lẽ lí do chính là quan niệm của cá nhân tôi về hướng dẫn luận văn.

Tôi quan niệm hướng dẫn luận văn là một hoạt động khoa học tương ứng với lĩnh vực chuyên môn và khuynh hướng nghiên cứu của người thầy. Chuyên môn của tôi hiện nay thiên về nghiên cứu tiếp nhận văn học: lịch sử tiếp nhận văn học, tiếp nhận văn học và truyền thông đại chúng, ý thức hệ và tiếp nhận văn học, tiếp nhận văn học và các định chế xã hội, người đọc và các chiến lược đọc, tiếp nhận văn học và dạy học văn. Vì thế tôi chỉ nhận hướng dẫn các đề tài liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lĩnh vực này.

Theo tôi, sinh viên năm cuối hoặc cao học, nếu đọc được tài liệu tiếng Anh, thì làm theo hướng miêu tả, khái quát, hệ thống hóa một công trình lí thuyết tiếp nhận tiếng Anh, và vận dụng nó vào một trường hợp Việt Nam. Tôi đã hướng dẫn cho một em đề tài theo dạng này: Lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser trong công trình Implied Reader (phân tích ba truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp). Trong tình hình Việt Nam hiện nay, việc đọc, giải thích và tổng kết một công trình lí thuyết là hữu ích và hợp lí. 

Hình thức khác phổ biến hơn là làm đề tài theo hướng nghiên cứu mà tôi đang quan tâm và các dự án mà tôi đang tiến hành. Điều này có ích cho sinh viên và học viên vì sẽ có điều kiện trao đổi thường xuyên và cập nhật kiến thức với người hướng dẫn.  Nếu học viên có khả năng phân tích tốt, đạt được kết quả nghiên cứu đáng tin cậy, tôi sẽ hân hạnh được mời các em cộng tác và đồng tác giả.

Làm luận văn là một hoạt động khoa học nhiều thách thức nhưng cũng đem lại nhiều ý nghĩa cho công việc và con đường nghiên cứu về sau nếu các em mong muốn theo đuổi. Một phần nào đó tôi nghĩ nó cũng tạo nên bản chất người trong chúng ta: không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đã biết, luôn chất vấn, hoài nghi và nỗ lực tự mình tìm kiếm câu trả lời.

 

 

Read Full Post »

 

Thân gởi các em sinh viên học học phần Lí luận văn học của thầy,

Các em ạ, lí luận văn học là môn học khó, lại là môn học mà chúng ta nằm lại ở khoảng cách quá xa so với mặt bằng chung của các nước. Vì vậy, thầy có những yêu cầu đối với việc học của các em như sau:

  1. Học gì? 
  • Các em sẽ được ưu tiên đến với khung các lí thuyết và khái niệm phê bình văn học để góp phần suy nghĩ về các câu hỏi cơ bản: Văn học là gì? Văn học để làm gì? Viết/ sáng tác là làm gì? Đọc/ tiếp nhận là làm gì?..
  • Các em sẽ được rèn luyện để tư duy, lập luận, phân tích về một vấn đề, khái niệm, hiện tượng…. văn học cụ thể thông qua trao đổi, tranh luận, thuyết trình.
  1. Đọc gì?
  • Các em sẽ được giới thiệu danh sách tài liệu tham khảo, và được hướng dẫn đọc một phần, đoạn tài liệu ấy trên lớp. Nhiệm vụ của các em là ĐỌC, GIẢI THÍCH, CHO VÍ DỤ, PHẢN BIỆN thông qua các trao đổi tranh luận trên lớp.
  • Các em cần phân biệt các loại tài liệu: tài liệu kinh điển (là các công trình khởi nguyên hoặc tổng kết của các lí thuyết gia chủ chốt), tài liệu diễn giải (các công trình diễn giải, tổng thuật, dẫn nhập, giới thiệu của các nhà nghiên cứu), tài liệu vận dụng (các công trình nghiên cứu ứng dụng, phân tích trường hợp), tài liệu tra cứu (các từ điển chuyên ngành, từ điển tác giả, từ điển thuật ngữ, bách khoa thư…).
  • Nhiệm vụ chủ yếu của các em là đọc, diễn giải, trao đổi các tài liệu kinh điển. Đọc một cách chăm chỉ, kĩ lưỡng, cho ví dụ cho từng luận điểm hoặc khái niệm. Hiểu khái niệm nào đó là hiểu các trường hợp ngoại diên để lĩnh hội nội hàm của nó. Các lập luận được triển khai theo từng nấc, chặt chẽ, kĩ lưỡng.
  • Các em cần hết sức tránh các liên tưởng lan man, hoài nghi những khái quát mơ hồ và không luận cứ (“văn học là nhân học”: “văn học” ở đây là gì”, “nhân học” ở đây là gì? Nhân là gì, trong quan niệm nào, tại sao lại có quan niệm ấy? Tại sao lại “là”?… ). Giữ khoảng cách với những diễn ngôn hoành tráng, đứng xa những uy quyền được tô vẽ, dè dặt với những diễn ngôn tung hô, cẩn thận với những câu văn giàu chất văn chất thơ nghe du dương thẩm mỹ.
  1. Nghiên cứu?
  • Nhìn chung ở những năm đầu bậc đại học các em chưa đủ năng lực và kiến thức để bắt tay vào nghiên cứu, trừ một số trường hợp cá biệt, hết sức cá biệt. Vì sao như vậy? Vì muốn nghiên cứu các em phải có một nền kiến thức đương đại, điều này những năm đầu bậc đại học ở Việt Nam hầu như bất khả. Muốn nghiên cứu các em cũng cần phải có kĩ năng tư duy, khả năng phân tích, khái quát vấn đề, là điều mà các em còn cần phải rèn luyện lâu dài, vì các cấp học trước hầu như chưa dạy các em điều này.
  • Tuy nhiên, hết sức cá biệt, có thể có một trường hợp nào đó, trong điều kiện được trao đổi và được hướng dẫn từ một người thầy nào đó thường xuyên nghiên cứu chuyên ngành. Trong trường hợp của thầy, chuyên ngành của thầy là nghiên cứu tiếp nhận văn học, vì vậy thầy chỉ hướng dẫn nghiên cứu tiếp nhận văn học, mặc dù có thể góp ý cho các em các vấn đề khác.
  • Các em hãy nuôi những mơ mộng tri thức, nhưng phải chăm chỉ, chặt chẽ, cụ thể là phải không ngừng ĐỌC, GIẢI THÍCH, LẬP LUẬN. Tri thức không đến từ sự trao truyền, mà đến từ những lao động trí não cần cù và gian khổ.

Chúc các em có nghị lực để học tốt, có niềm vui với tri thức và có thành quả xứng đáng!

Read Full Post »

Khó khăn nhất của một người được đào tạo từ nhà trường Việt Nam như tôi hiện nay khi phải tiếp cận với một lí thuyết nào đó của Phương Tây là cách tư duy trong hệ thống khái niệm của nó. Tất nhiên, ngoại ngữ hay tài liệu cũng là những khó khăn đáng kể, nhưng đó là chuyện khác. Sau đây tôi chia sẻ vài bài học mà tôi học được từ thầy và sư huynh, khả dĩ khắc phục khó khăn này.

1/ Đọc từ nguồn ảnh hưởng và phê phán. Một lí thuyết được hình thành và phát triển từ các nguồn ảnh hưởng và bằng cách nó phê phán góc nhìn trước đó. Nắm được nguồn ảnh hưởng và phê phán thì ta nắm được tính lịch sử của lí thuyết. Gadamer ảnh hưởng Heidegger và phê phán Kant. Jauss ảnh hưởng Gadamer và phê phán quan niệm về lịch sử [có tính] khách quan. Điều quan trọng trong cách đọc này là nắm được ảnh hưởng từ cái gì và phê phán bằng cái gì. Từ cái ảnh hưởng đến cái dùng phê phán là một khoảng cách. Khoảng cách ấy là chỗ mới của sự thay đổi lí thuyết. Jauss giải thích lại khái niệm logic của câu hỏi và câu trả lời của Collingwood để xoay chuyển cái vòng tuần hoàn thông diễn giữa quá khứ và hiện tại của Gadamer, vốn là thứ mà ông ảnh hưởng Gadamer. Sự giải thích lại này là cái khoảng cách ấy. Xét cho đến tận cùng, nó là đầu mối cho sự phát triển lí thuyết của Jauss.

2/ Đọc từ khởi nguyên. Các lí thuyết được hoàn thiện bằng các công trình tổng kết, hệ thống hóa; nhưng để hiểu được phần xương cốt của nó, phải theo dõi nó từ khởi nguyên. Tất nhiên, đây là các công trình đề xuất lí thuyết, không phải công trình dẫn nhập hay phân tích hay miêu tả. Nhiều khi khởi nguyên của một cuốn sách là một vài bài báo phân tích trường hợp. Iser phân tích các trường hợp văn xuôi trước khi đề xuất lí thuyết của ông ấy. Fish cũng vậy. Jauss làm một luận văn hậu tiến sĩ phân tích các văn bản văn học trung cổ trước khi tuyên bố về một phương pháp viết lịch sử văn học mới. Nhất thiết phải đọc những công trình khởi nguyên này. Một lí thuyết bao giờ cũng hình thành từ một góc nhìn, một phương pháp, vận dụng vào một số trường hợp cụ thể. Quan sát hết tất cả, ta sẽ biết được ưu và khuyết của nó.

3/ Đọc bằng khái niệm. Mọi sự mở rộng và phát triển hay đề xuất lí thuyết, xét cho cùng đều là sự mở rộng, phát triển hay đề xuất khái niệm. Bản đồ một lí thuyết, xét cho cùng là bản đồ các khái niệm của lí thuyết ấy. Các khái niệm có liên quan với nhau nằm cùng hệ thống thì soi sáng cho nhau. Một khái niệm xuyên qua các hệ thống thì cho thấy khả năng đa dạng của nó, và có thể được mở rộng sang các hệ thống mới. Khái niệm “horizon” đi từ triết học, thông diễn học đến xã hội học rồi đến lí thuyết văn học. Mỗi lần chuyển hệ thống, nó lại tăng thêm các phạm vi vận dụng. Đến “horizon of expectations” của Jauss thì có các phạm vi triết học hiện tượng học, thông diễn học triết học, xã hội học nhận thức… trong đó rồi.

Và cuối cùng, không liên quan nhưng rất quan trọng, hãy đọc toàn bộ trước khi nói về nó, hay ít ra, là toàn bộ những công trình chủ chốt. Thầy tôi nói tôi rằng chỉ người đọc toàn bộ công trình quan trọng của Kant thì mới được quyền nói về Kant.

Nên khi tôi làm luận văn sử dụng lí thuyết của Jauss, điều đầu tiên tôi làm là thực hiện một cái chuyên đề về Jauss: “Jauss đã nói gì về hành trình lí thuyết của ông”. Một cái nhan đề rất chuối, giống kiểu Ngọc Trinh nói gì về bạn trai của mình!

Nhưng sau gần 5 năm, tôi thấy đó là cái chuyên đề hữu ích nhất. Còn lại, dù rất tiện dụng cho luận văn, nhưng đều chuối cả.

Read Full Post »

“Trở về phương Đông” lời giải hay câu hỏi?

Gần đây, có ý niệm cho rằng cần phải cảnh giác trước các lý thuyết phương Tây, các lý thuyết phương Tây đã phá sản, nên quay trở về phương Đông, thậm chí quay trở về Việt Nam trong việc vận dụng các lý thuyết văn học và quan điểm triết học.

Mối quan tâm này trở nên nhiệt thành hơn khi đây đó xuất hiện một vài bài dịch, vài cuốn sách dịch có tính phản tư của các lý thuyết gia phương Tây về sự lâm nguy, hay sự không chắc chắn của lý thuyết (mà ở đây là lý thuyết phương Tây), về minh triết phương Đông và triết học phương Tây, về triết học và lý luận văn học hậu hiện đại…

Mối quan tâm này nhìn chung không có gì mới. Ở vào mỗi cuộc tiếp xúc giữa một nước phương Đông và văn minh phương Tây, đều có một mệnh đề phản-tiếp xúc như vậy. Chẳng hạn như vào giai đoạn đầu của sự tiếp xúc Đông – Tây đầu thế kỷ XX tại Việt Nam, bên cạnh quan niệm cổ vũ cho hiện đại hóa, tiếp xúc và hội nhập phương Tây, cũng có các ý kiến phê phán, cưỡng lại sự tiếp xúc đó. Thậm chí, sớm hơn, cuối thế kỷ XIX, ta đã thấy ý tưởng như vậy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

“Trời Đông mà gió Tây qua,

Hai hơi ấm mát chẳng hòa đau dân

Nhớ câu ‘vạn bệnh hồi xuân’

Đòi ngày luống đợi Đông quân cứu đời”

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Xét rộng hơn, đầu thế kỷ XX, đây là một nét chung có ở các nước thuộc địa, khi tiếp xúc với văn hóa, văn minh của các nước thực dân đế quốc.

Điều này được lặp lại trong bối cảnh vừa mới mở cửa trở lại của ta với các nước phương Tây. Hơn nữa, với ta, đó là sự mở cửa kép: phương Đông và phương Tây, thế giới các quốc gia xã hội chủ nghĩa và thế giới các quốc gia tư bản chủ nghĩa.

Tuy nhiên, đối với giai đoạn này của chúng ta, những ý niệm như vậy có hợp lý không, và nó cho thấy điều gì?

Trước hết, phải phân biệt sự phản tư của các lý thuyết gia phương Tây và việc bắt chước sự phản tư ấy nơi các nước đang phát triển. Một sự tự phê phán dĩ nhiên khác với sự phê phán. Cũng như một người đã trưởng thành phê phán lối học sách vở thì khác với một học sinh phê phán kiến thức sách vở, vì sự phê phán thứ nhất là một sự ngoái nhìn để tiến tới, còn sự phê phán thứ hai đơn thuần là sự phủ định, khước từ. Cũng như khi Rousseau phê phán văn hóa, văn minh, đề cao lối giáo dục tự nhiên, thì đó là phê phán trong tinh thần và thời đại Khai Minh, khuyên con người học làm người một cách tỉnh táo, chủ động, không phải là ý tưởng khuyên con người ta nên vào rừng mà sống như người nguyên thủy.

Cũng cần phải phân biệt sự từ chối tiếp xúc của những người yêu nước cuối thế kỷ XIX với sự từ chối tiếp thu của một số người ngày nay. Những người yêu nước cuối  thế kỷ XIX có một tấm lòng nhiệt thành đối với đất nước; vả chăng, đến đầu thế kỷ XX, tư tưởng yêu nước chủ đạo vẫn là tiếp thu, học tập nước ngoài để “về giúp đồng bào ta”. Và lịch sử đã chứng minh rằng họ thành công. Còn với chúng ta hôm nay, sự từ chối tiếp thu và học tập, cùng với khát vọng tạo ra cái gì đó riêng cho Việt Nam, riêng cho phương Đông vượt ngoài quy chuẩn chung, trong một nỗ lực hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay, dường như bắt nguồn từ tâm lý vừa ham muốn, vừa khước từ, và tâm lý muốn đi tắt, đón đầu, nhanh chóng xong hiện đại hóa. (Việc sử dụng chữ “hậu hiện đại” không phân biệt lĩnh vực và phạm vi khi xem xét các hiện tượng tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật tại Việt Nam cũng biểu hiện cho tâm lý này).

Hoài Thanh khi phân tích quá trình hình thành thơ Mới và cuộc kháng cự của nền thơ cũ có thuật lại sự việc rằng:

“Cô Bích Ngọc đề tựa tập thơ cũ Những bông hoa trái mùa khuyên làng thơ nên bỏ “ao ngoài” về tắm “ao nhà”. Lê Ta thuật lời  khuyên của cô chỉ thêm mấy chữ: “…dù ao nhà ấy đầy những bùn, những bẩn. Tôi buồn rằng người thục nữ có duyên đến thế lại kém vệ sinh”!

Do đó, câu hỏi đặt ra với chúng ta không phải là có nên hay có thể quay trở về phương Đông? Mà là, quay trở về phương Đông bằng cái gì? Và quay về để đi đến đâu?

Hoàng Phong Tuấn.

Read Full Post »