Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘DẠY HỌC’ Category

Các anh chị sinh viên năm 3 hệ cử nhân học chuyên đề Tiếp nhận văn học thân mến, tôi muốn chia sẻ với các anh chị vài điều về bài tập thực hành nghiên cứu của chuyên đề này:

  • Về tâm thế và tầm nhìn. Các anh chị phải có tâm thế và tầm nhìn với chuyên đề này: các anh chị rồi đây sẽ làm chuyện gì, ở lĩnh vực gì, thì hãy chọn một vấn đề của lĩnh vực ấy và trao đổi với tôi để định hướng đề tài. Vì sao như vậy? Vì chuyên đề là khóa học vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề của thực tiễn, nên đề tài phải phục vụ cho thực tiễn ấy.
  • Về định hướng lựa chọn đề tài. Mỗi giảng viên có một thiên hướng của riêng mình. Tôi cũng vậy. Thiên hướng này có thể di chuyển phạm vi và đối tượng khảo sát, nhưng định hướng lí thuyết và con đường tiếp cận thì ít thay đổi. Chuyên đề không hoàn toàn là kiến thức tổng quát nữa, chuyên đề là người giảng viên dựa trên kinh nghiệm và định hướng nghiên cứu của riêng mình mà hướng dẫn các anh chị bước đầu đưa kiến thức vào giải quyết thực tế đời sống của lĩnh vực. Các anh chị phải đi theo hướng mà tôi đã đi là điều tất yếu. Thế nên không phải đề tài nào cũng được duyệt xét, cần phải chuẩn bị cho điều ấy.
  • Về sự cẩn trọng trong tiếp cận dữ liệu. Mọi nghiên cứu đều phải nghiêm túc từ giai đoạn tiếp cận dữ liệu. Dù cho nghiên cứu ấy không đạt được những khái quát và phân tích đáng kể, nhưng nó phải ít nhất có ích về mặt dữ liệu. Chính ở đây, mọi sự thiếu nghiêm túc trong tiếp cận dữ liệu đều không được phép xảy ra.

(còn tiếp)

Advertisements

Read Full Post »

Thực sự tôi rất it hướng dẫn luận văn, phần vì các sinh viên đa số thích những đề tài phân tích văn học theo nữ quyền, diễn ngôn, thực dân này nọ. Còn tôi đang nghiên cứu tiếp nhận, mà lại đang quan tâm hai hướng hẹp, nên đề tài các em thấy rất lạ, lại không có tư liệu tham khảo tiếng Việt.

Quan điểm của tôi là sinh viên năm cuối hoặc cao học, nếu đọc được tài liệu tiếng Anh, thì làm theo hướng miêu tả, khái quát, hệ thống hóa một công trình lí thuyết tiếp nhận tiếng Anh, và vận dụng nó vào một trường hợp Việt Nam. Tôi đã hướng dẫn cho một em đề tài theo dạng này: Lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser trong công trình Implied Reader (Vận dụng phân tích ba truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp).

Nếu không đọc được tiếng Anh, thì làm đề tài khảo sát tư liệu theo hướng nghiên cứu của ông thầy, nghĩa là khảo sát, phân loại, phân tích tư liệu theo hai hướng nghiên cứu trên của tôi. Ông thầy có đăng bài báo hay công trình gì sử dụng đến kết quả khảo sát này, thì sinh viên sẽ cùng đứng tên.

Vì thế, tôi không nhận các đề tài do sinh viên gợi ý nếu không đi đúng hướng mình quan tâm. Đơn giản vì mấy cái nữ quyền, thực dân này nọ không phải hướng quan tâm của tôi. Và thú thật, mấy lí thuyết trên tôi cũng mới chỉ đọc dăm ba cuốn gọi là. Ông thầy của tôi nói rằng, anh bỏ ra 10 năm đọc bằng hết các công trình chủ chốt bằng tiếng Anh trong lĩnh vực của mình đi rồi hãy nghiên cứu gì thì nghiên cứu. Mấy cái khác tôi chưa đọc đủ để hướng dẫn.

Tôi cũng chỉ nhận hướng dẫn khi qua trao đổi thấy các em có tư duy tốt, có năng lực, có đam mê, chịu khó. Và tôi cũng nói trước, đề tài tôi hướng dẫn có thể không được nhiều người quan tâm và thậm chí, không mấy người có thiện cảm, vì thế, có thể điểm không cao. Ví dụ như nhiều người đánh giá thấp việc tóm tắt, khái quát một công trình khoa học tiếng Anh, nhưng tôi thì cho rằng với mặt bằng nghiên cứu hiện nay, chỉ cần làm thế là tốt rồi. Cái đúng trước, cái mới sau.

Làm khoa học là vì khoa học, không vì người khác và cái gì khác các em ạ. Chấp nhận có thể điểm không cao vì không quen thuộc thì mới đi xa được. Làm khoa học không phải biểu diễn sân khấu, cần khan giả vỗ tay. Cái gì ồn ào quá chẳng thể là khoa học.

Khoa học thực chất là đơn điệu, nhẫn nại và thầm lặng.

Read Full Post »

 

Thân gởi các em sinh viên học học phần Lí luận văn học 1 của thầy,

Các em ạ, lí luận văn học là môn học khó, lại là môn học mà chúng ta nằm lại ở khoảng cách quá xa so với mặt bằng chung của các nước. Vì vậy, thầy có những yêu cầu đối với việc học của các em như sau:

  1. Học gì? 
  • Các em sẽ được ưu tiên đến với khung các lí thuyết và khái niệm phê bình văn học để góp phần suy nghĩ về các câu hỏi cơ bản: Văn học là gì? Văn học để làm gì? Viết/ sáng tác là làm gì? Đọc/ tiếp nhận là làm gì?..
  • Các em sẽ được rèn luyện để tư duy, lập luận, phân tích về một vấn đề, khái niệm, hiện tượng…. văn học cụ thể thông qua trao đổi, tranh luận, thuyết trình.
  1. Đọc gì?
  • Các em sẽ được giới thiệu danh sách tài liệu tham khảo, và được hướng dẫn đọc một phần, đoạn tài liệu ấy trên lớp. Nhiệm vụ của các em là ĐỌC, GIẢI THÍCH, CHO VÍ DỤ, PHẢN BIỆN thông qua các trao đổi tranh luận trên lớp.
  • Các em cần phân biệt các loại tài liệu: tài liệu kinh điển (là các công trình khởi nguyên hoặc tổng kết của các lí thuyết gia chủ chốt), tài liệu diễn giải (các công trình diễn giải, tổng thuật, dẫn nhập, giới thiệu của các nhà nghiên cứu), tài liệu vận dụng (các công trình nghiên cứu ứng dụng, phân tích trường hợp), tài liệu tra cứu (các từ điển chuyên ngành, từ điển tác giả, từ điển thuật ngữ, bách khoa thư…).
  • Nhiệm vụ chủ yếu của các em là đọc, diễn giải, trao đổi các tài liệu kinh điển. Đọc một cách chăm chỉ, kĩ lưỡng, cho ví dụ cho từng luận điểm hoặc khái niệm. Hiểu khái niệm nào đó là hiểu các trường hợp ngoại diên để lĩnh hội nội hàm của nó. Các lập luận được triển khai theo từng nấc, chặt chẽ, kĩ lưỡng.
  • Các em cần hết sức tránh các liên tưởng lan man, hoài nghi những khái quát mơ hồ và không luận cứ (“văn học là nhân học”: “văn học” ở đây là gì”, “nhân học” ở đây là gì? Nhân là gì, trong quan niệm nào, tại sao lại có quan niệm ấy? Tại sao lại “là”?… ). Giữ khoảng cách với những diễn ngôn hoành tráng, đứng xa những uy quyền được tô vẽ, dè dặt với những diễn ngôn tung hô, cẩn thận với những câu văn giàu chất văn chất thơ nghe du dương thẩm mỹ.
  1. Nghiên cứu?
  • Nhìn chung ở lí luận văn học 1 các em chưa đủ năng lực và kiến thức để bắt tay vào nghiên cứu, trừ một số trường hợp cá biệt, hết sức cá biệt. Vì sao như vậy? Vì muốn nghên cứu các em phải có một nền kiến thức đương đại, điều này năm 1, 2 bậc đại học ở Việt Nam là điều hầu như bất khả. Muốn nghiên cứu các em cũng cần phải có kĩ năng tư duy, khả năng phân tích, khái quát vấn đề, là điều mà các em còn cần phải rèn luyện lâu dài, vì các cấp học trước hầu như chưa dạy các em điều này.
  • Tuy nhiên, hết sức cá biệt, có thể có một trường hợp nào đó, trong điều kiện được trao đổi và được hướng dẫn từ một người thầy nào đó thường xuyên nghiên cứu chuyên ngành. Trong trường hợp của thầy, chuyên ngành của thầy là nghiên cứu tiếp nhận văn học, vì vậy thầy chỉ hướng dẫn nghiên cứu tiếp nhận văn học, mặc dù có thể góp ý cho các em các vấn đề khác.
  • Các em hãy nuôi những mơ mộng tri thức, nhưng phải chăm chỉ, chặt chẽ, cụ thể là phải không ngừng ĐỌC, GIẢI THÍCH, LẬP LUẬN. Tri thức không đến từ sự trao truyền, mà đến từ những lao động trí não cần cù và gian khổ.

Chúc các em có nghị lực để học tốt, có niềm vui với tri thức và có thành quả xứng đáng!

Read Full Post »

Những câu hỏi trên tưởng chừng đơn giản nhưng thật ra rất phức tạp. Chẳng hạn ở câu hỏi đầu tiên, ta bắt gặp một khái niệm khó: “nhu cầu đọc”. Vì sao ta có nhu cầu đọc một tác phẩm thay vì xem một cuốn phim hay một bức tranh? Nhu cầu đọc ở mỗi người có khác nhau hay không? Tuổi trẻ, tuổi già, nam, nữ, người chán nản, người lạc quan, người đang yêu… có điểm chung nào đó thôi thúc họ đọc văn học hay nhu cầu của mỗi người là khác nhau? Những câu hỏi như thế không chỉ phức tạp mà nó còn đưa ta vào thế khó, như Hans Robert Jauss đã cảnh báo, nó đưa ta vào cái bẫy của chủ nghĩa tâm lí: muôn người đọc là muôn sự đọc, và ý nghĩa của tác phẩm mang tính cá nhân và chủ quan tùy thuộc vào tính ngẫu nhiên của từng trường hợp đọc.

Vô vàn câu trả lời có nghĩa là không có câu trả lời nào cả.

Nghiên cứu tiếp nhận, ở một góc độ nào đó, thiết lập nên lĩnh vực của mình bằng cách nỗ lực thoát ra khỏi tính chất phức tạp và thách thức của những câu hỏi kiểu ấy. Các nhà nghiên cứu trước sau đều cố gắng đi tìm những điểm tựa, những điểm neo đậu cho con thuyền lí thuyết lênh đênh bềnh bồng trên biển cả của những sự tiếp nhận cá biệt. Và tất nhiên, họ cố gắng đi tìm những điểm tựa trên cái khung của các quan hệ văn học, vốn đã từng được Abrams gợi ra, chỉ có điều khác đi một chút mà thôi:

Tác phẩm – người đọc

Ngữ cảnh

Nhưng ta hãy khoan tìm hiểu về những gì diễn ra trong cái khung đơn giản và gọn ghẽ này. Giờ thì ta tưởng tượng tiếp câu truyện đang kể ở đoạn mở đầu. Nhưng thay vì tiếp tục, ta lùi về những phần trước hơn nữa.

Nữ tác giả trẻ tuổi quyết định tập hợp những tác phẩm của mình để in thành một tập truyện ngắn. Chị đưa xấp bản thảo cho nhà xuất bản. Không lâu sau đó người biên tập gởi email cho chị với thông tin rằng những truyện này có thể in được, nhưng số lượng còn ít, đề nghị chị tuyển thêm một số tác phẩm chị vừa viết. Người biên tập cũng đề nghị chị chọn một nhan đề. Chị chọn nhan đề từ một truyện ngắn mà chị yêu thích, nhưng người biên tập cho rằng nhan đề đó không hợp, và đề nghị chị chọn nhan đề “Mát mát lạnh lạnh”. Chị ngẫm nghĩ đôi chút và đồng ý. Thời gian ngắn sau người biên tập thông báo với chị đã có ảnh bìa cho tập truyện. Đó là một bức ảnh đẹp. Gợi đến hình ảnh cô gái đang thư thái thả mình trong một lẵng hoa rất đẹp. Và quyển sách ra đời với hình dạng như ta thấy.

Câu hỏi gợi lên là, vì sao nhà xuất bản chấp nhận in cuốn tuyển tập ấy? Vì sao họ lại trao đổi với tác giả để đặt tên nhan đề quyển sách như thế? Vì sao ảnh bìa sách lại là một hình ảnh gợi nên rất ít những nội dung của các tác phẩm khác, dù nó rất đẹp? Những điều ấy có chi phối đến sự tiếp nhận không?

Những câu hỏi trên gợi ra một vấn đề, mà ta sẽ làm rõ hơn ở phía sau: sản xuất và tiêu dùng tác phẩm. Điều này có nghĩa là sự tiếp nhận văn học thực chất là một vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến một tác phẩm và một người đọc, nó còn bắt rễ sâu xa hơn vào những lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Hay nói một cách khái quát, sự tiếp nhận được cấu thành trong ngữ cảnh xã hội, qua những trung gian của điều kiện vật chất xã hội, cái mà Tonny Bennett gọi là những “tác nhân thông diễn”.

Như vậy, ở cái khung đơn giản trên, có một bình diện mà trên đó diễn ra mối quan hệ giữa văn bản và người đọc, hơn nữa, nó còn tạo ra hay thiết lập các điểm nút trung gian, mà một khái niệm đã cũ trong triết học do Hegel đặt ra là “sự trung giới”, mô tả rất rõ chức năng của các điểm nút này. Và từ các điểm nút này, các quan hệ đọc xuất hiện, người đọc xuất hiện, văn bản được đọc xuất hiện, và theo đó, sự tiếp nhận xuất hiện.

Vậy, mọi câu chuyện đọc, thực chất là sẽ được kể trên bình diện này, và theo đó, mọi sự miêu tả hiện tượng tiếp nhận, phải bắt đầu từ đây. Đó là bình diện ngữ cảnh. Nó là sự khởi đầu của mọi sự khởi đầu.

Read Full Post »

Tôi đi làm về và ghé ngang qua một hiệu sách. Tôi muốn mua một cuốn sách văn học. Tôi lướt mắt qua quầy sách văn học và một cuốn sách có bìa hồng nhạt với nhan đề Mát mát lạnh lạnh hiện lên trong mắt tôi. Bìa sách có in hình cô gái gương mặt đẹp như búp bê ở giữa những bông hoa màu hồng nhạt. Cuốn sách thật đẹp, tôi nhủ thầm và cầm nó lên, lướt qua vài trang của sách. Tôi bắt gặp đoạn văn sau:

Chiều thu, tôi đạp xe loanh quanh trong các ngõ nhỏ Hà Nội, qua những khu nhà ống có hoàng lan và dạ hương. Tôi thấy thịt da tôi thơm thơm và mềm mại”.

Có gì đó mới mẻ và gần gũi ở đoạn văn này. Tôi quyết định mua.

Đây là một trường hợp không điển hình nhưng có thể nói là khá quen thuộc của tiếp nhận văn học. Người đọc chọn một tác phẩm, xem lướt qua và chọn mua nó vì nó đáp ứng một nhu cầu tinh thần nào đó của họ. Phần còn lại ta có thể tưởng tượng ra dễ dàng: trong một thời gian rảnh nào đó, họ mở nó ra và vừa đọc vừa nhâm nhi li kem ở một quán coffee, trên ghế sofa ở nhà….

Tác phẩm văn học cụ thể đến với một người đọc cụ thể, cho một nhu cầu cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể. Đây là điều Louise Rosenblatt đã lưu ý trong một quan điểm có ảnh hưởng: việc đọc là sự trải nghiệm cụ thể và cá biệt của chủ thể về đối tượng. Nhưng ý này ngay lập tức gợi ra nhiều câu hỏi: nhu cầu của người đọc là gì? Điều gì chi phối việc người đọc chọn một tác phẩm? Tiến trình đọc diễn ra như thế nào? Điều gì làm cho họ hài lòng hay không hài lòng về tác phẩm? Tại sao người này chọn tác phẩm này và hài lòng với nó, thậm chí còn đọc đi đọc lại; còn người khác lại thất vọng về nó và bỏ dở giữa chừng? Tác phẩm văn học rốt cục đem đến điều gì cho người đọc hay đơn giản là sự giải trí?…

Read Full Post »

Khó khăn nhất của một người được đào tạo từ nhà trường Việt Nam như tôi hiện nay khi phải tiếp cận với một lí thuyết nào đó của Phương Tây là cách tư duy trong hệ thống khái niệm của nó. Tất nhiên, ngoại ngữ hay tài liệu cũng là những khó khăn đáng kể, nhưng đó là chuyện khác. Sau đây tôi chia sẻ vài bài học mà tôi học được từ thầy và sư huynh, khả dĩ khắc phục khó khăn này.

1/ Đọc từ nguồn ảnh hưởng và phê phán. Một lí thuyết được hình thành và phát triển từ các nguồn ảnh hưởng và bằng cách nó phê phán góc nhìn trước đó. Nắm được nguồn ảnh hưởng và phê phán thì ta nắm được tính lịch sử của lí thuyết. Gadamer ảnh hưởng Heidegger và phê phán Kant. Jauss ảnh hưởng Gadamer và phê phán quan niệm về lịch sử [có tính] khách quan. Điều quan trọng trong cách đọc này là nắm được ảnh hưởng từ cái gì và phê phán bằng cái gì. Từ cái ảnh hưởng đến cái dùng phê phán là một khoảng cách. Khoảng cách ấy là chỗ mới của sự thay đổi lí thuyết. Jauss giải thích lại khái niệm logic của câu hỏi và câu trả lời của Collingwood để xoay chuyển cái vòng tuần hoàn thông diễn giữa quá khứ và hiện tại của Gadamer, vốn là thứ mà ông ảnh hưởng Gadamer. Sự giải thích lại này là cái khoảng cách ấy. Xét cho đến tận cùng, nó là đầu mối cho sự phát triển lí thuyết của Jauss.

2/ Đọc từ khởi nguyên. Các lí thuyết được hoàn thiện bằng các công trình tổng kết, hệ thống hóa; nhưng để hiểu được phần xương cốt của nó, phải theo dõi nó từ khởi nguyên. Tất nhiên, đây là các công trình đề xuất lí thuyết, không phải công trình dẫn nhập hay phân tích hay miêu tả. Nhiều khi khởi nguyên của một cuốn sách là một vài bài báo phân tích trường hợp. Iser phân tích các trường hợp văn xuôi trước khi đề xuất lí thuyết của ông ấy. Fish cũng vậy. Jauss làm một luận văn hậu tiến sĩ phân tích các văn bản văn học trung cổ trước khi tuyên bố về một phương pháp viết lịch sử văn học mới. Nhất thiết phải đọc những công trình khởi nguyên này. Một lí thuyết bao giờ cũng hình thành từ một góc nhìn, một phương pháp, vận dụng vào một số trường hợp cụ thể. Quan sát hết tất cả, ta sẽ biết được ưu và khuyết của nó.

3/ Đọc bằng khái niệm. Mọi sự mở rộng và phát triển hay đề xuất lí thuyết, xét cho cùng đều là sự mở rộng, phát triển hay đề xuất khái niệm. Bản đồ một lí thuyết, xét cho cùng là bản đồ các khái niệm của lí thuyết ấy. Các khái niệm có liên quan với nhau nằm cùng hệ thống thì soi sáng cho nhau. Một khái niệm xuyên qua các hệ thống thì cho thấy khả năng đa dạng của nó, và có thể được mở rộng sang các hệ thống mới. Khái niệm “horizon” đi từ triết học, thông diễn học đến xã hội học rồi đến lí thuyết văn học. Mỗi lần chuyển hệ thống, nó lại tăng thêm các phạm vi vận dụng. Đến “horizon of expectations” của Jauss thì có các phạm vi triết học hiện tượng học, thông diễn học triết học, xã hội học nhận thức… trong đó rồi.

Và cuối cùng, không liên quan nhưng rất quan trọng, hãy đọc toàn bộ trước khi nói về nó, hay ít ra, là toàn bộ những công trình chủ chốt. Thầy tôi nói tôi rằng chỉ người đọc toàn bộ công trình quan trọng của Kant thì mới được quyền nói về Kant.

Nên khi tôi làm luận văn sử dụng lí thuyết của Jauss, điều đầu tiên tôi làm là thực hiện một cái chuyên đề về Jauss: “Jauss đã nói gì về hành trình lí thuyết của ông”. Một cái nhan đề rất chuối, giống kiểu Ngọc Trinh nói gì về bạn trai của mình!

Nhưng sau gần 5 năm, tôi thấy đó là cái chuyên đề hữu ích nhất. Còn lại, dù rất tiện dụng cho luận văn, nhưng đều chuối cả.

Read Full Post »

“Trở về phương Đông” lời giải hay câu hỏi?

Gần đây, có ý niệm cho rằng cần phải cảnh giác trước các lý thuyết phương Tây, các lý thuyết phương Tây đã phá sản, nên quay trở về phương Đông, thậm chí quay trở về Việt Nam trong việc vận dụng các lý thuyết văn học và quan điểm triết học.

Mối quan tâm này trở nên nhiệt thành hơn khi đây đó xuất hiện một vài bài dịch, vài cuốn sách dịch có tính phản tư của các lý thuyết gia phương Tây về sự lâm nguy, hay sự không chắc chắn của lý thuyết (mà ở đây là lý thuyết phương Tây), về minh triết phương Đông và triết học phương Tây, về triết học và lý luận văn học hậu hiện đại…

Mối quan tâm này nhìn chung không có gì mới. Ở vào mỗi cuộc tiếp xúc giữa một nước phương Đông và văn minh phương Tây, đều có một mệnh đề phản-tiếp xúc như vậy. Chẳng hạn như vào giai đoạn đầu của sự tiếp xúc Đông – Tây đầu thế kỷ XX tại Việt Nam, bên cạnh quan niệm cổ vũ cho hiện đại hóa, tiếp xúc và hội nhập phương Tây, cũng có các ý kiến phê phán, cưỡng lại sự tiếp xúc đó. Thậm chí, sớm hơn, cuối thế kỷ XIX, ta đã thấy ý tưởng như vậy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

“Trời Đông mà gió Tây qua,

Hai hơi ấm mát chẳng hòa đau dân

Nhớ câu ‘vạn bệnh hồi xuân’

Đòi ngày luống đợi Đông quân cứu đời”

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Xét rộng hơn, đầu thế kỷ XX, đây là một nét chung có ở các nước thuộc địa, khi tiếp xúc với văn hóa, văn minh của các nước thực dân đế quốc.

Điều này được lặp lại trong bối cảnh vừa mới mở cửa trở lại của ta với các nước phương Tây. Hơn nữa, với ta, đó là sự mở cửa kép: phương Đông và phương Tây, thế giới các quốc gia xã hội chủ nghĩa và thế giới các quốc gia tư bản chủ nghĩa.

Tuy nhiên, đối với giai đoạn này của chúng ta, những ý niệm như vậy có hợp lý không, và nó cho thấy điều gì?

Trước hết, phải phân biệt sự phản tư của các lý thuyết gia phương Tây và việc bắt chước sự phản tư ấy nơi các nước đang phát triển. Một sự tự phê phán dĩ nhiên khác với sự phê phán. Cũng như một người đã trưởng thành phê phán lối học sách vở thì khác với một học sinh phê phán kiến thức sách vở, vì sự phê phán thứ nhất là một sự ngoái nhìn để tiến tới, còn sự phê phán thứ hai đơn thuần là sự phủ định, khước từ. Cũng như khi Rousseau phê phán văn hóa, văn minh, đề cao lối giáo dục tự nhiên, thì đó là phê phán trong tinh thần và thời đại Khai Minh, khuyên con người học làm người một cách tỉnh táo, chủ động, không phải là ý tưởng khuyên con người ta nên vào rừng mà sống như người nguyên thủy.

Cũng cần phải phân biệt sự từ chối tiếp xúc của những người yêu nước cuối thế kỷ XIX với sự từ chối tiếp thu của một số người ngày nay. Những người yêu nước cuối  thế kỷ XIX có một tấm lòng nhiệt thành đối với đất nước; vả chăng, đến đầu thế kỷ XX, tư tưởng yêu nước chủ đạo vẫn là tiếp thu, học tập nước ngoài để “về giúp đồng bào ta”. Và lịch sử đã chứng minh rằng họ thành công. Còn với chúng ta hôm nay, sự từ chối tiếp thu và học tập, cùng với khát vọng tạo ra cái gì đó riêng cho Việt Nam, riêng cho phương Đông vượt ngoài quy chuẩn chung, trong một nỗ lực hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay, dường như bắt nguồn từ tâm lý vừa ham muốn, vừa khước từ, và tâm lý muốn đi tắt, đón đầu, nhanh chóng xong hiện đại hóa. (Việc sử dụng chữ “hậu hiện đại” không phân biệt lĩnh vực và phạm vi khi xem xét các hiện tượng tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật tại Việt Nam cũng biểu hiện cho tâm lý này).

Hoài Thanh khi phân tích quá trình hình thành thơ Mới và cuộc kháng cự của nền thơ cũ có thuật lại sự việc rằng:

“Cô Bích Ngọc đề tựa tập thơ cũ Những bông hoa trái mùa khuyên làng thơ nên bỏ “ao ngoài” về tắm “ao nhà”. Lê Ta thuật lời  khuyên của cô chỉ thêm mấy chữ: “…dù ao nhà ấy đầy những bùn, những bẩn. Tôi buồn rằng người thục nữ có duyên đến thế lại kém vệ sinh”!

Do đó, câu hỏi đặt ra với chúng ta không phải là có nên hay có thể quay trở về phương Đông? Mà là, quay trở về phương Đông bằng cái gì? Và quay về để đi đến đâu?

Hoàng Phong Tuấn.

Read Full Post »