Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI DỊCH’ Category

 

Lý thuyết hồi ứng người đọc và phê bình nữ quyền

Phê bình hồi ứng người đọc, như đã được thiết lập hiện nay, là một thuyết không tưởng theo cả hai nghĩa. Các nghiên cứu khác nhau về kinh nghiệm đọc đã nảy nở sinh sôi mà bỏ qua những vấn đề về chủng tộc, giai cấp và giới tính và cũng không đưa ra một gợi ý nào về những xung đột, những đau khổ và những đam mê hiện diện nơi các thực tại này. Sự bình thản ngang nhau trong giọng điệu của các lý thuyết này chứng tỏ cái vị thế đặc quyền của các lý thuyết gia. Dĩ nhiên, rồi đây khi mà những đặc quyền này tan biến đi hay ít nhất là nó được phân phối một cách công bằng hơn, thì chỉ vài trong số những lý thuyết này còn có vẻ đúng sự thật. Khi ấy, chắc hẳn là ta sẽ nói về việc đọc mà không còn lo lắng gì về sự bất công. Nhưng giờ đây thì phê bình hồi ứng người đọc phải đối diện với những can hệ đầy phiền toái từ thực tại lịch sử của chúng ta. Điều nghịch lí là, những lý thuyết không tưởng vốn đã lấp liếm đi những thực tại này lại tiết lộ ra những xung lực không tưởng thông tin [cho ta] về những thực tại ấy.

Nói một cách đơn giản, phê bình hồi ứng người đọc cần đến phê bình nữ quyền. Cả hai vẫn phải gắn kết lẫn nhau một cách nghiêm ngặt và lâu dài, nhưng nếu triển vọng của phê bình nữ quyền được thực hiện trọn vẹn, thì một sự va chạm tất yếu sẽ sớm xảy ra. Thật ngạc nhiên là, câu hỏi rành mạch về tầm quan trọng của giới tính đã được đặt ra một cách minh nhiên, và – điều này chứng thực cho sự ảnh hưởng ngày càng tăng của phê bình nữ quyền cũng như là bình diện hoàn toàn có tính ý [thức] hệ của những nghiên cứu về giới tính trong phê bình hồi ứng người đọc – không do một nhà phê bình nữ quyền mà lại do Jonathan Culler, một lý thuyết gia hàng đầu về việc đọc đặt ra:

Nếu kinh nghiệm văn học dựa trên những tính chất của một bản ngã đang đọc, ta có thể hỏi rằng sẽ có khác biệt gì [xảy đến] với kinh nghiệm văn học, và do vậy, với cả ý nghĩa văn học nếu bản ngã này là nữ giới thay vì nam giới. Nếu ý nghĩa của một tác phẩm là kinh nghiệm của một người đọc, sẽ có khác biệt gì nếu người đọc là một phụ nữ? [1].

(Còn tiếp)


[1] Jonathan D. Culler, On Deconstruction: Theory and Criticism after Structuralism (Ithaca: Cornell University Press, 1982), p 42.

Advertisements

Read Full Post »

“… Để hiểu cách thức tạo lập và lí giải một văn bản, ta cần một tổng hợp các quy tắc ngữ nghĩa – ngữ dụng, được cấu tạo từ một sự trình bày ngữ nghĩa tựa như bách khoa thư, vốn thiết lập nên cách thức và trạng thái [để] quyết định quyền cộng tác của người nhận một văn bản cho trước nhằm hiện thực hóa những gì mà văn bản thực sự nói. Điều này đã được định đề hóa trong nghĩa vị (sememe), nghĩa vị mới chính là văn bản thực sự, văn bản là sự mở rộng của nghĩa vị. Theo nghĩa này mà Peirce viết rằng thuật ngữ là một mệnh đề sơ đẳng, và một mệnh đề là một lập luận sơ đẳng. Điều này có nghĩa là có thể thiết lập được không gian kí hiệu [semiosis] không giới hạn, như là một quá trình lý giải liên tục. […]

Đọc một văn bản nghĩa là [ta] vận hành thông tin ngữ nghĩa được mã hóa hay siêu mã hóa theo cách thức [ta] quyết định liệu có nên làm tăng lên hay đông cứng những nghĩa tố có sẵn được cấp bởi trò chơi tương tác giữa những nghĩa vị, và [quyết định] cách thức chúng tác động và hòa hợp lẫn nhau. […]

Có sự tương hợp lẫn nhau giữa một lý thuyết về việc sản sinh và lý giải văn bản và một lý thuyết phổ quát về kí hiệu. Người đọc đóng một vai trò chủ động trong [hoạt động] lý giải văn bản vì các kí hiệu được cấu trúc theo dạng thức phi quy chiếu (pↄq, không phải p≡q). Hoạt động lý giải văn bản có thể thực hiện được vì các kí hiệu ngôn ngữ không bị quyết định bởi tính tương đương tuyệt đối (đồng nghĩa hay định nghĩa); chúng cơ bản không dựa trên ý niệm về tính đồng nhất mà bị chi phối bởi một lược đồ phi quy chiếu, do đó chúng có vô số khả năng lý giải. Qủa thực, các văn bản có thể nói nhiều hơn ta tưởng, chúng luôn có thể nói cái gì đó mới, vì các kí hiệu khởi đầu quá trình lý giải mà quá trình này dẫn đến một dãy vô hạn những hậu quả lũy tiến….”

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Umberto Eco, 1981, “The Theory of Signs and the Role of Reader”, The Bulletin of Midwest Modern Language Association. Voll.14, No.1, trang 38.

Read Full Post »

…. Dĩ nhiên, ta không phủ nhận rằng các văn bản văn học chứa đựng một cơ sở lịch sử; tuy nhiên, trong cách thức mà văn học đảm nhận nhiệm vụ của nó, và cách thức mà nó giao tiếp, thì dường như nó không đơn thuần được xác định bằng các bối cảnh lịch sử, mà bằng cấu trúc thẩm mỹ nội tại đặc trưng của nó. Đó là lý do vì sao khi đọc các văn bản từ thời đại quá khứ, ta thường xúc động, thực sự cảm thấy mình được chuyển vị trở về các thời đại ấy và chuyển động trong các bối cảnh lịch sử, như thể là ta thuộc về chúng hay như thể là quá khứ được trở về trong hiện tại. Điều kiện tiên quyết cho trải nghiệm này chắc chắn là do văn bản tạo ra, nhưng với tư cách người đọc, ta cũng đóng một vai trò trong sự sáng tạo ra cái ấn tượng cảm giác này. Ta là người trao cho văn bản cuộc sống….

Read Full Post »

Dịch thô xong bài này, tôi sướng quá đi. Dù còn phải sửa chữa và hiệu đính….

Đây là bản do Iser tự dịch ra tiếng Anh từ bài phát biểu nổi tiếng khi nhậm chức giáo sư đại học Konstanz: Die Appellstructur der Texte.

Bản tiếng Anh này, Iser vừa dịch, vừa viết lại, dễ hiểu và rõ ràng hơn. Rồi đây tôi sẽ xông vào bản tiếng Đức. Hehe.

Có thể nói, trong các lí thuyết gia mỹ học tiếp nhận, tôi sợ ông này nhất. Không chỉ vì lí thuyết của ổng liên quan đến hiện tượng học, là cái món tôi chỉ mới vừa được học hành, mà còn vì cha này viết quá khô khan, và chi li….

“… Nói một cách ngắn gọn, quá trình đọc cần được miêu tả như là sự chuyển đổi của người đọc cho các dấu hiệu từ văn bản gởi đến. Nhưng nếu hành vi đọc thực sự là sự chuyển đổi các dấu hiệu do tác giả tạo ra, thì ta buộc phải hỏi rằng liệu có thể mô tả được một quá trình như thế mà không viện dẫn đến một tâm lý học về người đọc hay không. Hơn nữa, nếu ta nỗ lực phác họa một sự phân biệt giữa văn bản và các hình thức khác nhau có thể có cho sự chuyển đổi của nó, thì ta có nguy cơ bị buộc tội là đã phủ định tính đồng nhất của văn bản và đơn thuần để nó tan biến vào trong sự tùy tiện của tri nhận chủ quan. Một văn bản, như những khuynh hướng thảo luận, phải biểu trưng cái gì đó, và ý nghĩa của cái được biểu trưng tồn tại độc lập với mỗi phản ứng cá biệt mà cái ý nghĩa đó gợi nên. Tuy nhiên, để chạm đến điều này, ta phải thừa nhận rằng “ý nghĩa” này, trông có vẻ là độc lập với mỗi sự cụ thể hóa văn bản, chính nó không gì khác hơn là trải nghiệm đọc cá nhân mà giờ đây đã được đồng nhất hóa với bản thân văn bản. Những lý giải dựa trên [quan niệm về] việc truyền tải ý nghĩa vẫn luôn tồn tại trong nhiều thời đại, với việc làm tan loãng một cách hợp lý những văn bản mà chúng xem xét. May mắn thay, những lý giải như thế thỉnh thoảng cũng bị rơi vào mâu thuẫn, nhưng hầu hết đều với lý do hợp lý rằng một lý giải bị hạn định như thế rút cuộc thì cũng sẽ đi đến chỗ bị vượt bỏ. Lịch sử của những hồi ứng với các tác phẩm văn học, hóa ra lại là một lịch sử của những biến số, có đầy rẫy những ví dụ về điều này…”.

Read Full Post »

I

Lý thuyết hiện tượng học về nghệ thuật nhấn mạnh rõ ý niệm rằng trong việc xem xét một tác phẩm văn học, ta phải đưa vào bản miêu tả không chỉ văn bản hiện thực mà, theo một mức độ tương đương, còn phải đưa vào cả những hành động liên quan đến việc hồi ứng đối với văn bản đó. Vì vậy, Romand Ingarden đã đặt cấu trúc của văn bản văn học đối diện với những cách thức trong đó nó có thể được cụ thể hóa (konkretisiert/realized) [1]. Một văn bản xét như là văn bản cung cấp “những góc nhìn lược đồ hóa” (schematised views) [2] khác nhau qua đó nội dung chủ đề của tác phẩm có thể trở nên sáng tỏ, nhưng [điều] thực sự làm cho nội dung này sáng tỏ lại là hành động cụ thể hóa(Konkretisation). Nếu như thế thì tác phẩm văn học có hai cực, mà ta nên gọi là cực nghệ thuật và cực thẩm mỹ: cực nghệ thuật quy chiếu vào văn bản được tác giả sáng tạo, và cực thẩm mỹ quy chiếu vào sự hiện thực hóa do người đọc hoàn tất. Từ tính phân cực này dẫn đến việc tác phẩm văn học không thể đồng nhất hoàn toàn với văn bản, hoặc với sự hiện thực hóa của văn bản, mà nó thực sự phải nằm ở vị trí lưng chừng giữa hai cực. Tác phẩm là [cái gì đó] hơn cả văn bản, vì văn bản chỉ đi vào đời sống khi nó được hiện thực hóa, và hơn nữa, sự hiện thực hóa không dựa vào sự độc lập của tính khí cá nhân người đọc – mặc dù đến lượt những mẫu hình khác nhau của văn bản lại phụ thuộc vào sự độc lập này. Sự hội tụ (convergence) giữa văn bản và người đọc đưa tác phẩm văn học vào [đời sống] tồn tại, và sự hội tụ này có thể chưa bao giờ được định vị thật chính xác, nhưng [nó] vẫn luôn thực sự [tồn tại], dù nó không thể bị đồng nhất cả với thực tại của văn bản lẫn với tính khí cá nhân của người đọc.

(còn tiếp)

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Wolfgang Iser, 1974, The Implied Reader, The John Hopkins University Press, Baltimore and London, tr 274-.


[1] Cf. Roman Ingarden, Vom Erkennen des literarischen Kunstwerks (Tübingen, 1968), pp.49 ff.

[2] Xin xem một bàn luận chi tiết về thuật ngữ này trong Roman Ingarden, Das literarische Kunstwerk (Tübingen, 1960), pp.270 ff.

Read Full Post »

Có hai khó khăn liên quan đến nhau trong việc hiểu Wittgenstein muốn nói gì qua khái niệm ‘sự sử dụng’ (the use) của một lời phát biểu. Thứ nhất, ‘sự sử dụng’ nghĩa là ‘cách sử dụng’ (usage) hay ‘tính hữu dụng’ (utility)? Một từ có một sự sử dụng tất định rằng nó có thể khớp với nhiều câu một cách hợp lý, hay sự sử dụng của nó phải tạo ra sự khác biệt nào đó trong thế giới (world)? Hai so sánh của Wittgenstein nhằm vào hai hướng đối lập nhau. Một trò chơi, như trò chơi cờ, chỉ có những quy tắc cú pháp; nước đi tiếp trong trò chơi cờ không tác động [một cách trực tiếp] vào thế giới mà [tác động một cách] gián tiếp thông qua kết quả thắng và thua. Nói cách khác, những dụng cụ là những phương tiện cho việc vận hành trong thế giới và biến đổi nó theo những cách khác nhau. Thứ hai, lý thuyết về nghĩa xét như sự sử dụng được vận dụng trước tiên cho các từ hay cho toàn bộ các câu? Các từ ở đây dường như không giống các dụng cụ, vì các dụng cụ thao tác trong thế giới một cách độc lập, trong khi đó nhìn chung, ta phải đặt những từ đi với nhau trong câu để tác động vào thế giới theo những cách khác nhau: sự thực là sẽ thuận tiện hơn nếu ta sử dụng một ẩn dụ để nói rằng trong ngôn ngữ của ta có một bộ công cụ lắp ráp thay vì một cái túi dụng cụ [để sử dụng]. Một câu hoàn tất dường như là một nước đi trong trò chơi (PG 39). Để nắm vững những cụm từ và thành ngữ trong khi học ngoại ngữ, thì ta tạo ra các câu [để học], thay vì sử dụng chúng.

(còn tiếp)

dịch từ: Anthony Kenny, 2006, Wittgenstein, Revised Edition, Blackwell, USA, từ trang 126-

Read Full Post »

“…. Cách thức người đọc trải nghiệm văn bản sẽ phản ánh thiên hướng riêng của anh ta, và trong khía cạnh này văn bản văn học hoạt động như kiểu một tấm gương; nhưng đồng thời, thực tại được tạo ra từ quá trình đọc ắt sẽ là một thực tại khác với thực tại của riêng người đọc (vì thông thường ta sẽ cảm thấy chán với những văn bản phô bày cho ta những thứ mà chính ta đã biết quá rõ rồi). Do vậy ta gặp ở đây một tình huống có vẻ nghịch lý trong đó người đọc bị buộc phải khám phá những khía cạnh trong chính anh ta để trải nghiệm một thực tại vốn khác với thực tại của riêng anh ta. Sức tác động mà cái thực tại khác này tạo ra đối với người đọc chủ yếu dựa vào phạm vi mà bản thân anh ta tích cực hoàn thành phần chưa được viết của văn bản, và ngay lúc bổ khuyết cho toàn bộ những liên kết đã mất, anh ta phải suy nghĩ [để bổ khuyết] dựa vào những kinh nghiệm khác với kinh nghiệm riêng của anh ta; hơn nữa, chỉ bằng việc quên đi thế giới kinh nghiệm thân thuộc của riêng mình thì người đọc mới có thể chìm đắm vào cuộc du hành mà văn bản văn học hiến tặng”.

trích: Wolfgang Iser, “Qúa trình đọc: một tiếp cận hiện tượng học”. Hoàng Phong Tuấn dịch.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »