Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI VIẾT’ Category

 

(đề cương nghiên cứu sơ bộ)

 

Hoàng Phong Tuấn

 

TÓM TẮT

 

Nghiên cứu này phân tích quan niệm về văn học nghệ thuật và sự thực hành văn học trong hệ thống tư tưởng của Arendt. Mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu những đóng góp của Arendt cho lí thuyết về văn học nghệ thuật và những gợi ý của bà cho việc phân tích và diễn giải văn học. Dựa trên các công trình chủ chốt và các bài viết, bài giảng, bình luận của Arendt, nghiên cứu trình bày những nội dung chính sau: văn học nghệ thuật trong hệ thống tư tưởng của Arendt, quan niệm riêng của Arendt về văn học nghệ thuật, diễn giải văn học của Arendt.

 

 

 

NỘI DUNG

 

Con người, hoạt động tạo tác và cõi sống

Arendt quan niệm đời sống hoạt động (vita activa) – bao gồm lao động, tạo tác, hành động – chính là điều kiện đảm bảo cho đời sống suy tư. Trong đời sống hoạt động, nếu như lao động tạo ra của cải cho người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu cơ bản duy trì đời sống sinh học của họ, thì tạo tác là làm ra các vật dụng tạo nên một thế giới bền vững, là chốn cư lưu của con người. Nói cách khác, hoạt động tạo tác xây dựng nên cõi sống, xây dựng nên không gian có quá khứ, có kỉ niệm, trong đó con người sống một đời sống vượt ra ngoài sự tồn tại như là sinh vật hữu tử đơn thuần. Cuối cùng, hành động tạo ra tính cá nhân của con người, nó vô hạn và không thể đoán trước, và vì thế, đòi hỏi con người phải biết tha thứ và giữ lời hứa.

 

Tác phẩm nghệ thuật như là vật tạo tác đặc biệt

Trong các kết quả của quá trình tạo tác, chỉ có tác phẩm nghệ thuật là vật tạo tác nằm ngoài mối quan hệ phương tiện, mục đích. Hoàn toàn khác biệt với các sản phẩm tạo tác khác, tác phẩm nghệ thuật là vật vô ích nhất, nhưng đồng thời là vật bền lâu nhất mà con người có thể tạo ra. Ở đây, Arendt đã tiếp thu và triển khai một cách độc đáo quan niệm của Kant về phán đoán thẩm mỹ, theo đó, đặc điểm của phán đoán thẩm mỹ là tính mục đích không có mục đích. Và từ góc nhìn đó, theo Arendt, tác phẩm nghệ thuật nằm ngoài bất kì bối cảnh sử dụng cụ thể nào. Vì thế, nó có tính vĩnh cửu và tồn tại xuyên qua các giai đoạn lịch sử.

Chính do sự bền vững so với những sản phẩm tạo tác khác mà tác phẩm nghệ thuật có vai trò quan trọng bậc nhất tạo dựng nên cõi sống của con người. Tác phẩm nghệ thuật làm thế giới hiện ra như là thế giới và con người hiện ra như là con người. Kế thừa Heidegger trong cái nhìn về cõi sống, Arendt cho rằng tác phẩm nghệ thuật làm nên không gian văn hóa cho cõi sống. Chúng làm cho ta vượt ra ngoài không gian của các sự vật tiêu dùng, của đời sống tự nhiên sinh vật đơn thuần. Nói cách khác, ta có khoảng cách với sự vật, vừa quên mình đi, vừa giải phóng mình khỏi mối quan tâm với sự vật chỉ như là sự vật, và nhìn chúng từ góc nhìn của thẩm mỹ. Ở đây, Arendt đã kế thừa và gắn kết mỹ học Kant và mỹ học Heidegger về phán đoán thẩm mỹ và nguồn gốc tác phẩm nghệ thuật để làm mới khái niệm văn hóa và cõi sống, góp phần lí giải những vấn đề của xã hội hiện đại, đặc biệt là sự khủng hoảng văn hóa.

Arendt cho rằng một nguyên nhân của khủng hoảng văn hóa trong xã hội hiện đại là con người có khuynh hướng tiếp nhận các sản phẩm văn hóa như là các vật phẩm tiêu dùng. Nói cách khác, con người hiện đại có xu hướng không phân biệt sự tiêu thụ liên quan đến những nhu cầu giải trí nhất thời và sự tiếp nhận tinh thần liên quan đến tính vững bền, vô vị lợi của tác phẩm nghệ thuật. Sự đánh đồng tai hại này có nguyên nhân là do nền công nghiệp sản xuất văn hóa tạo ra các sản phẩm nhanh chóng và hằng loạt. Quan niệm này của Arendt kế thừa phần nào quan điểm lí thuyết của trường phái Frankfurt về sự sản xuất văn hóa của chủ nghĩa tư bản. Điểm khác biệt ở đây là Arendt nhấn mạnh đến vai trò của tác phẩm nghệ thuật và sự thưởng thức nghệ thuật đích thực sẽ đem lại cho con người đời sống văn hóa tinh thần, níu giữ chúng ta khỏi nhu cầu của thể xác đơn thuần phù du và dễ tiêu biến.

Arendt cho rằng có một vấn đề sinh ra trong đánh giá tác phẩm nghệ thuật là người ta hay nhìn chúng trong mối quan hệ phương tiện – mục đích: tác phẩm nghệ thuật làm ra và sử dụng cho mục đích có tính vị lợi nào đó. Cái nhìn như thế là cái nhìn có tính chất chính trị về tác phẩm nghệ thuật, có nghĩa là đánh đồng nó với các vật tạo tác khác. Chủ nghĩa phàm tục này còn đe dọa văn hóa ở chỗ nó sẽ tạo ra những quy chuẩn để đánh giá tác phẩm theo tính hữu ích, và như thế là tầm thường hóa tác phẩm, làm cho nó trở lại đơn thuần là phương tiện mà thôi.

Arendt phân biệt tạo tác – trong đó có việc con người tạo ra các tác phẩm nghệ thuật, và hành động – trong đó con người hành động và nói năng, tức là hoạt động chính trị. Hai hoạt động này dựa trên các cơ chế và đặc điểm khác nhau, nên thường xuyên có sự không tương thông và không tin cậy lẫn nhau, và vì thế, tạo nên xung đột. Một cách đầy sáng tạo và bất ngờ, Arendt đề nghị một cách nhìn khác để gỡ bỏ sự xung đột này. Bà cho rằng cần phải nhìn lĩnh vực nghệ thuật không phải ở khía cạnh tạo tác, tức là việc làm ra tác phẩm, mà nên nhìn chúng ở khía cạnh tác phẩm nghệ thuật. Chính ở khía cạnh này mà lĩnh vực nghệ thuật và lĩnh vực chính trị có một điểm chung, đó là cả hai đều cần không không gian công cộng để hoàn tất quá trình trở thành của mình. Và không gian công cộng ở đây, chính là không gian văn hóa. Chính ở đây, cái đẹp của đời sống tinh thần vĩnh cửu sẽ cấp cho cả hai, và qua đó, là đời sống của con người một giá trị và ý nghĩa. Arendt viết: “Không có cái đẹp, tức là, vẻ lộng lẫy chói ngời trong đó sự bất tử tiềm tàng được làm cho hiện rõ trong thế giới loài người, thì tất cả đời sống con người sẽ là vô nghĩa và không sự vĩ đại nào có thể tồn tại bền lâu.” (Khủng hoảng văn hóa: ý nghĩa xã hội và chính trị của nó). Từ đó, Arendt cho rằng cả phán đoán chính trị và phán đoán thẩm mỹ đều cần đặt cơ sở trên cõi sống, tức là sự không quan tâm đến nhu cầu, đạo đức và quan điểm cá nhân, và vì thế, chúng đều dựa trên sự thuyết phục, sự đồng tình của người khác và đòi hỏi “cảm quan chung”, một khái niệm do Kant đặt ra.

Diễn giải văn học của Arendt

Arendt dành cho văn học một mối quan tâm khá thường xuyên. Bà viết các bài bình luận, giới thiệu, trao đổi ý kiến, trích dẫn và phân tích các tác phẩm, nhận thức về lịch sử văn học. Nhìn chung, Arendt xem văn học như là một loại hình đặc biệt của tác phẩm nghệ thuật, vì có thể hiện được tư tưởng và suy tư của con người.

Theo Arendt, tác phẩm văn học tạo nên không gian tưởng tượng cho người thưởng thức nó, đặt họ vào giữa cái đã qua và cái chưa đến (no longer and not yet), hay nói một cách khác, đặt họ vào khoảng trống giữa quá khứ và tương lai. Qua đó, nó tạo ra điều kiện của tư tưởng trong không gian hư cấu để con người có thể tư duy về tồn tại của mình. Dựa trên cái nhìn này, Arendt phác họa một lược đồ, theo đó, Proust đem đến viễn tượng về điều đã qua, và Kafka đem đến viễn tượng về điều chưa đến, còn Broch tạo nên nhịp cầu giữa hai bên. Diễn giải của Arendt về văn học dựa trên điểm nhìn về lịch sử văn học như là lịch sử của những suy tư về tồn tại.

Điều đặc biệt trong các công trình của Arendt là bà xem văn học nghệ thuật như là một hình thức thể hiện tư tưởng và suy tư. Các lập luận triết học được bà thể hiện qua hình thức tự sự, và các tác phẩm văn học được diễn giải trong hình thức của suy tư triết học. Hay nói cách khác, nơi con đường suy tư của Arendt, văn học và triết học có sự đồng hành và tương trợ lẫn nhau.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 Các công trình của Hannah Arendt

 

  1. The Origins of Totalitarianism. Third edition, with new prefaces: New York: Harcourt, Brace & World, 1973.
  2. The Human Condition. Chicago: University of Chicago Press, 1958.
  3. Between Past and Future: Six Exercises in Political Thought. New York: Viking Press, 1961. Revised edition, including two additional essays, 1968.
  4. Eichmann in Jerusalem: A Report on the Banality of Evil. New York: Viking Press, 1963. Revised and enlarged edition, 1965.
  5. On Revolution. New York: Viking Press, 1963. Revised second edition, 1965.
  6. Men in Dark Times. New York: Harcourt, Brace & World, 1968.
  7. On Violence. New York: Harcourt, Brace & World, 1970.
  8. Crises of the Republic. New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1972.
  9. The Life of the Mind. New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1978. (Two volumes of an uncompleted work, published posthumously and edited by Mary McCarthy.)
  10. Lectures on Kant’s Political Philosophy. Edited by Ronald Beiner. Chicago: University of Chicago Press, 1982.
  11. Essays in Understanding: 1930–1954. Edited by Jerome Kohn. New York: Harcourt Brace & Co., 1994.
  12. Reflections on Literature and Culture. Edited and with an introduction by Susannah Young-ah Gottlieb. Califonia: Stanford University Press, 2007.

 

Các tài liệu tham khảo khác:

 

  1. Gottsegen, Michael G. The Political Thought of Hannah Arendt. Albany: State University of New York Press, 1993.
  2. Hansen, Phillip. Hannah Arendt: Politics, History, and Citizenship. Stanford: Stanford University Press, 1993.

 

Read Full Post »

Văn hóa và văn học đại chúng có vai trò như thế nào trong đời sống văn hóa và xã hội? Hiểu như thế nào về sự khác biệt và va chạm giữa văn hóa đại chúng và văn hóa tinh hoa, văn học đại chúng và văn học tinh hoa? Những câu hỏi trên nêu lên vấn đề quan trọng và bức thiết của văn hóa và xã hội đương đại Việt Nam, một xã hội có sự chuyển mình kể từ sau thời kì Đổi mới 1986. Ta nhìn thấy ở đây một mặt là sự hồi sinh của các tiếng nói khác nhau trong văn hóa đại chúng vốn rất phong phú trong giai đoạn trước những năm 50, và mặt khác là hệ thống quy chuẩn và hệ giá trị được định chế hóa từ sau những năm 50, có hiệu lực mạnh mẽ trong việc đánh giá văn hóa nghệ thuật nói chung và văn hóa đại chúng nói riêng. Câu hỏi sinh ra trong trường hợp này là cần nhìn nhận như thế nào về vai trò và giới hạn của việc đánh giá văn hóa và văn học hiện đại từ hệ quy chuẩn chính thống được định chế hóa. Nhưng sâu xa hơn là việc nhận thức cơ sở và quan hệ quyền lực của các hệ giá trị đánh giá văn học và văn hóa: các hệ giá trị này hình thành từ đâu và chúng vận hành ra sao trong đời sống xã hội. Antonio Gramsci sẽ cung cấp cho chúng ta gợi ý về vấn đề này. Bằng phân tích về bá quyền văn hóa và ý tưởng về sự thương lượng (negotiation) giữa các nhóm xã hội, Gramsci mở ra một tầm nhìn chịu ảnh hưởng từ Marx về vấn đề sự đấu tranh và giải phóng những tiếng nói thiểu số khỏi sự áp bức của các nhóm bá quyền trên bình diện ý hệ.

Antonio Gramsci (1891-1937) là lí thuyết gia văn hóa và chính trị người Ý theo khuynh hướng tân-Marx luận. Ông là thành viên sáng lập Đảng cộng sản Ý, mang tinh thần chống Phát-xít, bị chính quyền Phát-xít Ý bắt giam và chết trong tù. Công trình ông để lại là những bài báo khi hoạt động trong các phong trào cách mạng xã hội và 10 quyển sổ viết tay trong giai đoạn ở tù ghi lại những phân tích về chính trị và văn hóa. Về đại thể, ông khởi đầu như là kiến trúc sư của chủ nghĩa xã hội, nhưng khi nhận ra thách thức lớn lao của việc tạo nên một bá quyền tổng thể của giai cấp vô sản, những suy tư của ông đi vào việc nhận thức các vấn đề của bá quyền và văn hóa đại chúng, và hướng vào phân tích xã hội hiện đại từ góc độ ý hệ và bá quyền. Tư tưởng của Gramsci được phát hiện lại từ những năm 60 ở phương Tây, ảnh hưởng lớn đến các lí thuyết gia nghiên cứu văn hóa đại chúng, văn học đại chúng, truyền thông và chính trị như Raymon Williams, Stuart Hall, Tony Bennett, Chantal Mouffe.

Về cơ bản, góc nhìn về văn hóa của Gramsci khai triển quan điểm của Marx về việc nhận thức mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Kế thừa gợi ý của Marx trong Lời nói đầu góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, theo đó không chỉ cơ sở hạ tầng mà cả kiến trúc thượng tầng cũng phản ánh mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp trong xã hội, Gramsci cho rằng mâu thuẫn và đấu tranh ý hệ là đầu mối phương pháp luận cho việc nhận thức tồn tại xã hội (Gramsci, 2000: 192). Mặt khác, Gramsci dựa trên thực hành chính trị của Lenin để phát triển quan niệm về bá quyền. Theo ông, bá quyền là sự thực hành đấu tranh giai cấp trên bình diện ý hệ của các nhóm lãnh đạo và có quyền lực xã hội. Nhìn chung, Gramsci nâng vấn đề bá quyền lên bình diện phổ quát như là sự thực hành chính trị nhằm phổ biến quan niệm và ý hệ của tất cả các nhóm xã hội, kể cả nhóm thiểu số, thay vì chỉ là các nhóm xã hội lãnh đạo hay các giai cấp bóc lột như quan niệm của Marx và Lenin.

Theo Gramsci, bá quyền sinh ra từ nhu cầu tồn tại và khẳng định vị trí của nhóm xã hội. Bá quyền hiểu theo nghĩa này không phải là sự trấn áp bạo lực mà là sự phổ biến các ý hệ mới của nhóm xã hội, thay đổi nhận thức và phương pháp nhận thức của xã hội. Vì thế đây là sự kiện của nhận thức và tri thức, sự kiện có tính triết học (Gramsci 2000: 192) nhiều hơn là sự kiện của cuộc cách mạng xã hội theo quan niệm của Marx và Lenin. Ví dụ như các nhóm thiểu số người đồng tính, nhóm đấu tranh cho nữ quyền, để khẳng định quyền và nhu cầu của họ, cũng như cất lên tiếng nói cho quyền và nhu cầu đó, các nhóm này tạo ra các diễn ngôn diễn giải lại hình ảnh và nhận thức của xã hội về họ, nhằm chống lại quan niệm kì thị, nêu ra những đề nghị tác động đến các định chế bá quyền trực tiếp là luật pháp và sự quản lí nhà nước. Đó chính là hình thức tiêu biểu của sự phổ biến ý hệ và thế giới quan, đồng thời sản sinh hình thức bá quyền về ý nghĩa và diễn giải ý nghĩa.

Nhìn chung, trong quan niệm của Gramsci, bá quyền có ba đặc điểm. Trước hết, bá quyền không phải là hành động mà là mối quan hệ; đây không phải là hành động áp bức đơn thuần của người này với người kia, nhóm này với nhóm kia, mà là quan hệ giữa áp bức và tuân chịu về mặt ý hệ. Một nhóm xã hội muốn chi phối và phổ biến, nó thực hiện những đặt định về ý hệ bằng nhiều hình thức khác nhau, đòi hỏi sự tuân chịu của các thành viên. Nó giáo dục và tuyên truyền văn hóa, phổ biến cái nhìn về thế giới, định hình nên các hệ giá trị và các chiến lược cấp nghĩa cho sự vật thông qua các định chế xã hội. Thứ nữa, thực hành bá quyền có tính chất tiến trình. Ông gọi đây là cuộc chiến về vị thế (war of position), trong đó các định chế xã hội dần dần lan tỏa ảnh hưởng thông qua phổ biến và đặt định quan niệm về thế giới, cách giải thích thế giới. Những tiếng nói khác biệt được chuyển hóa dần và hòa nhập vào quan niệm của nhóm bá quyền theo tiến trình thương lượng (negotiation). Cuối cùng, bá quyền vận hành mềm dẻo và phức tạp, không đơn thuần là sự bắt buộc một chiều và nhất thành bất biến. Đây là tiến trình thỏa thuận và thương lượng, mỗi cá nhân chấp nhận điều gì đó để nhận được điều gì đó, được thuyết phục tin vào điều gì đó để làm điều gì đó đáp ứng sự mong mỏi của họ. Nhìn chung đóng góp của Gramsci ở đây là phương pháp nhận thức kiến trúc thượng tầng của xã hội thông qua tổng thể các thực hành bá quyền hay là tổng thể quan hệ quyền lực của các nhóm xã hội. Góc nhìn này của ông tạo nên trào lưu “Trở về với Gramsci” (Turn to Gramsci) trong nghiên cứu văn hóa Anh-Mỹ.

Bá quyền trong quan niệm của Gramsci là sự kiến tạo, khuôn định, duy trì và phổ biến quan niệm về thế giới/ thế giới quan của nhóm xã hội. Vì vậy, bá quyền đặt định khuôn khổ để đánh giá các hiện tượng văn hóa nghệ thuật từ thế giới quan của nhóm hay giai cấp dẫn dắt xã hội, tạo nên sự phân biệt giữa văn hóa bình dân và văn hóa tinh hoa, văn hóa tiến bộ và văn hóa đi ngược với sự tiến bộ, phản động. Ý niệm này thể hiện qua việc Gramsci phân biệt giữa mô hình con người chính trị và mô hình con người nghệ sĩ trong xã hội. Con người chính trị nhìn mọi hiện tượng theo viễn tượng rằng chúng được sắp xếp trong một trật tự phát triển cho mục đích cuối cùng. “Đối với nhà chính trị, mỗi hình ảnh được cố định hóa là một sự phản động tiên nghiệm (a priori reactionary): anh ta xem xét sự vận động toàn bộ qua sự phát triển của nó” (Gramsci 2000: 396). Con người nghệ sĩ thì không như vậy, anh ta phải khớp nối các hình ảnh đầy màu sắc vào hình thức xác định, theo cách thức đầy mâu thuẫn và khác biệt. Do đó Gramsci cho rằng hai con người này không thể chấp nhận nhau và đồng nhất với nhau. Trong góc nhìn đó, Gramsci phê bình cách nhìn có tính chất chính trị đối với lịch sử nghệ thuật, xem lịch sử nghệ thuật như là lịch sử tiến triển của các trường phái, theo một lược đồ của những sự tiến bộ: “Một sai lầm nghiêm trọng là chấp nhận một chiến lược chiến triển duy nhất theo đó mỗi sự tăng tiến mới tích lũy và trở thành tiền đề cho sự tăng tiến cao hơn. Không chỉ vì các chiến lược vốn đa tạp, mà ngay cả chiến lược gọi là tiến triển nhất cũng có những moment thoái lui” (Gramsci 2000: 397). Cái nhìn về lịch sử nghệ thuật như là lịch sử của sự tiến bộ như thế sẽ chỉ khái quát hiện thực của nghệ thuật theo viễn tượng và tầm nhìn của nhà nghiên cứu, và theo đó, thực tiễn nghệ thuật hiện ra như là trật tự định sẵn và tất yếu, cái trước tác động đến cái sau và là tiền đề cho cái sau.

Quan niệm của Gramsci gợi ý vấn đề đánh giá văn học, phân loại văn học và nhận thức lịch sử văn học. Thực tại đời sống văn học với những sáng tác vô cùng phong phú, đa dạng, luôn được lựa chọn, đánh giá từ hệ thống quan niệm nào đó. Trong quá khứ, văn học chữ Nôm thường bị các nhà nho cho là “nôm na mách qué”, như Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương. Theo góc nhìn này, văn học chữ Nôm không thuộc hệ chuẩn của nho giáo, không có vai trò giáo hóa xã hội. Và như thế, trong một số trường hợp, nó hầu như được đặt ra bên ngoài không gian văn học chính thống. Trong giai đoạn hiện đại, văn học đại chúng như tiểu thuyết võ hiệp, tiểu thuyết dã sử và tiểu thuyết ngôn tình từng bị đặt ra ngoài lề của lịch sử văn học, theo nghĩa chúng không nằm trong lịch sử tiến triển của các trường phái hay sự cách tân nghệ thuật và tư tưởng. Nhìn suốt chiều dài lịch sử văn học, các tác phẩm văn học không chính thống, các tác phẩm bị đặt ra ngoài lề vì nội dung không hợp với sự khuôn định tư tưởng nào đó cũng biểu hiện cho việc nhà phê bình đã sử dụng tiêu chuẩn của các nhóm bá quyền để phân loại và định giá văn hóa nghệ thuật. Những cách nhìn và đánh giá như thế phản ánh một viễn tượng về lịch sử văn học từ góc nhìn hệ giá trị được phổ biến bởi nhóm hay giai cấp bá quyền. Chúng gạt ra bên ngoài những tiếng nói khác biệt về hệ giá trị, những tiếng nói của các nhóm thiểu số, hay là văn học thiểu số. Quan niệm của Gramsci, vì thế, có thể gợi lên những câu hỏi cho nhận thức lịch sử văn học hiện nay ở Việt Nam: lịch sử văn học cần được miêu tả như thế nào để cho thấy bức tranh đa dạng của những khác biệt, cũng như những hướng phát triển khác nhau, mà về bản chất là không thể đặt chung trong một hệ quy chuẩn và giá trị nào đó?

Để có thể đi đến một nhận thức mới về lịch sử nghệ thuật và lịch sử văn học, cần phải hiểu được vai trò của văn học đại chúng nói riêng và văn hóa đại chúng nói chung đối với quan hệ quyền lực và bá quyền của nhóm xã hội thống trị hệ thống quy chuẩn và giá trị. Trong góc nhìn của Gramsci, văn hóa đại chúng chính là không gian văn hóa mà tầng lớp trí thức, những người đại diện cho tiếng nói của các nhóm xã hội, phản hồi với sự đặt định thế giới quan của các nhóm bá quyền. Tầng lớp trí thức trong quan niệm của Gramsci không hẳn là những người được đào tạo, có bằng cấp và vị trí trong hệ thống giáo dục và khoa học, mà chủ yếu là những người sinh ra cho nhu cầu nhận thức bản sắc và vai trò của nhóm xã hội trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, nên cái nhìn của họ gắn bó với cái nhìn của các nhóm xã hội này (Gramsci 2000: 301). Trên cơ sở đó, Gramsci phân biệt hai loại trí thức, tạm gọi là trí thức cơ hữu và trí thức truyền thống. Trí thức cơ hữu là người gắn bó với các nhóm xã hội, họ nhận thức xã hội thông qua sự tham dự vào đời sống xã hội chính trị, đấu tranh cho quyền lợi và tiếng nói của nhóm xã hội. Ví dụ như các nhóm xã hội đấu tranh cho nữ quyền hay các nhóm đấu tranh cho quyền cất tiếng nói của người đồng tính luôn có những người định hình cho nhóm một bản sắc, và kiến tạo cho nhóm một cái nhìn để diễn giải lại vai trò của họ, tính cá biệt của họ, để hợp thức hóa tiếng nói của họ trong xã hội. Ngược lại là trí thức truyền thống, những người cách li hay độc lập khỏi các vấn đề xã hội. Theo Gramsci, vai trò của tầng lớp trí thức cơ hữu là tạo ra sự thương lượng (negotiation) với các định chế của các nhóm bá quyền từ thế giới quan hết sức đa dạng và khác biệt của các nhóm xã hội thiểu số. Sự thương lượng ở đây được hiểu là họ cất lên tiếng nói cho quyền và vị trí của các nhóm xã hội, giữ vị trí trung gian giữa các nhóm bá quyền và các nhóm thiểu số. Chính ở đây, Gramsci cho rằng xã hội dân sự (civil society), với sự tồn tại của các nhóm xã hội khác nhau dưới hình thức các định chế tư nhân, tạo nên một không gian đa dạng và nhiều chiều cho tầng lớp trí thức việc thực hiện vai trò thương lượng cho các nhóm xã hội của họ.

Gramsci đề cập đến tầng lớp trí thức là các nhà văn. Theo ông, nhà văn khác với nhà chính trị ở chỗ họ có thể thấy được những khác biệt trong hình thức ổn định, nhận ra được mâu thuẫn giữa các nhóm xã hội. Gramsci phân tích trường hợp sự thành công của vở kịch Ngôi nhà búp bê của Ibsen như là trường hợp tiêu biểu. Vở kịch kể về một người vợ sống trong xã hội mà quyền hợp pháp của người phụ nữ về tài sản không được chấp nhận. Cô ta muốn giúp chồng nên đã phải vay nợ một cách không hợp pháp, nhưng lại bị người chồng phê phán và xem thường vì hành động đó. Cuối cùng, cô đã rời bỏ người chồng của mình. Vở kịch cất lên tiếng nói của người phụ nữ mà vị trí của họ không được xem trọng, và thừa nhận, thậm chí là từ người chồng của mình, vì thế hành động tốt đẹp của họ bị phê phán cả về mặt nhận thức và đạo đức. Trong vở kịch này, nhà văn đã thể hiện khuynh hướng đạo đức và tinh thần đại diện cho xu hướng mới của xã hội đấu tranh chống lại bá quyền trong nhận thức về vai trò khác nhau của giới, thể hiện sự trưởng thành có tính lịch sử trong bản thân hành vi xã hội. Theo Gramsci, sở dĩ vở kịch có được sự thành công như thế là do Ibsen đã sống trong đời sống thực với “toàn bộ những nhu cầu mâu thuẫn” của nó, nên vở kịch của ông đem đến được “sự đồng cảm sâu sắc” từ đại chúng (Gramsci 2000: 372-373). Vì thế, nó đại diện cho tiếng nói của trí thức thỏa thuận với các định chế bá quyền trực tiếp của nhà nước do các nhóm có quyền lực lãnh đạo.

Nhìn chung Gramsci đã gắn kết ý niệm về đại chúng (popular) trong văn hóa đại chúng và văn học đại chúng nói riêng với vấn đề bá quyền văn hóa hơn là vấn đề phổ biến văn hóa và các hệ giá trị văn hóa. Theo đó, tiếng nói thiểu số sở dĩ là thiểu số vì nó xuất phát từ nhu cầu cá nhân phổ quát nhưng bị đè nén và áp chế về mặt giá trị bởi các định chế xã hội bá quyền. Để thoát khỏi vị thế thiểu số, nó phải được nhận thức, được diễn giải, và được phổ biến thế giới quan của mình thông qua sự thương lượng để tạo nên những hệ giá trị khác nhau thể hiện những nhu cầu và viễn tượng khác nhau của con người trong đời sống thực. Và không gian đa dạng hết sức khác nhau của văn hóa đại chúng chính là nơi các tiếng nói thiểu số có thể thực hiện được vai trò của chúng. Có thể nói như Stuart Hall (2002), điều Gramsci gợi ra vẫn còn hữu ích cho chúng ta hôm nay chính là sự tôn trọng những cái khác biệt, là việc lắng nghe âm vọng lịch sử từ những tiếng nói khác, những tiếng nói chưa định hình, cố kết, mà còn tồn tại dưới dạng hỗn độn, chưa có giá trị, và thậm chí không có khung để đánh giá chúng. Muốn vậy, chúng ta phải vượt qua những hệ thống quy chuẩn và giá trị được định chế hóa, đã cố kết trong nhận thức của chúng ta về lịch sử, về sự sinh thành, tồn tại và lặng im của các tiếng nói trong đời sống văn hóa.

 

 

08/2018 – 04/2019

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN:

 

  1. Antonio Gramsci, 2000, The Gramsci Reader, Selected Writings 1916-1935, David Forgacs (ed), New York: New York University.
  2. Joseph V. Femia, 1981, Gramsci’ Political Thought: Hegemony, Consciousness, and the Revolutionary Process, New York: Clarendon Press Orfoxd University Press.
  3. Stuart Hall, 2002, “Reading Gramsci” in Roger Simon, Gramsci’ Political Thought, London: Lawrence & Wishart.
  4. Hans Robert Jauss, 1970, Literaturgeschichte als Provokation, Frankfurt/Main: Suhrkamp.
  5. Steve Jones, 2006, Antonio Gramsci, London: Routledge.
  6. Chatal Mouffe, 1979, Gramsci and Marxist Theory, London: Routledge.
  7. Dominic Strinati, 2004, An Introduction to Theories of Popular Culture, London: Routledge.
  8. Mác và Ăng-ghen, 1981, “Lời nói đầu Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập 2, Hà Nội: Sự thật.
  9. Mark CJ Stoddart, 2007, “Ideology, Hegemony, Discourse: A Critical Review of Theories of Knowledge and Power,” Social Thought & Research, Vol. 28, Social “Movements” (2007), pp. 191-225.

 

Read Full Post »

Con đường nghiên cứu của mình chủ yếu là tự học tự rút kinh nghiệm. Trong suốt thời gian tự học và rút kinh nghiệm này, điều luôn làm mình băn khoăn là câu hỏi: thế nào là một nghiên cứu có giá trị. Tất nhiên là có nhiều tài liệu viết về điều này, nhưng ai cũng biết từ kinh nghiệm của người khác thành nhận thức của mình phải qua quá trình thực hành trải nghiệm. Rất may là mình có một thời gian ngắn trao đổi và hợp tác nghiên cứu ở University of Oregon, trong đó có nhiệm vụ hoàn tất một một nghiên cứu về Việt Nam. Thời gian này mình rút ra một vài ghi nhận bước đầu về nghiên cứu khoa học. Theo đó, nghiên cứu khoa học, dù vấn đề và phạm vi nghiên cứu khác nhau, thì cần những tiêu chí sau:

1/ Tính mới và tính chất vấn. Nhiệm vụ của khoa học là mở rộng và thay đổi bức tranh kiến thức của chúng ta về thế giới. Tính mới trong nghiên cứu có thể hiểu là mở ra một góc nhìn mới, một nhận thức mới so với lịch sử vấn đề nhận thức về hiện tượng. Mặt khác, tính mới có nghĩa là tính chất vấn. Một kết quả nghiên cứu mới thì có nghĩa là nó phải chất vấn và phê phán thành công những nhận thức trước đó. Nó có thể chất vấn mặt lí thuyết về hiện tượng, hoặc mặt lịch sử hiện tượng, hoặc góc nhìn về hiện tượng. Ở đây việc khảo sát lịch sử vấn đề hết sức quan trọng. Nó cho thấy nghiên cứu tạo nên bước tiến gì về mặt khoa học so với các nghiên cứu trước đó.

2/ Tính toàn diện và hoàn tất. Lần đầu tiên đọc bài báo của mình, giáo sư hướng dẫn nói: bài của anh chưa “stand alone”. Đây cũng là điều mà mình thực sự chưa hiểu hết. Khi  đặt câu hỏi về điều này cho một giáo sư khác, ông này nói, nó phải kể hết một câu chuyện. Nó có khởi đầu, có kết thúc và có kẻ thắng người bại. Tất nhiên là mình càng hoang mang hơn. Nhưng qua quá trình liên tục chỉnh sửa trước những chất vấn, mình dần dần có thể hình dung. Theo mình, nó phải trả lời hoặc cũng cấp tiền đề trả lời cho mọi chất vấn có thể có về vấn đề ấy. Về mặt phương pháp, nó cho thấy sự nhận thức rõ ràng về phạm vi, đối tượng, câu hỏi nghiên cứu và logic nghiên cứu. Một góc nhìn về hiện tượng văn học dù là trong một giai đoạn cũng phải cho thấy vì sao nó khởi đầu, vì sao nó kết thúc, vì sao nó đặc thù, tác động của nó thế nào…

3/ Tính hữu ích liên ngành và tính thú vị. Ông giáo sư cầm bài của mình hươ lên trong không khí và nói, trong phần mở đầu, tôi phải thấy có lí do gì để tôi đọc bài của anh, nó phải có điều gì thu hút tôi. Có thể tôi là người nghiên cứu một lĩnh vực khác, tôi muốn xem thử bài của anh có gợi ý gì cho tôi không, vì một kết quả nghiên cứu hữu ích về một hiện tượng sẽ có gợi ý cho nhận thức hay góc nhìn với hiện tượng khác. Điều này có liên quan đến tính thú vị. Nói một nghiên cứu cần có tính thú vị nghe có vẻ không được phù hợp lắm, vì ta thường nghĩ khoa học thì khô khan. Nhưng ta cứ hình dung mình như một đứa trẻ thơ, tò mò quan sát và khám phá thế giới này. Cái mới mẻ trong nhận thức đem đến một niềm khoái lạc về trí tuệ và nuôi dưỡng sự tò mò của đứa trẻ về những điều khác nữa. Nghĩa là, từ cái mới này gợi cảm hứng cho chúng ta suy nghĩ về những điều khác nữa. Về mặt phương pháp, nó phải được mài sắc về kết quả nghiên cứu. Theo nghĩa đó, nó phải so sánh và gợi một tầm nhìn bao quát hơn lĩnh vực mà nó xem xét. Một nghiên cứu văn học phải gợi ý cho nghiên cứu lịch sử, xã hội học, văn hoá học và chính trị học.

Vài ghi nhận ban đầu trên chắc chắc là chưa đầy đủ, nhưng cần thiết cho hành trang của mình.

Read Full Post »

Một triết gia đã nói rằng, nếu tôi đọc nhiều như họ thì tôi cũng đã biết ít như họ. Nghịch lí ở đây là nếu ta biết càng nhiều bình diện, thì ta sẽ biết càng ít về tính hệ thống của từng bình diện. Cũng phải thôi, đời có mấy khi ta có được nhiều thứ cùng một lúc.

Mấu chốt ở đây là việc chọn đọc. Theo mình, để chọn đọc, ta nên biết mình cần đọc sách gì và biết phân loại sách.

Biết mình cần gì là một câu hỏi vĩ đại. Với mình, đọc là để tìm câu trả lời cho mình, không cho ai khác và không theo ai khác. Đa phần các câu hỏi hệ trọng trong đời liên quan đến những ám ảnh cá nhân của ta mà thôi. Vì thế, mình không bàng hoàng báo hức vội vàng tìm đọc những cuốn sách mà giới này giới nọ hay nói đến, người này người nọ vừa nhắc đến. Mình cần đọc sách gì, hiểu theo nghĩa như thế, về cơ bản là cho một mục đích lâu dài. Từ mục đích đó, mình dần thiết lập một tấm bản đồ các vấn đề chủ chốt, các khái niệm chủ chốt. Rồi từ từ như người leo núi, mình vừa đi vừa ngoái nhìn lại phía sau, nghĩa là đọc lại cuốn sách đã đọc, để thay tác giả trả lời các chất vấn của người phê phán ông ta.

Thực ra, đọc ít theo quan niệm như trên của mình là một tham vọng, tham vọng đi tìm cái cốt lõi của sự hình thành lịch sử các lí thuyết (sự hình thành lịch sử, chứ không phải lịch sử định sẵn của sự hình thành). Vì thế, việc phân loại sách để đọc có tầm quan trọng nhất. Có nhiều loại sách khác nhau, và có nhiều cách đọc khác nhau đối với chúng. Phân loại sách để biết ta cần đổ công sức suy nghĩ cho loại sách nào, còn sách nào thì đọc chỉ để biết, bổ trợ cho việc suy nghĩ loại sách trên mà thôi.

Đọc để nghĩ đương nhiên là dành cho các sách kinh điển, các “key text”, các sách được viết bởi những lí thuyết gia chủ chốt, khai sinh ra một học thuyết, tạo một sự chuyển hướng nhận thức. Nhưng các sách này cũng có nhiều loại, loại khởi nguồn, loại diễn giải, và loại tổng kết. Nhất là các lí thuyết gia hiện đại, vốn là những người bị hệ thống các định chế đương đại đòi hỏi họ phải viết rất nhiều, thì việc chọn sách nào của họ để đọc là một điều không đơn giản.

Về cơ bản, các công trình khởi nguồn là các công trình mà lí thuyết gia dựa trên một trường hợp để chống lại hệ thống các quan điểm trước đó. Loại diễn giải vận dụng là loại mở rộng, giải thích, ứng dụng sang thứ khác, đa phần là do chính họ viết sau khi quan niệm mới của họ được chấp nhận và gây tranh luận. Cuối cùng là loại hệ thống hoá lại lí thuyết, khớp nối chúng với các lí thuyết hiện hành, làm cho chúng rõ hơn. Nhìn chung, cả ba loại này hoàn tất câu chuyện về một lí thuyết do lí thuyết gia để lại cho đời sau.

Ngoài các sách do lí thuyết gia chủ chốt viết ra, còn các sách nghiên cứu ứng dụng, giới thiệu dẫn nhập, trình bày lịch sử do những nhà nghiên cứu khác viết ra. Những sách này ta cũng cần phải biết đọc và sử dụng chúng, nếu không, sẽ như Alice lạc vào sứ sở thần tiên, thấy cái gì cũng kì thú nhưng không biết mỗi cái trong số chúng sẽ có thể làm gì cô bé.

Read Full Post »

Đọc ít

Thực ra mình đọc rất ít sách. Cũng do một dạo mê bonsai. Suốt ngày chỉ xem cây, vẽ cây. Nhưng cái chính là quan niệm về đọc sách của mình. Theo mình, đọc cốt không phải để biết, mà để suy nghĩ. Đọc để biết thì chủ yếu là xem người ta nói gì, đọc để suy nghĩ thì ngẫm về điều người ta nghĩ. Muốn ngẫm về sự nghĩ như vậy, thì một là phải đọc chậm, thật chậm, và đọc đi đọc lại. Hai là đọc có hệ thống.

Đọc chậm để có thời gian tìm hiểu kiến thức nền mà tác giả sử dụng làm chất liệu suy nghĩ và để dõi theo mạch lập luận của tác giả. Kiến thức nền là điều rất quan trọng. Như lí thuyết văn học chẳng hạn, có rất nhiều khái niêm triết học phương Tây mà mình không biết, rồi mỗi khái niệm như thế được các triết gia sử dụng khác nhau. Đọc Jauss có câu mình phải dừng lại mấy tháng để đọc sách của các triết gia và tra đủ các tài liệu đi hỏi thầy hỏi bạn rồi mới đọc tiếp.

Mạch lập luận là điều quan trọng không kém. Theo mình, một quan điểm lí thuyết là một toà nhà có nhiều tầng, được thiết kế với các viên gạch khái niệm và các trụ cột lập luận. Việc đọc chính là dõi theo các điểm khớp nối và suy ngẫm về tổng thể toà nhà này. Đọc như thế sẽ không phải một lần là xong, mà là đọc đi đọc lại.

Nhưng điểm chính trong cách đọc của mình là phương pháp đọc có hệ thống và lũy tiến các hệ thống. Có hệ thống nghĩa là hình dung các lí thuyết theo một tấm bản đồ. Ví dụ, đọc mỹ học Kant trong cuốn phê phán thứ ba chẳng hạn, thì Kant chống ai, và có những người nào chống Kant, sinh ra các đường hướng khác nhau thế nào. Việc đọc như thế cũng là có lũy tiến. Nghĩa là hệ thống khái niệm sẽ tích lũy và bổ trợ cho nhau trong lĩnh vực khác. Ví dụ Gramsci vượt Marx về mặt quan niệm văn hoá theo cách khác với Lukács, và Hall phát triển Gramsci về văn hoá theo cách khác với nhánh khác; nhưng Gramsci cũng sinh ra quan niệm về chính trị học được Mouffe phát triển theo cách khác với Bennett, vốn chủ yếu phát triển theo nhánh của Althusser. Và quan niệm chính trị học này sinh ra một quan niệm khác về văn hoá. Tức là đọc một triết gia chủ chốt thì có được bức tranh hệ thống của nhiều lĩnh vực. Theo mình, đây chính là mấu chốt của tư duy liên ngành.

Phương pháp đọc này làm mình rất đỡ mất sức khi đọc các nghiên cứu. Ví dụ, khi đọc một bài tạp chí nghiên cứu mình xem khái niệm công cụ nằm trong khung lí thuyết nào, xem họ xử lí dữ liệu nào và có chất vấn gì mới không. Điều này cũng tránh cho mình mất quá nhiều thời gian vào các bài nghiên cứu vận dụng, trừ phi cần tìm hiểu lịch sử vấn đề cho một nghiên cứu của mình. Đọc nhiều các bài nghiên cứu vận dụng cũng như ăn hết các trái táo để biết táo là thế nào, trong khi thực ra chỉ cần nhâm nhi một trái táo để suy nghĩ xem có thể làm gì với nó, là cách để hiểu được các khả thể của nó. Mà xét cho cùng, đời có mấy loại táo ngon đâu, nói chi đến từng trái táo.

 

Read Full Post »


Đối với “trường hợp Chu Giang”, một người tự nhận mình chuyên làm công tác “kiểm dịch” trong chốn khoa học, hiện có nhiều luồng ý kiến khác nhau về việc có nên tranh luận với ông hay không: có ý kiến cho rằng cần tranh luận, có ý kiến ngược lại là cần im lặng.


Tôi lại cho rằng thay vì đặt câu hỏi “có nên tranh luận với ông”, thì trước tiên phải đặt câu hỏi cơ bản hơn là “ông có đủ điều kiện để có thể tham dự một cuộc tranh luận (đúng nghĩa) hay không”, hiểu theo nghĩa có đủ khả năng tư duy ở mức cần thiết để có thể tham gia vào một cuộc trao đổi có tính chất khoa học hay không. Vì chỉ có những người có tư duy lành mạnh bình thường, thì mới có thể tham dự vào cuộc trao đổi khoa học trong sự tôn trọng của người khác. Và lúc ấy, việc bàn đến một luận điểm khoa học nào đó với họ, mới không là một sự xa xỉ vô nghĩa.


Tôi sẽ chứng minh rằng ông Chu Giang chưa có nổi một khả năng tư duy lành mạnh bình thường. Điều này thì chỉ cần lẩy ra một vài ý trong bài viết của ông “kiểm dịch” ông Trần Đình Sử là thấy ngay.

Trong một đoạn phê bình luận án của ông Trần Ngọc Hiếu, ông Chu Giang viết như sau:
“Biết nhiều về lý luận bên ngoài cũng tốt và cần thiết. Nhưng thực tiễn văn hoá dân tộc, thiển nghĩ, nếu không cao hơn thì cũng không kém gì các lý thuyết bên ngoài về sự chơi và trò chơi.
Hãy quan sát đời một con người, từ lúc lọt lòng cho đến khi nhắm mắt, sự chơi và trò chơi của nó và đối với nó như thế nào? Mỗi giai đoạn, mỗi hoàn cảnh… có những trò chơi gì. Từ cá nhân đến cộng đồng, dân tộc. Trò chơi của người Việt trong văn hoá trong văn học nghệ thuật như thế nào? Nếu biết tổng kết, khái quát sẽ có được một lý luận không kém gì của thiên hạ. Dân gian ta nói gì?Làm trai cho đáng nên trai/ Phú Xuân cũng trải Đồng Nai cũng từng. Cụ nghè Trần Bích San có câu Văn vô sơn thuỷ phi kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài. Ông bà ta nói: Nghề chơi cùng lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn… là một lý thuyết cực kỳ sâu sắc về trò chơi…”. (hết trích).


Đoạn trên ông Chu Giang vì cố chứng minh rằng “thực tiễn văn hóa dân tộc, thiển nghĩ, nếu không cao hơn thì cũng không kém gì các lý thuyết bên ngoài” nên đã đánh đồng tri thức khoa học và kinh nghiệm dân gian. Kinh nghiệm dân gian được đúc kết để dạy con người cách sống và ứng xử, còn tri thức khoa học là sự phân tích để tìm ra bản chất và quy luật phổ quát của các hiện tượng thực tiễn. Ngay một quan niệm tưởng như đơn giản là quan niệm về “trò chơi”, đã có bao nhiêu khuynh hướng lí thuyết, bao nhiêu công trình thuộc về các lĩnh vực triết học, tư tưởng, văn hóa… Tôi nghĩ chỉ cần một thao tác cơ bản trên google, tra các khái niệm “game theory”, “play” hoặc các khái niệm liên quan, là ông có thể cập nhật cho mình rất nhiều kiến thức cơ bản, chắc chắn phong phú, hệ thống, chi tiết và phổ quát hơn nhiều các kinh nghiệm dân gian mà ông đã dẫn.

Nhưng tôi không chủ ý trao đổi với ông về kiến thức, mà như đã nói, chỉ ra một điều cơ bản hơn, đó là khả năng tư duy không lành mạnh bình thường của ông. Đoạn sau đây cho thấy rõ hơn điều ấy.
“Về sự chơi và trò chơi, nói lý thuyết đến bao nhiêu cũng không thừa, dù có dẫn cổ kim đông tây đến thiên kinh vạn quyển cũng thế. Nhưng chỉ cần nhớ: Nghề chơi cũng lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn cũng đủ.” (hết trích)

Tôi rất ngạc nhiên khi ông có thể quy giản toàn bộ “cổ kim đông tây đến thiên kinh vạn quyển” vào đôi ba câu đúc kết kinh nghiệm dân gian. Bằng cách tư duy như thế này, tôi nghĩ có lẽ ông có thể khuyên mọi người không cần vào trường đại học, không cần học tập, nghiên cứu, nghĩa là có thể loại bỏ hoàn toàn các thể chế khoa học, mà chỉ cần quay về với tục ngữ và kinh nghiệm dân gian, để xây dựng và phát triển đất nước.
Một tư duy không lành mạnh bình thường như thế rõ là không đủ điều kiện và khả năng cần thiết để có thể hiểu phát ngôn khoa học của người khác. Và tôi hoàn toàn có thể nghi ngờ những gì ông tự nhận là “kiểm dịch”, những lời bàn to tát của ông về công trình của các nhà khoa học chân chính.

Tôi nghĩ cái thời mà một người không có khả năng tư duy lành mạnh bình thường vẫn có thể huênh hoang trong lĩnh vực khoa học đã không còn nữa. Đây là thời hiện đại, thời mà mỗi người khẳng định mình bằng khả năng thực tiễn, chứ không phải bằng việc đóng vai trò “kiểm dịch” để tham dự vào không gian học thuật mà mình vốn dĩ không thể thuộc về.

An Thảo. 2015

Read Full Post »

Sau đây là truyện mà Norman Holland lấy làm hình mẫu phân tích sự thỏa mãn vô thức của người đọc trong tác phẩm: Truyện kể về chàng hiệp sĩ vì “tòm tem” với một thiếu nữ nên thay vì bị xử chém thì để thoát tội chết chàng phải đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “người phụ nữ mong muốn nhất điều gì?” Để có được câu trả lời đúng đắn vốn luôn khác nhau đối với mỗi người, chàng phải nhận lời với một bà già là thực hiện một mong muốn của bà ấy để có được câu trả lời. Sau khi nhận lời khuyến cáo rằng phụ nữ thường không nói ra điều mình mong muốn, và sau đó là sự giúp đỡ của bà già bằng cách trả lời trước những người yêu cầu rằng điều phụ nữ mong muốn nhất là phục tùng người yêu hay chồng mình, chàng hiệp sĩ đã thoát khỏi tội chết; tuy nhiên chàng phải thực hiện lời hứa, là cưới bà già xấu xí và hôi hám, người đã cho chàng câu trả lời đúng. Chàng miễn cưỡng cưới bà già và rất u sầu mỗi khi hai vợ chồng phải ngủ với nhau. Hiểu được tâm tư ấy, một hôm, người vợ già hôi hám của chàng hỏi vì sao chàng buồn. Và khi nghe được lời nói thật lòng, người vợ già ấy đã hỏi chàng rằng, chàng muốn một người phụ nữ già nhưng chung thủy dịu dàng hay một người phụ nữ trẻ đẹp nhưng đỏng đảnh và chẳng mấy thủy chung. Chàng trai trả lời rằng tùy người vợ già của anh muốn gì, vì anh hoàn toàn tin cậy ở bà. Người vợ già lập tức biến thành cô gái trẻ đẹp xinh xắn và yêu chàng trai chung thủy suốt đời. Các bác có thấy thỏa mãn điều gì không, hehe?

Read Full Post »

Older Posts »