Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI VIẾT’ Category

 

Văn hóa và văn học đại chúng có vai trò như thế nào trong đời sống văn hóa và xã hội? Hiểu như thế nào về sự khác biệt và va chạm giữa văn hóa đại chúng và văn hóa tinh hoa, văn học đại chúng và văn học tinh hoa? Những câu hỏi trên nêu lên vấn đề quan trọng và bức thiết của văn hóa và xã hội đương đại Việt Nam, một xã hội có sự chuyển mình nhưng chưa thực sự chuyển hóa kể từ sau thời kì Đổi mới – 1986. Ta nhìn thấy ở đây một mặt là sự hồi sinh và lớn mạnh của các tiếng nói khác nhau của văn hóa đại chúng và mặt khác là những quy chuẩn và hệ giá trị vốn được xây dựng trên cơ sở văn hóa tinh hoa được định chế hóa vẫn được sử dụng trong việc đánh giá văn hóa nghệ thuật. Câu hỏi sinh ra trong trường hợp này là có nên tạo ra sự đa dạng hóa các tiêu chuẩn đánh giá văn hóa nghệ thuật, trong đó có văn hóa đại chúng? Nhưng sâu xa hơn là vấn đề cơ sở và quan hệ quyền lực của các hệ giá trị đánh giá văn học và văn hóa: các hệ giá trị này hình thành từ đâu và tồn tại ra sao trong bối cảnh xã hội đương đại? Antonio Gramsci, lí thuyết gia người Italia, sẽ cung cấp cho chúng ta những gợi ý để nhận diện vấn đề này[i]. Bằng những phân tích về quan hệ quyền lực và bá quyền văn hóa của các nhóm xã hội và ý tưởng về sự thương lượng (negotiation) giữa các nhóm xã hội, Gramsci mở ra một tầm nhìn được gợi ý từ Marx về sự giải phóng những tiếng nói thiểu số khỏi sự áp bức về mặt ý hệ của các nhóm bá quyền.

 

Văn hóa và bá quyền

 

Góc nhìn về văn hóa của Gramsci là sự khai triển quan điểm của Marx về nhận thức mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong quyển Những ghi chép trong tù tập 10, Gramsci viết: “Định đề nằm trong Lời nói đầu cho cuốn Góp phần phê phán kinh tế chính trị cho rằng con người ý thức được các xung đột cơ sở hạ tầng ở cấp độ của các ý hệ nên được xem như là một khẳng định về giá trị nhận thức luận chứ không đơn thuần là giá trị tâm lí hay đạo đức” (Gramsci, 2000: 192). Trong Lời nói đầu này, khi nhận định về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, Marx cho rằng xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất còn thể hiện ở cấp độ kiến trúc thượng tầng qua sự ý thức về đấu tranh ý hệ. Ông viết: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Khi nghiên cứu những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng phải phân biệt cuộc đảo lộn vật chất – mà người ta có thể xác nhận được với một sự chính xác của khoa học tự nhiên – trong những điều kiện kinh tế của sản, với những hình thái pháp lí, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học, tóm lại, với những hình thái tư tưởng trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết cuộc xung đột ấy” (Mác và Ăng-ghen, 1981: 638). Tuy nhiên, trong khi Marx cho rằng phải giải thích mâu thuẫn giai cấp từ cơ sở kinh tế, tức là mâu thuẫn và đấu tranh giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, thì Gramsci cho rằng bình diện ý hệ (ideology) mới là đầu mối để nhận thức vấn đề mâu thuẫn giai cấp. Không những thế Gramsci còn cho rằng ý thức của con người về xung đột ý hệ và đấu tranh giải quyết xung đột này mới là phương pháp luận cho nhận thức xã hội và lịch sử, chứ không chỉ là bình diện biểu hiện của mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp. Là bởi vì, đối với ông, chính ý thức của con người về xung đột mới là hiện thực của ý hệ. Ý hệ không sinh ra và tồn tại như cái gì tự trị và tự tại, nó sinh ra trong ảo tượng (illusion) của con người về sự quy định (determination) trong động hướng (moment) vượt bỏ cái khác đối lập với mình, qua đó tìm kiếm vị trí và ý nghĩa của bản thân mình trong đời sống hiện thực và trong lịch sử, một ý niệm ảnh hưởng quan niệm của Hegel trong cuốn Hiện tượng học tinh thần về làm chủ và làm nô. Nhưng khác với Marx trong sự ảnh hưởng Hegel, Gramsci phân tích nguồn gốc của mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp trong phạm vi ý thức con người, thay vì trong cơ sở kinh tế chính trị.

Không phải ngẫu nhiên mà dù đã nêu lên vấn đề bá quyền trong bài viết Một số khía cạnh về vấn đề Miền Nam giai đoạn 1926, nhưng phải đến quyển ghi chép số 10, tức khoảng năm 1932-1935, sau khi vào tù, Gramsci mới khái quát ý niệm này thành vấn đề phương pháp luận. Trước đó, ông chỉ nêu lên vấn đề bá quyền như là liên minh giai cấp để thực hiện cuộc cách mạng xã hội. Chantal Mouffe, lí thuyết gia chính trị và là một trong số chuyên gia hàng đầu về Gramsci, đã giải thích rằng bước chuyển trong quan niệm về bá quyền bắt đầu từ quyển viết tay số 4, tức năm 1930-1932, sau khi ông phân tích về các quan hệ quyền lực trong xã hội (Mouffee, 1979: 180-181). Bước chuyển sang vấn đề phương pháp luận này thể hiện ở chỗ ông xem vấn đề lãnh đạo cách mạng xã hội về mặt tư tưởng không chỉ là vấn đề chỉ của giai đoạn cách mạng, mà là vấn đề liên quan đến bản chất của xã hội con người, và trong vấn đề ấy, bá quyền hiện lên như là cái gì tất yếu, và quan hệ quyền lực chỉ là hình thức biểu hiện của nó mà thôi. Như thế là Gramsci đã phát triển ý niệm về mâu thuẫn trong quan niệm của Hegel không phải chỉ như là một vấn đề của tiến trình lịch sử hiện thực, qua đó, xã hội phải vượt bỏ mâu thuẫn của chính nó để vươn lên hình thức cao hơn, mà còn như là một vấn đề của sự tạo thành xã hội. Nói cách khác, đây không phải là vấn đề xã hội có thể được thay đổi để tiến bộ hơn bằng cuộc cách mạng về giải quyết mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng kinh tế, như quan niệm của Marx, mà là vấn đề nhận thức về cấu trúc hiện thực của xã hội ở cấp độ ý hệ.

Chính ở chỗ này mà Gramsci chuyển vị nhận thức của ông về xã hội sang thực hành bá quyền. Bởi vì ý thức của con người về xung đột của ý hệ và sự đấu tranh chống lại ý hệ đối lập của họ chỉ hiện ra rõ nhất trong hệ thống những thực hành xã hội, tức là vấn đề của chính trị học. Đây là điểm khác thứ hai của ông về mặt phương pháp luận so với tiếp cận của Marx. Khác với Marx, người xem sự phân tích kinh tế chính trị học mới là phương pháp luận cho nhận thức xã hội tư bản, Gramsci di chuyển nó sang vấn đề lí thuyết và thực hành chính trị. Điều này không có nghĩa là ông không xem trọng vấn đề kinh tế, như giải thích của một số nhà nghiên cứu chỉ chú trọng phân tích lời phê phán của ông về góc nhìn duy kinh tế, mà điều này có nghĩa là đối với ông, các quan hệ quyền lực mà nhóm lãnh đạo ý thức và thực hiện bá quyền thông qua chúng như là công cụ đấu tranh ý hệ mới là điều quan trọng. Đó là lí do mà ngay sau câu trích dẫn về ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức về đấu tranh ý hệ, ông viện dẫn Lenin: “Do đó mà nguyên tắc lí thuyết-thực hành về bá quyền cũng có ý nghĩa nhận thức luận, và chính ở đây mà ta cần tìm hiểu sự đóng góp lí thuyết vĩ đại nhất của Ilyich [Lenin] cho triết học thực hành. Về mặt này ta có thể nói rằng Ilyich đã thúc đẩy triết học xét như là triết học trong chừng mực ông ta thúc đẩy học thuyết chính trị và thực hành chính trị” (Gramsci, 2000: 192). Steve Jones giải thích rằng Gramsci dẫn chiếu đến Lenin là vì Lenin xem trọng vai trò của đấu tranh tư tưởng và văn hóa, nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân như là một giai cấp lãnh đạo trong việc kiểm soát tư tưởng và định chế, và cuối cùng, cuộc đấu tranh cách mạng là cuộc đấu tranh của toàn bộ các giai cấp và tầng lớp bị áp bức, không chỉ là cuộc đấu tranh của người lao động về mặt kinh tế (Steve Jones, 2006: 43). Tuy nhiên, từ góc độ sự phát triển của khái niệm như đã nêu, có thể thấy sự dẫn chiếu đến Lenin ở đây không có nghĩa là Gramsci lấy Lenin như là một hình mẫu của bá quyền, mà có nghĩa là trường hợp Lenin sẽ cho thấy rằng nhận thức về hiện thực của thực hành bá quyền trong hình thức quan hệ quyền lực ở lĩnh vực chính trị chính là phương pháp luận để nhận diện thực tại xã hội.

Chính do đó mà Gramsci đã nâng tính phổ quát của vấn đề bá quyền: bá quyền sinh ra từ nhu cầu tồn tại và khẳng định vị trí của nhóm xã hội. Cũng trong đoạn trên, Gramsci viết, “Sự hiện thực hóa công cụ bá quyền, trong chừng mực nó tạo ra lĩnh vực ý hệ mới, quy định sự cải tạo ý thức và sự cải tạo các phương pháp của tri thức: nó là một sự kiện của tri thức, một sự kiện có tính triết học” (Gramsci, 2000, 192). Bá quyền hiểu theo nghĩa này không phải là sự trấn áp bạo lực mà là sự phổ biến các ý hệ mới của nhóm xã hội, thay đổi nhận thức và phương pháp nhận thức của xã hội. Vì thế nó là sự kiện của nhận thức và tri thức, sự kiện có tính triết học nhiều hơn là có tính thực hành bạo lực cách mạng. Ví dụ như các nhóm thiểu số người đồng tính, nhóm đấu tranh cho nữ quyền, để khẳng định quyền và nhu cầu cũng như cất lên tiếng nói cho quyền và nhu cầu đó, các nhóm này tạo ra các diễn ngôn diễn giải lại nhận thức của xã hội về họ, nhằm chống lại những người có quan niệm kì thị, nêu ra những đề nghị tác động đến các định chế bá quyền trực tiếp là luật pháp và sự quản lí nhà nước. Đó chính là hình thức khởi nguyên của sự phổ biến ý hệ và nhận thức mới, một hình thức bá quyền về ý nghĩa và diễn giải ý nghĩa.

Nhìn chung, có mấy đặc điểm về bá quyền trong quan niệm của Gramsci. Thứ nhất, bá quyền không phải là hành động mà là mối quan hệ; nó không phải là hành động áp bức đơn thuần của người này với người kia, nhóm này với nhóm kia, mà là quan hệ giữa áp bức và tuân chịu về mặt ý hệ. Một nhóm xã hội muốn chi phối và phổ biến, nó thực hiện những đặt định về ý hệ bằng nhiều hình thức khác nhau, đòi hỏi sự tuân chịu của các thành viên. Nó giáo dục và tuyên truyền văn hóa, phổ biến cái nhìn về thế giới của nó, định hình nên các hệ giá trị và các chiến lược cấp nghĩa cho sự vật thông qua các định chế xã hội. Chỉ khi tất cả những điều này được các thành viên chấp nhận và tuân theo thì bá quyền mới tồn tại. Thứ hai, thực hành bá quyền có tính chất tiến trình. Ông gọi đó là cuộc chiến về vị thế (war of position), trong đó các định chế xã hội dần dần lan tỏa ảnh hưởng thông qua phổ biến và đặt định quan niệm về thế giới, cách giải thích thế giới. Những tiếng nói khác biệt được chuyển hóa dần và hòa nhập vào quan niệm của nhóm bá quyền theo tiến trình thương lượng (negotiation). Cuối cùng, bá quyền là sự chuyển động mềm dẻo và phức tạp, nó không đơn thuần là sự bắt buộc một chiều và nhất thành bất biến. Nó là tiến trình thỏa thuận và thương lượng, ta chấp nhận điều gì đó để nhận được điều gì đó, được thuyết phục để tin vào điều gì đó để làm điều gì đó đáp ứng sự mong mỏi của ta. Các nhóm xã hội thực hiện bá quyền bằng cách phổ biến, thuyết phục, thông qua thỏa thuận, để nhận được sự ưng chịu/ tuân chịu các giá trị nào đó, góc nhìn và quan niệm nào đó. Đóng góp của Gramsci ở đây là phương pháp nhận thức kiến trúc thượng tầng của xã hội thông qua tổng thể thực hành bá quyền hay là tổng thể các quan hệ quyền lực của các nhóm xã hội. Góc nhìn này của ông tạo nên cái gọi là trào lưu “Trở về với Gramsci” (Turn to Gramsci) trong nghiên cứu văn hóa Anh-Mỹ.

 

Văn hóa đại chúng và lịch sử nghệ thuật

 

Bá quyền trong quan niệm của Gramsci là vấn đề sự kiến tạo, khuôn định, duy trì và phổ biến quan niệm về thế giới/ thế giới quan của nhóm xã hội. Vì vậy, bá quyền đặt định khuôn khổ để đánh giá các hiện tượng văn hóa nghệ thuật từ thế giới quan của nhóm hay giai cấp dẫn dắt xã hội, tạo nên sự phân biệt giữa văn hóa bình dân và văn hóa tinh hoa, văn hóa tiến bộ và văn hóa đi ngược với sự tiến bộ, phản động. Ý niệm này thể hiện qua việc Gramsci phân biệt giữa mô hình con người chính trị và mô hình con người nghệ sĩ trong xã hội. Con người chính trị nhìn mọi hiện tượng theo viễn tượng chúng được sắp xếp trong một trật tự phát triển cho mục đích cuối cùng. “Đối với nhà chính trị, mỗi hình ảnh được cố định hóa là một sự phản động tiên nghiệm (a priori reactionary): anh ta xem xét sự vận động toàn bộ qua sự phát triển của nó” (Gramsci, 2000: 396). Con người nghệ sĩ thì không như vậy, anh ta phải khớp nối các hình ảnh đầy màu sắc vào hình thức xác định, theo cách thức đầy mâu thuẫn và khác biệt. Do đó Gramsci cho rằng hai con người này không thể chấp nhận nhau và đồng nhất với nhau. Trong góc nhìn đó, Gramsci phê bình cách nhìn có tính chất chính trị đối với lịch sử nghệ thuật, xem lịch sử nghệ thuật như là lịch sử tiến triển của các trường phái, theo một lược đồ của những sự tiến bộ: “Một sai lầm nghiêm trọng là chấp nhận một chiến lược chiến triển duy nhất theo đó mỗi sự tăng tiến mới tích lũy và trở thành tiền đề cho sự tăng tiến cao hơn. Không chỉ vì các chiến lược vốn đa tạp, mà ngay cả chiến lược gọi là tiến triển nhất cũng có những moment thoái lui” (Gramsci, 2000: 397). Cái nhìn về lịch sử nghệ thuật như là lịch sử của sự tiến bộ như thế sẽ chỉ khái quát hiện thực của nghệ thuật theo viễn tượng và tầm nhìn của nhà nghiên cứu, và theo đó, đời sống nghệ thuật hiện ra như là trật tự định sẵn và tất yếu, cái trước tác động đến cái sau và là tiền đề cho cái sau.

Theo Gramsci, cái nhìn về lịch sử nghệ thuật như vậy đã bỏ qua các tác phẩm văn học đại chúng. Trong đoạn đã dẫn trên, phê bình một người viết đã nhìn lịch sử văn học theo góc nhìn chính trị, Gramsci viết: “Hơn nữa, Nizan không biết cách xem xét cái gọi là văn học đại chúng, bình diện văn học đạt đến sự thành công của sê-ri văn học nhiều tập (tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết phiêu lưu và tiểu thuyết kinh dị) trong đại chúng nhờ vào điện ảnh và báo chí truyền thông” (Gramsci, 2000: 397). Lịch sử văn học trong viễn tượng của Gramsci là lịch sử quan hệ quyền lực giữa các nhóm, trong đó nhóm thống trị khuôn định ý hệ và quan niệm về thế giới, qua đó khuôn định cái nhìn về lịch sử nghệ thuật, và vì thế đã không xét đến bình diện của văn hóa và văn học đại chúng. Hans Robert Jauss cũng đã từng phê phán cách nhìn lịch sử văn học như vậy khi ông đòi hỏi một cách đặt vấn đề mới cho nhận thức lịch sử nghệ thuật từ góc nhìn người đọc (Jauss, 1970). Nhưng do quá gắn bó với quan niệm về lịch sử văn học từ góc nhìn của các nhà chủ nghĩa hình thức Nga, nên Jauss đã xem văn học đại chúng, vốn không thách thức chân trời chờ đợi của người đọc, là văn học có tính chất “bếp núc” chiều lòng người thưởng thức, và vì thế, nằm ngoài sự tiến triển của lịch sử nghệ thuật. Trái với Jauss, Gramsci cho rằng chính không gian của văn hóa đại chúng, với các thể loại của văn học đại chúng và truyền thông đại chúng, là nơi các tiếng nói khác biệt được cất lên, nơi sự phong phú đa dạng nằm ngoài trật tự đang trong trạng thái khởi nguyên, sinh thành.

Quan niệm của Gramsci gợi ý vấn đề đánh giá văn học, phân loại văn học và nhận thức lịch sử văn học. Thực tại đời sống văn học với những sáng tác vô cùng phong phú, đa dạng, luôn được lựa chọn, đánh giá từ hệ thống quan niệm nào đó. Trong quá khứ, văn học chữ Nôm thường bị các nhà nho cho là “nôm na mách qué”, như Truyện Kiều và thơ Hồ Xuân Hương. Theo góc nhìn này, văn học chữ Nôm không thuộc hệ chuẩn của nho giáo, không có vai trò giáo hóa xã hội. Trong giai đoạn hiện đại, văn học đại chúng như tiểu thuyết võ hiệp, tiểu thuyết dã sử và tiểu thuyết ngôn tình từng bị đặt ra ngoài lề của lịch sử văn học, theo nghĩa chúng không nằm trong lịch sử tiến triển của các trường phái hay sự cách tân nghệ thuật và tư tưởng. Nhìn suốt chiều dài lịch sử văn học, các tác phẩm văn học không chính thống, các tác phẩm bị đặt ra ngoài lề vì nội dung không hợp với sự khuôn định tư tưởng nào đó cũng biểu hiện cho việc nhà phê bình đã sử dụng tiêu chuẩn của các nhóm bá quyền để phân loại và định giá văn hóa nghệ thuật. Một lịch sử văn học nhìn nhận và đánh giá các tác phẩm từ góc nhìn hệ giá trị được phổ biến bởi nhóm hay giai cấp bá quyền sẽ chỉ khái quát các khuynh hướng văn học trong một viễn tượng thống nhất về thế giới. Nó sẽ gạt ra bên ngoài những tiếng nói khác biệt, những tiếng nói của các nhóm thiểu số, hay là văn học của thiểu số. Quan niệm của Gramsci vì thế, có thể gợi lên những câu hỏi cho nhận thức lịch sử văn học hiện nay ở Việt Nam.

 

Văn học đại chúng và vai trò của tầng lớp trí thức

 

Như vậy thì văn học đại chúng nói riêng và văn hóa đại chúng nói chung có vai trò gì đối với quan hệ quyền lực và bá quyền của các nhóm xã hội? Trong góc nhìn của Gramsci về văn hóa như là biểu hiện của quan hệ quyền lực giữa các nhóm xã hội thì văn hóa đại chúng có vai trò phản hồi với sự đặt định thế giới quan của các nhóm bá quyền. Quan niệm này của Gramsci chính là sự phát triển ý niệm của Marx về sự ý thức về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trên bình diện ý hệ trong kiến trúc thượng tầng của xã hội[ii]. Đóng vai trò trong cuộc đấu tranh này là tầng lớp trí thức, những người sáng tạo nên văn học đại chúng. Theo Gramsci, trí thức là người có điều kiện lắng nghe và đại diện cho tiếng nói của các nhóm thiểu số để tạo nên những thỏa thuận với sự lãnh đạo của nhóm bá quyền. Mặt khác, tầng lớp trí thức sinh ra cho nhu cầu của nhóm xã hội, vì vậy cái nhìn của họ gắn bó với cái nhìn của các nhóm xã hội, trong đó có những trí thức thực hiện vai trò phổ biến bá quyền văn hóa. “Mỗi nhóm xã hội để thiết lập một phạm vi riêng biệt cho chức năng cơ bản của nó trong thế giới của sản xuất kinh tế, cùng với sự sáng tạo chính mình, nó tạo ra một hay nhiều tầng lớp trí thức nhằm đem đến cho nó một bản sắc và sự nhận thức về vai trò của riêng nó không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong các lĩnh vực chính trị và xã hội”. (Gramsci, 2000: 301).

Trên cơ sở đó, Gramsci phân biệt hai loại trí thức, tạm gọi là trí thức cơ hữu và trí thức truyền thống. Trí thức cơ hữu là người gắn bó với các nhóm xã hội, họ không chỉ biết, mà là biết trong hành động, trong thực hành, trong sự tham dự vào đời sống xã hội chính trị, đấu tranh cho quyền lợi và tiếng nói của nhóm xã hội. Ví dụ như các nhóm xã hội đấu tranh cho nữ quyền hay các nhóm đấu tranh cho quyền cất tiếng nói của người đồng tính chẳng hạn, luôn có những người định hình cho nhóm một bản sắc, và kiến tạo cho nhóm một cái nhìn để diễn giải lại vai trò của họ, tính cá biệt của họ, để hợp thức hóa tiếng nói của họ trong xã hội. Ngược lại là trí thức truyền thống, những người cách li hay độc lập khỏi các vấn đề xã hội. Theo ông, trí thức cơ hữu, một mặt phục vụ cho các nhóm xã hội bá quyền, một mặt, lắng nghe được tiếng nói phản ứng từ văn hóa đại chúng. Vì vậy, vai trò của họ là tạo ra một sự thương lượng với các định chế từ thế giới quan hết sức đa dạng và khác biệt của văn hóa đại chúng. Sự thương lượng (negotiation) ở đây được hiểu như là cất lên tiếng nói cho quyền và vị trí của các nhóm xã hội, giữ vị trí trung gian giữa các nhóm bá quyền và các nhóm thiểu số. Theo Gramsci, chính xã hội dân sự (civil society), với sự tồn tại của các nhóm xã hội khác nhau dưới hình thức các định chế tư nhân, tạo nên một không gian đa dạng và nhiều chiều cho sự thực hiện vai trò thương lượng của tầng lớp trí thức.

Gramsci đề cập nhiều đến tầng lớp trí thức là các nhà văn. Theo ông, nhà văn khác với nhà chính trị ở chỗ họ có thể thấy được những khác biệt trong hình thức ổn định, nhận ra được những mâu thuẫn của các nhóm xã hội. Gramsci phân tích trường hợp sự thành công của vở kịch Ngôi nhà búp bê của Ibsen như là trường hợp tiêu biểu. Vở kịch kể về một người vợ sống trong xã hội mà quyền hợp pháp của người phụ nữ về tài sản không được chấp nhận. Cô ta muốn giúp chồng nên đã phải vay nợ một cách không hợp pháp, nhưng lại bị người chồng phê phán và xem thường vì hành động đó. Cuối cùng, cô đã rời bỏ người chồng của mình. Vở kịch cất lên tiếng nói của người phụ nữ mà vị trí của họ không được xem trọng, và thừa nhận, thậm chí là từ người chồng của mình, vì thế hành động tốt đẹp của họ bị phê phán cả về mặt nhận thức và đạo đức. Theo Gramsci, sở dĩ vở kịch có được sự thành công như thế là do Ibsen đã nắm bắt được “những nhu cầu mâu thuẫn” của đời sống thực, nên vở kịch của ông đem đến được “sự đồng cảm sâu sắc” từ đại chúng (Q12, mục 6, tr.372-373). Trong vở kịch này, nhà văn đã viết nên một vở kịch với khuynh hướng đạo đức và tinh thần đại diện cho xu hướng mới của xã hội, đấu tranh chống lại bá quyền trong nhận thức và đặt định vai trò khác nhau của giới. Do đó vở kịch đại diện cho tiếng nói của trí thức thỏa thuận với các định chế bá quyền trực tiếp của nhà nước do các nhóm có quyền lực lãnh đạo.

Ví dụ trên của Gramsci nêu lên vấn đề sự nhận thức và diễn giải xã hội của người viết văn, qua đó, họ có thể viết nên những tác phẩm nói lên tiếng nói của các nhóm thiểu số trong xã hội. Điều quan trọng là ý tưởng của ông gắn kết ý niệm về đại chúng (popular) với các vấn đề bá quyền văn hóa hơn là vấn đề sự phổ biến văn hóa, và nó tiền giả định rằng tiếng nói thiểu số sở dĩ có thể được chia sẻ bởi vì những tiếng nói này xuất phát từ những nhu cầu cá nhân phổ quát bị đè nén và áp chế bởi các định chế xã hội bá quyền. Nghĩa là, nó được gợi cảm hứng sâu xa từ quan niệm của Marx về mâu thuẫn, đấu tranh và đòi hỏi về sự giải phóng giai cấp bị áp bức khỏi sự áp bức. Chỉ có điều đó không phải là sự giải phóng trên cơ sở kinh tế và lao động, mà là sự giải phóng trên cơ sở ý hệ; vì thế, trong sự giải phóng này, tầng lớp trí thức có vai trò quan trọng chứ không phải là tầng lớp lao động.

 

Nhìn chung, sự phát triển lí thuyết của Gramsci về văn hóa đi theo hướng lí thuyết phê phán ý hệ của triết học Marx. Ông không đóng khung vấn đề trong phạm vi đấu tranh giai cấp trong xã hội mà mở rộng thành quan niệm về các nhóm xã hội, về sự vận hành tổng thể của một khung lịch sử. Đóng góp của ông là đã nêu lên và phân tích một cách sâu sắc vấn đề bá quyền của các nhóm xã hội thông qua sự khuôn định ý hệ và tiếng nói phản ứng với sự khuôn định này từ văn hóa đại chúng. Các lí thuyết gia về sau như Williams, Hall, Bennett phát triển góc nhìn của ông về bá quyền và nhóm xã hội, về vai trò của văn hóa đại chúng. Mouffe phát triển ý tưởng của ông về vấn đề sự bất đồng của các nhóm xã hội và vai trò của thực hành nghệ thuật trong việc chất vấn các trật tự biểu trưng của quan hệ xã hội. Có thể nói, như Stuart Hall đã tổng kết (Hall 2002), điều Gramsci gợi ra vẫn còn hữu ích cho chúng ta hôm nay chính là sự tôn trọng cái khác biệt, là việc lắng nghe âm vọng lịch sử từ cái khác biệt, nhưng không phải là cái khác biệt đã được định hình, được cố kết, mà là cái khác biệt tồn tại dưới dạng hỗn độn, chưa có giá trị, chưa có khung nào để đánh giá, và thậm chí không có khung để đánh giá.

 

 

08/2018 – 04/2019

 

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN:

 

  1. Antonio Gramsci, 2000, The Gramsci Reader, Selected Writings 1916-1935, David Forgacs (ed), New York: New York University.
  2. Joseph V. Femia, 1981, Gramsci’ Political Thought: Hegemony, Consciousness, and the Revolutionary Process, New York: Clarendon Press Orfoxd University Press.
  3. Stuart Hall, 2002, “Reading Gramsci” in Roger Simon, Gramsci’ Political Thought, London: Lawrence & Wishart.
  4. Hans Robert Jauss, 1970, Literaturgeschichte als Provokation, Frankfurt/Main: Suhrkamp.
  5. Steve Jones, 2006, Antonio Gramsci, London: Routledge.
  6. Chatal Mouffe, 1979, Gramsci and Marxist Theory, London: Routledge.
  7. Dominic Strinati, 2004, An Introduction to Theories of Popular Culture, London: Routledge.
  8. Mác và Ăng-ghen, 1981, “Lời nói đầu Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập 2, Hà Nội: Sự thật.
  9. Mark CJ Stoddart, 2007, “Ideology, Hegemony, Discourse: A Critical Review of Theories of Knowledge and Power,” Social Thought & Research, Vol. 28, Social “Movements” (2007), pp. 191-225.

*Bài viết này dựa trên cơ sở báo cáo của tôi về “Antonio Gramsci và các vấn đề văn hóa”, trình bày tại CLB Cà Phê Thứ Bảy Trẻ, tháng 10/2018.

[i] Antonio Gramsci (1891-1937) là lí thuyết gia văn hóa và chính trị người Ý, theo khuynh hướng tân-Marx luận. Ông là thành viên sáng lập Đảng cộng sản Ý, mang tinh thần chống Phát-xít, bị chính quyền Phát-xít Ý bắt giam và chết trong tù. Công trình ông để lại là những bài báo và sổ viết tay trong giai đoạn ở tù ghi lại những phân tích về chính trị và văn hóa. Nhìn chung, các ý tưởng của Gramsci rất phức tạp, và việc giải thích tư tưởng của ông cũng gây ra những tranh luận không kết thúc giữa các nhà nghiên cứu. Về đại thể, ông khởi đầu như là kiến trúc sư của chủ nghĩa xã hội, nhưng khi nhận ra thách thức lớn lao của việc tạo nên một bá quyền tổng thể của giai cấp vô sản, những suy tư của ông đi vào hình thức khái quát về các vấn đề của bá quyền và văn hóa đại chúng, và hướng vào phân tích xã hội hiện đại từ góc độ ý hệ và bá quyền. Tư tưởng của Gramsci được phát hiện lại từ những năm 60 ở phương Tây, ảnh hưởng lớn đến các lí thuyết gia nghiên cứu văn hóa đại chúng, văn học đại chúng, nghiên cứu truyền thông và chính trị như Raymon Williams, Stuart Hall, Tony Bennett, Chantal Mouffe.

[ii] Tuy nhiên, cần thấy rằng, không phải mọi góc nhìn và phân tích của Gramsci về văn hóa đại chúng đều được các nhà nghiên cứu đồng ý, như Steve Jones (2006) và Dominic Strinati (2004) đã chỉ ra, còn đó những vấn đề gây tranh luận như vấn đề về văn hóa quốc gia như là một xu hướng của văn hóa đại chúng và vấn đề cái nhìn quy về đấu tranh giai cấp và nền tảng kinh tế của bá quyền.

Advertisements

Read Full Post »

Con đường nghiên cứu của mình chủ yếu là tự học tự rút kinh nghiệm. Trong suốt thời gian tự học và rút kinh nghiệm này, điều luôn làm mình băn khoăn là câu hỏi: thế nào là một nghiên cứu có giá trị. Tất nhiên là có nhiều tài liệu viết về điều này, nhưng ai cũng biết từ kinh nghiệm của người khác thành nhận thức của mình phải qua quá trình thực hành trải nghiệm. Rất may là mình có một thời gian ngắn trao đổi và hợp tác nghiên cứu ở University of Oregon, trong đó có nhiệm vụ hoàn tất một một nghiên cứu về Việt Nam. Thời gian này mình rút ra một vài ghi nhận bước đầu về nghiên cứu khoa học. Theo đó, nghiên cứu khoa học, dù vấn đề và phạm vi nghiên cứu khác nhau, thì cần những tiêu chí sau:

1/ Tính mới và tính chất vấn. Nhiệm vụ của khoa học là mở rộng và thay đổi bức tranh kiến thức của chúng ta về thế giới. Tính mới trong nghiên cứu có thể hiểu là mở ra một góc nhìn mới, một nhận thức mới so với lịch sử vấn đề nhận thức về hiện tượng. Mặt khác, tính mới có nghĩa là tính chất vấn. Một kết quả nghiên cứu mới thì có nghĩa là nó phải chất vấn và phê phán thành công những nhận thức trước đó. Nó có thể chất vấn mặt lí thuyết về hiện tượng, hoặc mặt lịch sử hiện tượng, hoặc góc nhìn về hiện tượng. Ở đây việc khảo sát lịch sử vấn đề hết sức quan trọng. Nó cho thấy nghiên cứu tạo nên bước tiến gì về mặt khoa học so với các nghiên cứu trước đó.

2/ Tính toàn diện và hoàn tất. Lần đầu tiên đọc bài báo của mình, giáo sư hướng dẫn nói: bài của anh chưa “stand alone”. Đây cũng là điều mà mình thực sự chưa hiểu hết. Khi  đặt câu hỏi về điều này cho một giáo sư khác, ông này nói, nó phải kể hết một câu chuyện. Nó có khởi đầu, có kết thúc và có kẻ thắng người bại. Tất nhiên là mình càng hoang mang hơn. Nhưng qua quá trình liên tục chỉnh sửa trước những chất vấn, mình dần dần có thể hình dung. Theo mình, nó phải trả lời hoặc cũng cấp tiền đề trả lời cho mọi chất vấn có thể có về vấn đề ấy. Về mặt phương pháp, nó cho thấy sự nhận thức rõ ràng về phạm vi, đối tượng, câu hỏi nghiên cứu và logic nghiên cứu. Một góc nhìn về hiện tượng văn học dù là trong một giai đoạn cũng phải cho thấy vì sao nó khởi đầu, vì sao nó kết thúc, vì sao nó đặc thù, tác động của nó thế nào…

3/ Tính hữu ích liên ngành và tính thú vị. Ông giáo sư cầm bài của mình hươ lên trong không khí và nói, trong phần mở đầu, tôi phải thấy có lí do gì để tôi đọc bài của anh, nó phải có điều gì thu hút tôi. Có thể tôi là người nghiên cứu một lĩnh vực khác, tôi muốn xem thử bài của anh có gợi ý gì cho tôi không, vì một kết quả nghiên cứu hữu ích về một hiện tượng sẽ có gợi ý cho nhận thức hay góc nhìn với hiện tượng khác. Điều này có liên quan đến tính thú vị. Nói một nghiên cứu cần có tính thú vị nghe có vẻ không được phù hợp lắm, vì ta thường nghĩ khoa học thì khô khan. Nhưng ta cứ hình dung mình như một đứa trẻ thơ, tò mò quan sát và khám phá thế giới này. Cái mới mẻ trong nhận thức đem đến một niềm khoái lạc về trí tuệ và nuôi dưỡng sự tò mò của đứa trẻ về những điều khác nữa. Nghĩa là, từ cái mới này gợi cảm hứng cho chúng ta suy nghĩ về những điều khác nữa. Về mặt phương pháp, nó phải được mài sắc về kết quả nghiên cứu. Theo nghĩa đó, nó phải so sánh và gợi một tầm nhìn bao quát hơn lĩnh vực mà nó xem xét. Một nghiên cứu văn học phải gợi ý cho nghiên cứu lịch sử, xã hội học, văn hoá học và chính trị học.

Vài ghi nhận ban đầu trên chắc chắc là chưa đầy đủ, nhưng cần thiết cho hành trang của mình.

Read Full Post »

1.Quan niệm của Gramsci về bá quyền và văn hóa

Góc nhìn về văn hóa của Gramsci là sự phát triển quan điểm của Marx về sự nhận thức mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong quyển Những ghi chép trong tù tập 10, Gramsci viết: “Định đề nằm trong Lời nói đầu cho cuốn Góp phần phê phán kinh tế chính trị cho rằng con người ý thức được các xung đột cơ sở hạ tầng ở cấp độ của các ý hệ nên được xem như là một khẳng định về giá trị nhận thức luận chứ không đơn thuần là giá trị tâm lí hay đạo đức” (Gramsci, 2000: 192). Trong Lời nói đầu này, khi nhận định về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, Marx cho rằng xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thể hiện ở cấp độ kiến trúc thượng tầng, trong đó, sự đấu tranh thể hiện ở bình diện sự đấu tranh ý hệ. Ông viết: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Khi nghiên cứu những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng phải phân biệt cuộc đảo lộn vật chất – mà người ta có thể xác nhận được với một sự chính xác của khoa học tự nhiên – trong những điều kiện kinh tế của sản xuất, với những hình thái pháp lí, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học, tóm lại, với những hình thái tư tưởng trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết cuộc xung đột ấy” (Mác và Ăng-ghen, 1981: 638). Tuy nhiên, trong khi Marx cho rằng phải giải thích mâu thuẫn giai cấp bằng cơ sở kinh tế, tức là mâu thuẫn và đấu tranh giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, thì Gramsci cho rằng bình diện của đấu tranh ý hệ (ideology) mới là đầu mối để nhận thức vấn đề mâu thuẫn giai cấp. Không những thế Gramsci còn cho rằng đó mới là phương pháp luận cho nhận thức xã hội và lịch sử. Là bởi vì, đối với ông, chính sự ý thức của con người về xung đột mới là hiện thực của ý hệ. Ý hệ không sinh ra và tồn tại như cái gì tự trị và tự tại, nó sinh ra trong ảo tượng (illusion) của con người về sự quy định (determination) trong động hướng (moment) vượt bỏ cái khác đối lập với mình, qua đó tìm kiếm vị trí và ý nghĩa của bản thân mình trong đời sống hiện thực và trong lịch sử, một ý niệm ảnh hưởng Hegel trong quan niệm về làm chủ và làm nô. Nhưng khác với Marx trong sự ảnh hưởng Hegel, Gramsci đưa ý niệm về mâu thuẫn và đấu tranh về phạm vi ý thức con người, thay vì tìm kiếm nguồn gốc của nó trong cơ sở kinh tế chính trị.

Không phải ngẫu nhiên mà phải đến quyển viết tay số 10, tức khoảng năm 1932-1935, Gramsci mới khái quát ý niệm này thành vấn đề phương pháp luận. Chantal Mouffee, lí thuyết gia chính trị và là chuyên gia hàng đầu về Gramsci hiện nay, cho rằng bước chuyển trong quan niệm về bá quyền của Gramsci bắt đầu từ quyển viết tay số 4, tức năm 1930-1932, khi ông phân tích về các quan hệ quyền lực trong xã hội (Mouffee, 1979: 180-181). Trong cái nhìn của Gramsci, vấn đề lãnh đạo cách mạng xã hội về mặt tư tưởng không chỉ là vấn đề chỉ của giai đoạn cách mạng mà thôi, nó thực sự là bản chất của xã hội con người, và trong vấn đề ấy, bá quyền hiện lên như là cái gì tất yếu, và quan hệ quyền lực chỉ là hình thức của nó mà thôi. Như thế là Gramsci đã phát triển ý niệm về mâu thuẫn trong quan niệm của Hegel không phải như là một vấn đề của tiến trình lịch sử hiện thực, qua đó, xã hội phải vượt bỏ mâu thuẫn của chính nó để vươn lên hình thức cao hơn, mà như là một vấn đề của sự tạo thành xã hội. Đây không phải là vấn đề xã hội có thể được thay đổi để tiến bộ hơn bằng cuộc cách mạng về giải quyết mâu thuẫn của cơ sở hạ tầng kinh tế, mà là một điều gì phổ quát hơn, như là một cấu trúc hiện thực của xã hội ở cấp độ ý hệ. Và vì thế, đối với ông, vấn đề mâu thuẫn và đấu tranh ở cấp độ ý hệ chính là phương pháp luận cho nhận thức xã hội.

Chính ở chỗ này mà Gramsci chuyển vị vấn đề sang sự thực hành bá quyền. Bởi vì sự ý thức của con người về sự xung đột của ý hệ và đấu tranh chống lại nó chỉ hiện ra rõ nhất trong hệ thống những sự thực hành xã hội, tức là vấn đề của chính trị học. Đây là điểm khác thứ hai của Gramsci về mặt phương pháp luận so với tiếp cận của Marx. Trái với Marx, người xem sự phân tích kinh tế chính trị học mới là phương pháp luận cho nhận thức xã hội tư bản, Gramsci di chuyển nó sang vấn đề lí thuyết và thực hành chính trị. Điều này không có nghĩa là ông không xem trọng vấn đề kinh tế, như một số diễn giải hiện nay chỉ chú trọng phân tích lời phê phán của ông về góc nhìn duy kinh tế (Steve Jones 2006), mà điều này có nghĩa là đối với ông, các quan hệ quyền lực mà nhóm lãnh đạo ý thực được và thực hiện nó như là công cụ đấu tranh ý hệ mới là điều quan trọng. Đó là lí do mà ngay sau câu trích dẫn về ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức về đấu tranh trong bình diện các ý hệ, ông viện dẫn Lenin: “Do đó mà nguyên tắc lí thuyết-thực hành về bá quyền cũng có ý nghĩa nhận thức luận, và chính ở đây mà ta cần tìm hiểu sự đóng góp lí thuyết vĩ đại nhất của Ilyich [Lenin] cho triết học thực hành. Về mặt này ta có thể nói rằng Ilyich đã thúc đẩy triết học xét như là triết học trong chừng mực ông ta thúc đẩy học thuyết chính trị và thực hành chính trị” (Gramsci, 2000: 192). Steve Jones giải thích rằng Gramsci dẫn chiếu đến Lenin là vì Lenin xem trọng vai trò của đấu tranh tư tưởng và văn hóa, nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân như là một giai cấp lãnh đạo trong việc kiểm soát tư tưởng và định chế, và cuối cùng, cuộc đấu tranh cách mạng là cuộc đấu tranh của toàn bộ các giai cấp và tầng lớp bị áp bức, không chỉ là cuộc đấu tranh của người lao động về mặt kinh tế (Steve Jones, 2006: 43). Tuy nhiên, sự dẫn chiếu đến Lenin không phải có nghĩa là Gramsci lấy Lenin như là một hình mẫu của bá quyền, mà có nghĩa là trường hợp Lenin sẽ cho thấy nhận thức hiện thực của sự thực hành bá quyền bằng hình thức xử lí quan hệ quyền lực ở cấp độ chính trị chính là phương pháp luận để nhận diện thực tại xã hội.

Chính do đó mà Gramsci đã nâng tính phổ quát của vấn đề bá quyền: bá quyền sinh ra từ nhu cầu tồn tại và khẳng định vị trí của nhóm xã hội. Cũng trong đoạn trên, Gramsci viết, “Sự hiện thực hóa công cụ bá quyền, trong chừng mực nó tạo ra lĩnh vực ý hệ mới, quy định sự cải tạo ý thức và sự cải tạo các phương pháp của tri thức: nó là một sự kiện của tri thức, một sự kiện có tính triết học” (Gramsci, 2000, 192). Bá quyền hiểu theo nghĩa này không phải là sự trấn áp bạo lực thể xác mà là sự phổ biến các ý hệ mới của nhóm xã hội, thay đổi nhận thức và phương pháp nhận thức của xã hội. Vì thế nó là sự kiện của nhận thức và tri thức, sự kiện có tính triết học nhiều hơn là có tính quân sự hay bạo lực. Ví dụ như các nhóm thiểu số người đồng tính, nhóm đấu tranh cho nữ quyền, để khẳng định quyền và nhu cầu cũng như cất lên tiếng nói cho quyền và nhu cầu đó, các nhóm này tạo ra các diễn ngôn diễn giải lại nhận thức của xã hội về họ, nhằm chống lại với những người có quan niệm kì thị, nêu ra những đề nghị tác động đến các định chế bá quyền trực tiếp là luật pháp và sự quản lí nhà nước. Đó chính là hình thức khởi nguyên của sự phổ biến ý hệ và nhận thức mới, một hình thức bá quyền về ý nghĩa và diễn giải ý nghĩa.

Nhìn chung, có mấy khía cạnh về bá quyền trong quan niệm của Gramsci. Thứ nhất, bá quyền không phải là hành động mà là mối quan hệ; không phải là hành động áp bức đơn thuần của người này với người kia, nhóm này với nhóm kia, mà là quan hệ giữa áp bức và tuân chịu về mặt ý hệ. Một nhóm xã hội muốn chi phối và phổ biến, nó thực hiện những đặt định về ý hệ bằng nhiều hình thức khác nhau, đòi hỏi sự tuân chịu của các thành viên. Nó giáo dục và tuyên truyền văn hóa, phổ biến cái nhìn về thế giới của nó, định hình nên các hệ giá trị và các chiến lược cấp nghĩa cho sự vật thông qua các định chế xã hội. Như vậy, các hiện tượng văn hóa trong xã hội chính là những sự phổ biến ý hệ của các nhóm xã hội, hay là sự thực hành bá quyền của chúng. Thứ hai, thực hành bá quyền có tính chất tiến trình. Ông gọi đó là cuộc chiến về vị thế (war of position), trong đó sử dụng công cụ bá quyền chính là sự sáng tạo, phổ biến và đặt định quan niệm về thế giới, cách giải thích thế giới, là quyền cấp nghĩa và giá trị cho sự vật. Cuối cùng, bá quyền là sự chuyển động mềm dẻo và phức tạp, nó không đơn thuần là sự bắt buộc một chiều và nhất thành bất biến. Nó là tiến trình thỏa thuận và thương lượng, ta chấp nhận điều gì đó để nhận được điều gì đó, được thuyết phục để tin vào điều gì đó để làm điều gì đó đáp ứng sự mong mỏi của ta. Các nhóm xã hội thực hiện bá quyền bằng cách phổ biến, thuyết phục, thông qua thỏa thuận, để nhận được sự ưng chịu/ tuân chịu các giá trị nào đó, góc nhìn và quan niệm nào đó. Đóng góp của Gramsci ở đây là sự nhận thức về kiến trúc thượng tầng của xã hội được thông qua tổng thể thực hành bá quyền hay là tổng thể các quan hệ quyền lực của các nhóm xã hội. Góc nhìn này của ông tạo nên cái gọi là trào lưu “Trở về với Gramsci” (Turn to Gramsci) trong nghiên cứu văn hóa Anh-Mỹ.

(Còn tiếp)

Read Full Post »

Một triết gia đã nói rằng, nếu tôi đọc nhiều như họ thì tôi cũng đã biết ít như họ. Nghịch lí ở đây là nếu ta biết càng nhiều bình diện, thì ta sẽ biết càng ít về tính hệ thống của từng bình diện. Cũng phải thôi, đời có mấy khi ta có được nhiều thứ cùng một lúc.

Mấu chốt ở đây là việc chọn đọc. Theo mình, để chọn đọc, ta nên biết mình cần đọc sách gì và biết phân loại sách.

Biết mình cần gì là một câu hỏi vĩ đại. Với mình, đọc là để tìm câu trả lời cho mình, không cho ai khác và không theo ai khác. Đa phần các câu hỏi hệ trọng trong đời liên quan đến những ám ảnh cá nhân của ta mà thôi. Vì thế, mình không bàng hoàng báo hức vội vàng tìm đọc những cuốn sách mà giới này giới nọ hay nói đến, người này người nọ vừa nhắc đến. Mình cần đọc sách gì, hiểu theo nghĩa như thế, về cơ bản là cho một mục đích lâu dài. Từ mục đích đó, mình dần thiết lập một tấm bản đồ các vấn đề chủ chốt, các khái niệm chủ chốt. Rồi từ từ như người leo núi, mình vừa đi vừa ngoái nhìn lại phía sau, nghĩa là đọc lại cuốn sách đã đọc, để thay tác giả trả lời các chất vấn của người phê phán ông ta.

Thực ra, đọc ít theo quan niệm như trên của mình là một tham vọng, tham vọng đi tìm cái cốt lõi của sự hình thành lịch sử các lí thuyết (sự hình thành lịch sử, chứ không phải lịch sử định sẵn của sự hình thành). Vì thế, việc phân loại sách để đọc có tầm quan trọng nhất. Có nhiều loại sách khác nhau, và có nhiều cách đọc khác nhau đối với chúng. Phân loại sách để biết ta cần đổ công sức suy nghĩ cho loại sách nào, còn sách nào thì đọc chỉ để biết, bổ trợ cho việc suy nghĩ loại sách trên mà thôi.

Đọc để nghĩ đương nhiên là dành cho các sách kinh điển, các “key text”, các sách được viết bởi những lí thuyết gia chủ chốt, khai sinh ra một học thuyết, tạo một sự chuyển hướng nhận thức. Nhưng các sách này cũng có nhiều loại, loại khởi nguồn, loại diễn giải, và loại tổng kết. Nhất là các lí thuyết gia hiện đại, vốn là những người bị hệ thống các định chế đương đại đòi hỏi họ phải viết rất nhiều, thì việc chọn sách nào của họ để đọc là một điều không đơn giản.

Về cơ bản, các công trình khởi nguồn là các công trình mà lí thuyết gia dựa trên một trường hợp để chống lại hệ thống các quan điểm trước đó. Loại diễn giải vận dụng là loại mở rộng, giải thích, ứng dụng sang thứ khác, đa phần là do chính họ viết sau khi quan niệm mới của họ được chấp nhận và gây tranh luận. Cuối cùng là loại hệ thống hoá lại lí thuyết, khớp nối chúng với các lí thuyết hiện hành, làm cho chúng rõ hơn. Nhìn chung, cả ba loại này hoàn tất câu chuyện về một lí thuyết do lí thuyết gia để lại cho đời sau.

Ngoài các sách do lí thuyết gia chủ chốt viết ra, còn các sách nghiên cứu ứng dụng, giới thiệu dẫn nhập, trình bày lịch sử do những nhà nghiên cứu khác viết ra. Những sách này ta cũng cần phải biết đọc và sử dụng chúng, nếu không, sẽ như Alice lạc vào sứ sở thần tiên, thấy cái gì cũng kì thú nhưng không biết mỗi cái trong số chúng sẽ có thể làm gì cô bé.

Read Full Post »

Đọc ít

Thực ra mình đọc rất ít sách. Cũng do một dạo mê bonsai. Suốt ngày chỉ xem cây, vẽ cây. Nhưng cái chính là quan niệm về đọc sách của mình. Theo mình, đọc cốt không phải để biết, mà để suy nghĩ. Đọc để biết thì chủ yếu là xem người ta nói gì, đọc để suy nghĩ thì ngẫm về điều người ta nghĩ. Muốn ngẫm về sự nghĩ như vậy, thì một là phải đọc chậm, thật chậm, và đọc đi đọc lại. Hai là đọc có hệ thống.

Đọc chậm để có thời gian tìm hiểu kiến thức nền mà tác giả sử dụng làm chất liệu suy nghĩ và để dõi theo mạch lập luận của tác giả. Kiến thức nền là điều rất quan trọng. Như lí thuyết văn học chẳng hạn, có rất nhiều khái niêm triết học phương Tây mà mình không biết, rồi mỗi khái niệm như thế được các triết gia sử dụng khác nhau. Đọc Jauss có câu mình phải dừng lại mấy tháng để đọc sách của các triết gia và tra đủ các tài liệu đi hỏi thầy hỏi bạn rồi mới đọc tiếp.

Mạch lập luận là điều quan trọng không kém. Theo mình, một quan điểm lí thuyết là một toà nhà có nhiều tầng, được thiết kế với các viên gạch khái niệm và các trụ cột lập luận. Việc đọc chính là dõi theo các điểm khớp nối và suy ngẫm về tổng thể toà nhà này. Đọc như thế sẽ không phải một lần là xong, mà là đọc đi đọc lại.

Nhưng điểm chính trong cách đọc của mình là phương pháp đọc có hệ thống và lũy tiến các hệ thống. Có hệ thống nghĩa là hình dung các lí thuyết theo một tấm bản đồ. Ví dụ, đọc mỹ học Kant trong cuốn phê phán thứ ba chẳng hạn, thì Kant chống ai, và có những người nào chống Kant, sinh ra các đường hướng khác nhau thế nào. Việc đọc như thế cũng là có lũy tiến. Nghĩa là hệ thống khái niệm sẽ tích lũy và bổ trợ cho nhau trong lĩnh vực khác. Ví dụ Gramsci vượt Marx về mặt quan niệm văn hoá theo cách khác với Lukács, và Hall phát triển Gramsci về văn hoá theo cách khác với nhánh khác; nhưng Gramsci cũng sinh ra quan niệm về chính trị học được Mouffe phát triển theo cách khác với Bennett, vốn chủ yếu phát triển theo nhánh của Althusser. Và quan niệm chính trị học này sinh ra một quan niệm khác về văn hoá. Tức là đọc một triết gia chủ chốt thì có được bức tranh hệ thống của nhiều lĩnh vực. Theo mình, đây chính là mấu chốt của tư duy liên ngành.

Phương pháp đọc này làm mình rất đỡ mất sức khi đọc các nghiên cứu. Ví dụ, khi đọc một bài tạp chí nghiên cứu mình xem khái niệm công cụ nằm trong khung lí thuyết nào, xem họ xử lí dữ liệu nào và có chất vấn gì mới không. Điều này cũng tránh cho mình mất quá nhiều thời gian vào các bài nghiên cứu vận dụng, trừ phi cần tìm hiểu lịch sử vấn đề cho một nghiên cứu của mình. Đọc nhiều các bài nghiên cứu vận dụng cũng như ăn hết các trái táo để biết táo là thế nào, trong khi thực ra chỉ cần nhâm nhi một trái táo để suy nghĩ xem có thể làm gì với nó, là cách để hiểu được các khả thể của nó. Mà xét cho cùng, đời có mấy loại táo ngon đâu, nói chi đến từng trái táo.

 

Read Full Post »

Tóm tắt báo cáo

 

Về cơ bản, một khía cạnh trong đề án thông diễn học triết học của Gadamer là đặt lại vấn đề đối với quan niệm truyền thống về tính chủ thể. Tuy không thể hiện trực tiếp, nhưng qua sự phân tích nguồn gốc khái niệm chủ thể trong tiếng Hy Lạp, việc đề cập đến vấn đề sự tự nhận thức, Gadamer phê bình quan niệm truyền thống cho rằng tính chủ thể như là nền tảng bất biến. Gadamer cũng đặt lại vấn đề về vai trò của kẻ khác/ cái khác trong phân tích của Heidegger về cấu trúc của Dasein, thông qua sự trải nghiệm của cá nhân về giới hạn của chính mình qua sự gặp gỡ với cái khác. Tuy chịu ảnh hưởng từ khái niệm tính liên chủ thể và thế giới đời sống của Husserl, nhưng Gadamer cũng vượt qua Husserl ở chỗ ông đặt tất cả vào trong tính đối thoại của sự hiểu và lí giải.

Tiêu biểu cho việc Gadamer đặt lại vấn đề đối với tính chủ thể trong quan niệm truyền thống là phân tích của ông về sự chơi. Sự chơi là biểu hiện của trò chơi thông qua việc tham gia của những người chơi. Gadamer phân tích mặt sử dụng ngôn ngữ của khái niệm sự chơi để chỉ ra rằng “sự chơi không phải là thứ gì đó mà một người thực hiện”. Theo Gadamer, để nói về sự chơi bắt đầu chơi, thì ta nói về “thứ gì đó đang trong cuộc chơi hay thứ gì đó đang diễn ra”, cũng như khi ta nói rằng “bóng đã lăn” để chỉ trận đấu đã bắt đầu. Mặt khác, khi chơi, người chơi vừa chơi một cách nghiêm túc, vừa chơi một cách không nghiêm túc. Trẻ con khi chơi say mê hết mình với trò chơi của chúng, nhưng chúng cũng biết rằng đó chỉ là chơi. Điều này có nghĩa là, người chơi đích thực là người bị cuốn vào trong sự chơi, anh ta quên mất mình trong sự chơi. Đó là tính chất thảnh thơi [Leichtigkeit/lightness] của sự chơi. Và như thế, “chủ thể của sự chơi không phải là những người chơi, mà thay vào đó, sự chơi chỉ đạt đến sự biểu hiện mình trông qua việc nó được chơi”.

Nhìn tổng thể, thông diễn học triết học của Gadamer thách thức quan niệm truyền thống về tính chủ thể ở sự phê phán ý thức thẩm mỹ và ý thức lịch sử, trong đó sự hiểu cơ bản được tiến hành trên cơ sở sự ảnh hưởng từ truyền thống và sự đối thoại với cái khác. Mặt khác, điều kiện khả thể cho sự hiểu là ngôn ngữ, là cái trung giới có tính kiến tạo, vốn được hình thành từ đời sống ngày thường có tính lịch sử, mà không phải được tạo nên từ một chủ thể siêu nghiệm và tự trị. Đó là lí do mà Gadamer viết: “Rất lâu trước khi ta tự hiểu mình thông qua tiến trình tự vấn, ta đã tự hiểu mình một cách hiển nhiên trong gia đình, xã hội và nhà nước nơi ta sống. Sự tập trung vào cái cá thể chỉ là lóe sáng nhỏ nhoi trong những vòng tròn khép kín của đời sống lịch sử”.

Quan niệm về tính chủ thể được kiến tạo qua việc hiểu có tính đối thoại ảnh hưởng đến lí thuyết tiếp nhận của trường phái mỹ học tiếp nhận Konstanz, chủ yếu là Hans Robert Jauss, một học trò của Gadamer. Jauss kế thừa Gadamer ở khía cạnh vấn đề người đọc và chân trời chờ đợi của họ được kiến tạo nên từ những tác phẩm đã đọc trước đó, và được khơi gợi lại để củng cố hay chuyển đổi thông qua đối thoại với văn bản.

Việc đặt lại vấn đề về tính chủ thể trong quan niệm truyền thống của Gadamer không phải là tiếng nói lẻ loi trong bối cảnh của lí thuyết đương đại. Louise Althusser và Michel Foucault đã có những tiếp cận với vấn đề tính chủ thể theo đường hướng tương tự. Tuy khác nhau, nhưng cả Althusser và Foucault đều phê phán quan niệm về tính chủ thể như là cái gì nền tảng, bất biến, thay vào đó, tính chủ thể là cái gì được kiến tạo trong quan hệ với quyền lực diễn ngôn và ý thức hệ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chris Lawn and Niall Keane, The Gadamer Dictionary, Continuum, New York.
  2. Günter Figal, 2007, Klassiker Auslegen: Wahrheit und Methode, Akademie Verlag, Berlin.
  3. Hans-Georg Gadamer, 1990, Wahrheit und Methode: Grundzuege einer philosophischen Hermeneutik, Mohr (Paul Siebeck), Tübingen.
  4. Hans-Georg Gadamer, 1989, Truth and Method, Joel Weinsheimer and Donald G. Marshall trans, Continuum, Great Britain.
  5. Hans-Georg Gadamer, 1995, “Subjectivität und Intersubjektivität, Subjekt, und Person”, Gesammelte Werke 10, Mohr (Paul Siebeck), Tübingen.
  6. Nick Mansfield, 2000, Subjectivity: Theories of the self from Freud to Haraway, Allen & Unwin, Australia.

Read Full Post »


Đối với “trường hợp Chu Giang”, một người tự nhận mình chuyên làm công tác “kiểm dịch” trong chốn khoa học, hiện có nhiều luồng ý kiến khác nhau về việc có nên tranh luận với ông hay không: có ý kiến cho rằng cần tranh luận, có ý kiến ngược lại là cần im lặng.


Tôi lại cho rằng thay vì đặt câu hỏi “có nên tranh luận với ông”, thì trước tiên phải đặt câu hỏi cơ bản hơn là “ông có đủ điều kiện để có thể tham dự một cuộc tranh luận (đúng nghĩa) hay không”, hiểu theo nghĩa có đủ khả năng tư duy ở mức cần thiết để có thể tham gia vào một cuộc trao đổi có tính chất khoa học hay không. Vì chỉ có những người có tư duy lành mạnh bình thường, thì mới có thể tham dự vào cuộc trao đổi khoa học trong sự tôn trọng của người khác. Và lúc ấy, việc bàn đến một luận điểm khoa học nào đó với họ, mới không là một sự xa xỉ vô nghĩa.


Tôi sẽ chứng minh rằng ông Chu Giang chưa có nổi một khả năng tư duy lành mạnh bình thường. Điều này thì chỉ cần lẩy ra một vài ý trong bài viết của ông “kiểm dịch” ông Trần Đình Sử là thấy ngay.

Trong một đoạn phê bình luận án của ông Trần Ngọc Hiếu, ông Chu Giang viết như sau:
“Biết nhiều về lý luận bên ngoài cũng tốt và cần thiết. Nhưng thực tiễn văn hoá dân tộc, thiển nghĩ, nếu không cao hơn thì cũng không kém gì các lý thuyết bên ngoài về sự chơi và trò chơi.
Hãy quan sát đời một con người, từ lúc lọt lòng cho đến khi nhắm mắt, sự chơi và trò chơi của nó và đối với nó như thế nào? Mỗi giai đoạn, mỗi hoàn cảnh… có những trò chơi gì. Từ cá nhân đến cộng đồng, dân tộc. Trò chơi của người Việt trong văn hoá trong văn học nghệ thuật như thế nào? Nếu biết tổng kết, khái quát sẽ có được một lý luận không kém gì của thiên hạ. Dân gian ta nói gì?Làm trai cho đáng nên trai/ Phú Xuân cũng trải Đồng Nai cũng từng. Cụ nghè Trần Bích San có câu Văn vô sơn thuỷ phi kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài. Ông bà ta nói: Nghề chơi cùng lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn… là một lý thuyết cực kỳ sâu sắc về trò chơi…”. (hết trích).


Đoạn trên ông Chu Giang vì cố chứng minh rằng “thực tiễn văn hóa dân tộc, thiển nghĩ, nếu không cao hơn thì cũng không kém gì các lý thuyết bên ngoài” nên đã đánh đồng tri thức khoa học và kinh nghiệm dân gian. Kinh nghiệm dân gian được đúc kết để dạy con người cách sống và ứng xử, còn tri thức khoa học là sự phân tích để tìm ra bản chất và quy luật phổ quát của các hiện tượng thực tiễn. Ngay một quan niệm tưởng như đơn giản là quan niệm về “trò chơi”, đã có bao nhiêu khuynh hướng lí thuyết, bao nhiêu công trình thuộc về các lĩnh vực triết học, tư tưởng, văn hóa… Tôi nghĩ chỉ cần một thao tác cơ bản trên google, tra các khái niệm “game theory”, “play” hoặc các khái niệm liên quan, là ông có thể cập nhật cho mình rất nhiều kiến thức cơ bản, chắc chắn phong phú, hệ thống, chi tiết và phổ quát hơn nhiều các kinh nghiệm dân gian mà ông đã dẫn.

Nhưng tôi không chủ ý trao đổi với ông về kiến thức, mà như đã nói, chỉ ra một điều cơ bản hơn, đó là khả năng tư duy không lành mạnh bình thường của ông. Đoạn sau đây cho thấy rõ hơn điều ấy.
“Về sự chơi và trò chơi, nói lý thuyết đến bao nhiêu cũng không thừa, dù có dẫn cổ kim đông tây đến thiên kinh vạn quyển cũng thế. Nhưng chỉ cần nhớ: Nghề chơi cũng lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn cũng đủ.” (hết trích)

Tôi rất ngạc nhiên khi ông có thể quy giản toàn bộ “cổ kim đông tây đến thiên kinh vạn quyển” vào đôi ba câu đúc kết kinh nghiệm dân gian. Bằng cách tư duy như thế này, tôi nghĩ có lẽ ông có thể khuyên mọi người không cần vào trường đại học, không cần học tập, nghiên cứu, nghĩa là có thể loại bỏ hoàn toàn các thể chế khoa học, mà chỉ cần quay về với tục ngữ và kinh nghiệm dân gian, để xây dựng và phát triển đất nước.
Một tư duy không lành mạnh bình thường như thế rõ là không đủ điều kiện và khả năng cần thiết để có thể hiểu phát ngôn khoa học của người khác. Và tôi hoàn toàn có thể nghi ngờ những gì ông tự nhận là “kiểm dịch”, những lời bàn to tát của ông về công trình của các nhà khoa học chân chính.

Tôi nghĩ cái thời mà một người không có khả năng tư duy lành mạnh bình thường vẫn có thể huênh hoang trong lĩnh vực khoa học đã không còn nữa. Đây là thời hiện đại, thời mà mỗi người khẳng định mình bằng khả năng thực tiễn, chứ không phải bằng việc đóng vai trò “kiểm dịch” để tham dự vào không gian học thuật mà mình vốn dĩ không thể thuộc về.

An Thảo. 2015

Read Full Post »

Older Posts »