Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI DỊCH’ Category

Khoa học logic gồm hai “phần”. Phần thứ nhất, “Logic khách quan”, có hai “quyển”: “Học thuyết về tồn tại” (in năm 1812) và “Học thuyết về bản chất” (1813). Phần thứ hai, “Logic chủ quan” gồm quyển “Học thuyết về khái niệm”, được in năm 1816. Năm 1831, Hegel hoàn tất [bản] chú giải mở rộng và hiệu chỉnh lớn của “Học thuyết về tồn tại”, nhưng không có thời gian hiệu chỉnh phần còn lại của Khoa học logic. Lời nói đầu cho bản in lần thứ hai đề ngày 7, tháng 10, năm 1831, ngay trước khi ông chết vào ngày 14 cùng tháng. Bản in này ra đời 1832, và in lại năm 1834-1835 trong bộ Những công trình di sản. Chỉ mới có bản in lần hai của Khoa học logic là được dịch sang tiếng Anh.

Nội dung của Khoa học logic không tương ứng với quy tắc truyền thống đơn thuần, mà là một nỗ lực phối hợp những nội dung khác nhau trước đó vào một cái toàn bộ đơn nhất. Khoa học logic có những tiền đề chính như sau:

1. Trong quyển Các phạm trù của ông, Aristotle nỗ lực lập danh mục và định nghĩa những loại thuộc tính chung nhất vận dụng cho một thực thể: BẢN THỂ, CHẤT, LƯỢNG, TƯƠNG QUAN… Plato đã nỗ lực một nhiệm vụ tương tự, đặc biệt là trong đối thoại Sophist, một đối thoại của Plato mà Hegel ưa chuộng.

2. Trong quyển De Interpretatione, Aristotle xem xét cấu trúc và những cấu tạo của MỆNH ĐÊ hay PHÁN ĐOÁN. Plato đã khảo sát lại vấn đề này, đặc biệt là trong đối thoại TheaetetusSophist.

3. Quyển Prior Analytics của Aristotle xem xét bản tính và giá trị của CÁC SUY LUẬN hay TAM ĐOẠN LUẬN, trong khi cuốn Posterior Analytics xem xét BẰNG CHỨNG hay sự chứng minh và với KHOA HỌC chứng minh. ‘Analutika’ là từ Aristotle dùng cho logic. Logike (techne) (‘( nghệ thuật ) logic’, là từ logos, ‘lời, lý tính’,… ) trước tiên được PHÁI KHẮC KỶ sử dụng.

Những công trình trên và những công trình khác nữa của Aristotle về sau được gọi là Organon, ‘công cụ’ của tư duy chính xác. (Những công trình có nhan đề “Công cụ mới”, chẳng hạn như của Bacon và Lambert, là những nỗ lực vượt qua hoặc cập nhật Aristotle).

4. Trong quyển Siêu hình học, Aristotle nỗ lực biện minh cho QUY LUẬT của MÂU THUẪN và BÀI TRUNG. (Ông quy chúng cho SIÊU HÌNH HỌC hay “đệ nhất triết học”, vì chúng vận dụng cho mọi thực thể). Vào thời đại Hegel, ‘những quy luật của TƯ DUY/ TƯ TƯỞNG’ cũng gồm cả luật của TÍNH ĐỒNG NHẤT và (từ Leibniz) nguyên tắc túc lý hay LÝ DO đầy đủ.

2, 3, 4, và một phần nào đó 1 tạo lập nên nội dung của logic ‘HÌNH THỨC’, “cổ điển’, ‘truyền thống’ vào thời của Hegel. Hegel, giống như Kant, cho rằng nội dung này không có sự tiến triển quan trọng nào từ thời Aristotle. (thái độ này đánh giá thấp sự đóng góp của thời trung cổ và phái khắc kỉ đối với logic, cũng như với logic toán học bắt đầu với ‘đặc thù phổ quát’ của Leibniz, và điều mà Hegel hoàn toàn khinh miệt).

5. Hegel cũng nói rằng Khoa học logic hợp nhất chất liệu của SIÊU HÌNH HỌC ‘cũ’ rút ra từ Aristotle (và Plato), nhưng cũng bao trùm Leibniz, Spinoza, Wolff,…. Một số khái niệm được giải thích trong Khoa học logic, đặc biệt là trong ‘Học thuyết về bản chất’, đã được các nhà siêu hình học vận dụng.

6. Trong chương chính thứ nhất của Phê phán lý tính thuần túy (PPLTTT), ‘Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức”, Kant định nghĩa logic “siêu nghiệm” như là một khoa học, đối lập với logic hình thức, ‘xác định nguồn gốc, phạm vi và tính giá trị khách quan của các nhận thức [tiên nghiệm]’ (PPLTTT, A57, B81). Logic Siêu nghiệm chia làm hai phần: (a) logic học về chân lý ( phân tích pháp siêu nghiệm, và (b) logic học về ẢO TƯỢNG (shein) (biện chứng pháp siêu nghiệm). Trong phần (a), ông nỗ lực hệ thống hóa và biện minh cho các phạm trù (chẳng hạn như NHÂN QUẢ) được tiền giả định từ các phán đoán KHÁCH QUAN và KINH NGHIỆM. Trong phần (b), ông nỗ lực hạn định việc vận dụng [một cách] TƯ BIỆN của LÝ TÍNH, chẳng hạn như lập luận… dẫn đến sự tự mâu thuẫn. Một số những khái niệm được xét đến trong (a) và (b) xuất hiện trở lại trong Khoa học logic. Nhưng Hegel kết hợp phân tích pháp và BIỆN CHỨNG PHÁP ở mỗi phần của Khoa học logic, và cho rằng mỗi khái niệm ( ngoại trừ Ý NIỆM tuyệt đối) làm sinh ra các sự tự mâu thuẫn hay các mâu thuẫn. Phần chính thứ hai của cuốn PPLTTT, “Học thuyết siêu nghiệm về phương pháp”, nhằm “xác định các điều kiện hình thức cho một hệ thống hoàn chỉnh của lý tính thuần túy” (A708, B735), có liên quan đặc biệt đến mối quan tâm của Hegel về HỆ THỐNG. Nhận thức, và [vì thế] sự hàm ơn của Hegel đối với Kant là rất lớn. Nhưng việc đánh giá rằng những động lực và những trình tự của Hegel có phải thuộc về trường phái Kant hay không còn là một vấn đề gây tranh luận.  (…)

Michael Inwood, 1992, A Hegel Dictionary, Blackwell.

Advertisements

Read Full Post »

Nghiên cứu sau đây có đặc điểm của một cuộc thử nghiệm. Tôi sẽ thử vận dụng một sự phân biệt phương pháp cho ba giai đoạn của sự lý giải, điều vốn vẫn thường không được phân biệt trong thực hành lý giải ngữ văn học cũng như phân tích văn bản. Nếu đúng là việc hiểu và lý giải, sự lĩnh hội trực tiếp và sự giải thích phản tư về một văn bản văn học, được hòa trộn một lần trong tiến trình lý giải, thì ở đây chân trời của lần [đọc] thứ nhất, đọc tri nhận thẩm mỹ sẽ được phân biệt với chân trời của lần [đọc] thứ hai, đọc tái lý giải có tính hồi cố. Để làm điều này, tôi sẽ thêm vào bước thứ ba, đọc lịch sử, bắt đầu với việc tái cấu tạo chân trời của những chờ đợi, trong đó chính bài thơ được ghi lại bằng sự xuất hiện của tập Fleur du mail, và sau đó tuân theo lịch sử của sự tiếp nhận hay các “hoạt động đọc”, tiến đến lần đọc gần đây nhất, đó là lần đọc của tôi.

Ba bước lý giải của tôi không phải là sự cải cách phương pháp của riêng tôi. Nó được đặt cơ sở trong lý thuyết cho rằng quá trình thông diễn được quan niệm như là một sự thống nhất ba moment của sự hiểu, lý giải và vận dụng. Hans-Georg Gadamer đáng được tôn vinh trong việc làm nổi bật tầm quan trọng của sự tổng hợp bộ ba quá trình thông diễn này. Từ thời cổ đại, sự tổng hợp này đã được đặt ra trong toàn bộ [hoạt động] lý giải văn bản, theo đó có nhiều hơn hoặc ít ra là một khía cạnh đã được nhận thức; nó được thông diễn học đức tin trong suốt thời kỳ Ánh sáng ngầm định thức hóa như là học thuyết của ba bước subtilitates; trước sự chiến thắng của lí tưởng thuộc về chủ nghĩa lịch sử và chủ nghĩa thực chứng của tri thức khoa học, nó không còn được tin cậy nữa; và nó trở lại diễn đàn chính theo sự phát triển của lí thuyết, với sự phục hưng của thông diễn học thần học và pháp lí. Sự lạc hậu hiển nhiên của thông diễn học văn học được chứng thực bằng việc ở đây quá trình thông diễn bị quy giản vào chỉ bản thân sự lý giải, mà không có lý thuyết nào về việc hiểu được phát triển cho những văn bản thuộc đặc điểm thẩm mỹ, và vấn đề ‘sự vận dụng’ bị vứt xó để trông cậy vào chủ nghĩa phê bình của các nhà bình điểm sách như là [hoạt động] phê bình không còn mang tính học thuật nữa. Lời đề nghị của Gadamer về việc “định nghĩa lại thông diễn học của khoa học nhân văn từ viễn tượng của thông diễn học về luật học và thần học” là một cơ hội cho thông diễn học văn học, cho mục đích mà tôi đặt ra về vấn đề có thể và bằng cách nào sự tổng hợp thông diễn của cả ba moment đó hiện thực hóa bản thân nó trong [hoạt động] lý giải một văn bản thơ ca.

(chắc chắn là còn tiếp…. hehe…)

Dịch từ Hans Robert Jauss, Kinh nghiệm thẩm mỹ và thông diễn học văn học, Suhrkamp, 1991, trang 813-

Read Full Post »

 

Lý thuyết hồi ứng người đọc và phê bình nữ quyền

Phê bình hồi ứng người đọc, như đã được thiết lập hiện nay, là một thuyết không tưởng theo cả hai nghĩa. Các nghiên cứu khác nhau về kinh nghiệm đọc đã nảy nở sinh sôi mà bỏ qua những vấn đề về chủng tộc, giai cấp và giới tính và cũng không đưa ra một gợi ý nào về những xung đột, những đau khổ và những đam mê hiện diện nơi các thực tại này. Sự bình thản ngang nhau trong giọng điệu của các lý thuyết này chứng tỏ cái vị thế đặc quyền của các lý thuyết gia. Dĩ nhiên, rồi đây khi mà những đặc quyền này tan biến đi hay ít nhất là nó được phân phối một cách công bằng hơn, thì chỉ vài trong số những lý thuyết này còn có vẻ đúng sự thật. Khi ấy, chắc hẳn là ta sẽ nói về việc đọc mà không còn lo lắng gì về sự bất công. Nhưng giờ đây thì phê bình hồi ứng người đọc phải đối diện với những can hệ đầy phiền toái từ thực tại lịch sử của chúng ta. Điều nghịch lí là, những lý thuyết không tưởng vốn đã lấp liếm đi những thực tại này lại tiết lộ ra những xung lực không tưởng thông tin [cho ta] về những thực tại ấy.

Nói một cách đơn giản, phê bình hồi ứng người đọc cần đến phê bình nữ quyền. Cả hai vẫn phải gắn kết lẫn nhau một cách nghiêm ngặt và lâu dài, nhưng nếu triển vọng của phê bình nữ quyền được thực hiện trọn vẹn, thì một sự va chạm tất yếu sẽ sớm xảy ra. Thật ngạc nhiên là, câu hỏi rành mạch về tầm quan trọng của giới tính đã được đặt ra một cách minh nhiên, và – điều này chứng thực cho sự ảnh hưởng ngày càng tăng của phê bình nữ quyền cũng như là bình diện hoàn toàn có tính ý [thức] hệ của những nghiên cứu về giới tính trong phê bình hồi ứng người đọc – không do một nhà phê bình nữ quyền mà lại do Jonathan Culler, một lý thuyết gia hàng đầu về việc đọc đặt ra:

Nếu kinh nghiệm văn học dựa trên những tính chất của một bản ngã đang đọc, ta có thể hỏi rằng sẽ có khác biệt gì [xảy đến] với kinh nghiệm văn học, và do vậy, với cả ý nghĩa văn học nếu bản ngã này là nữ giới thay vì nam giới. Nếu ý nghĩa của một tác phẩm là kinh nghiệm của một người đọc, sẽ có khác biệt gì nếu người đọc là một phụ nữ? [1].

(Còn tiếp)


[1] Jonathan D. Culler, On Deconstruction: Theory and Criticism after Structuralism (Ithaca: Cornell University Press, 1982), p 42.

Read Full Post »

“… Để hiểu cách thức tạo lập và lí giải một văn bản, ta cần một tổng hợp các quy tắc ngữ nghĩa – ngữ dụng, được cấu tạo từ một sự trình bày ngữ nghĩa tựa như bách khoa thư, vốn thiết lập nên cách thức và trạng thái [để] quyết định quyền cộng tác của người nhận một văn bản cho trước nhằm hiện thực hóa những gì mà văn bản thực sự nói. Điều này đã được định đề hóa trong nghĩa vị (sememe), nghĩa vị mới chính là văn bản thực sự, văn bản là sự mở rộng của nghĩa vị. Theo nghĩa này mà Peirce viết rằng thuật ngữ là một mệnh đề sơ đẳng, và một mệnh đề là một lập luận sơ đẳng. Điều này có nghĩa là có thể thiết lập được không gian kí hiệu [semiosis] không giới hạn, như là một quá trình lý giải liên tục. […]

Đọc một văn bản nghĩa là [ta] vận hành thông tin ngữ nghĩa được mã hóa hay siêu mã hóa theo cách thức [ta] quyết định liệu có nên làm tăng lên hay đông cứng những nghĩa tố có sẵn được cấp bởi trò chơi tương tác giữa những nghĩa vị, và [quyết định] cách thức chúng tác động và hòa hợp lẫn nhau. […]

Có sự tương hợp lẫn nhau giữa một lý thuyết về việc sản sinh và lý giải văn bản và một lý thuyết phổ quát về kí hiệu. Người đọc đóng một vai trò chủ động trong [hoạt động] lý giải văn bản vì các kí hiệu được cấu trúc theo dạng thức phi quy chiếu (pↄq, không phải p≡q). Hoạt động lý giải văn bản có thể thực hiện được vì các kí hiệu ngôn ngữ không bị quyết định bởi tính tương đương tuyệt đối (đồng nghĩa hay định nghĩa); chúng cơ bản không dựa trên ý niệm về tính đồng nhất mà bị chi phối bởi một lược đồ phi quy chiếu, do đó chúng có vô số khả năng lý giải. Qủa thực, các văn bản có thể nói nhiều hơn ta tưởng, chúng luôn có thể nói cái gì đó mới, vì các kí hiệu khởi đầu quá trình lý giải mà quá trình này dẫn đến một dãy vô hạn những hậu quả lũy tiến….”

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Umberto Eco, 1981, “The Theory of Signs and the Role of Reader”, The Bulletin of Midwest Modern Language Association. Voll.14, No.1, trang 38.

Read Full Post »

…. Dĩ nhiên, ta không phủ nhận rằng các văn bản văn học chứa đựng một cơ sở lịch sử; tuy nhiên, trong cách thức mà văn học đảm nhận nhiệm vụ của nó, và cách thức mà nó giao tiếp, thì dường như nó không đơn thuần được xác định bằng các bối cảnh lịch sử, mà bằng cấu trúc thẩm mỹ nội tại đặc trưng của nó. Đó là lý do vì sao khi đọc các văn bản từ thời đại quá khứ, ta thường xúc động, thực sự cảm thấy mình được chuyển vị trở về các thời đại ấy và chuyển động trong các bối cảnh lịch sử, như thể là ta thuộc về chúng hay như thể là quá khứ được trở về trong hiện tại. Điều kiện tiên quyết cho trải nghiệm này chắc chắn là do văn bản tạo ra, nhưng với tư cách người đọc, ta cũng đóng một vai trò trong sự sáng tạo ra cái ấn tượng cảm giác này. Ta là người trao cho văn bản cuộc sống….

Read Full Post »

Dịch thô xong bài này, tôi sướng quá đi. Dù còn phải sửa chữa và hiệu đính….

Đây là bản do Iser tự dịch ra tiếng Anh từ bài phát biểu nổi tiếng khi nhậm chức giáo sư đại học Konstanz: Die Appellstructur der Texte.

Bản tiếng Anh này, Iser vừa dịch, vừa viết lại, dễ hiểu và rõ ràng hơn. Rồi đây tôi sẽ xông vào bản tiếng Đức. Hehe.

Có thể nói, trong các lí thuyết gia mỹ học tiếp nhận, tôi sợ ông này nhất. Không chỉ vì lí thuyết của ổng liên quan đến hiện tượng học, là cái món tôi chỉ mới vừa được học hành, mà còn vì cha này viết quá khô khan, và chi li….

“… Nói một cách ngắn gọn, quá trình đọc cần được miêu tả như là sự chuyển đổi của người đọc cho các dấu hiệu từ văn bản gởi đến. Nhưng nếu hành vi đọc thực sự là sự chuyển đổi các dấu hiệu do tác giả tạo ra, thì ta buộc phải hỏi rằng liệu có thể mô tả được một quá trình như thế mà không viện dẫn đến một tâm lý học về người đọc hay không. Hơn nữa, nếu ta nỗ lực phác họa một sự phân biệt giữa văn bản và các hình thức khác nhau có thể có cho sự chuyển đổi của nó, thì ta có nguy cơ bị buộc tội là đã phủ định tính đồng nhất của văn bản và đơn thuần để nó tan biến vào trong sự tùy tiện của tri nhận chủ quan. Một văn bản, như những khuynh hướng thảo luận, phải biểu trưng cái gì đó, và ý nghĩa của cái được biểu trưng tồn tại độc lập với mỗi phản ứng cá biệt mà cái ý nghĩa đó gợi nên. Tuy nhiên, để chạm đến điều này, ta phải thừa nhận rằng “ý nghĩa” này, trông có vẻ là độc lập với mỗi sự cụ thể hóa văn bản, chính nó không gì khác hơn là trải nghiệm đọc cá nhân mà giờ đây đã được đồng nhất hóa với bản thân văn bản. Những lý giải dựa trên [quan niệm về] việc truyền tải ý nghĩa vẫn luôn tồn tại trong nhiều thời đại, với việc làm tan loãng một cách hợp lý những văn bản mà chúng xem xét. May mắn thay, những lý giải như thế thỉnh thoảng cũng bị rơi vào mâu thuẫn, nhưng hầu hết đều với lý do hợp lý rằng một lý giải bị hạn định như thế rút cuộc thì cũng sẽ đi đến chỗ bị vượt bỏ. Lịch sử của những hồi ứng với các tác phẩm văn học, hóa ra lại là một lịch sử của những biến số, có đầy rẫy những ví dụ về điều này…”.

Read Full Post »

I

Lý thuyết hiện tượng học về nghệ thuật nhấn mạnh rõ ý niệm rằng trong việc xem xét một tác phẩm văn học, ta phải đưa vào bản miêu tả không chỉ văn bản hiện thực mà, theo một mức độ tương đương, còn phải đưa vào cả những hành động liên quan đến việc hồi ứng đối với văn bản đó. Vì vậy, Romand Ingarden đã đặt cấu trúc của văn bản văn học đối diện với những cách thức trong đó nó có thể được cụ thể hóa (konkretisiert/realized) [1]. Một văn bản xét như là văn bản cung cấp “những góc nhìn lược đồ hóa” (schematised views) [2] khác nhau qua đó nội dung chủ đề của tác phẩm có thể trở nên sáng tỏ, nhưng [điều] thực sự làm cho nội dung này sáng tỏ lại là hành động cụ thể hóa(Konkretisation). Nếu như thế thì tác phẩm văn học có hai cực, mà ta nên gọi là cực nghệ thuật và cực thẩm mỹ: cực nghệ thuật quy chiếu vào văn bản được tác giả sáng tạo, và cực thẩm mỹ quy chiếu vào sự hiện thực hóa do người đọc hoàn tất. Từ tính phân cực này dẫn đến việc tác phẩm văn học không thể đồng nhất hoàn toàn với văn bản, hoặc với sự hiện thực hóa của văn bản, mà nó thực sự phải nằm ở vị trí lưng chừng giữa hai cực. Tác phẩm là [cái gì đó] hơn cả văn bản, vì văn bản chỉ đi vào đời sống khi nó được hiện thực hóa, và hơn nữa, sự hiện thực hóa không dựa vào sự độc lập của tính khí cá nhân người đọc – mặc dù đến lượt những mẫu hình khác nhau của văn bản lại phụ thuộc vào sự độc lập này. Sự hội tụ (convergence) giữa văn bản và người đọc đưa tác phẩm văn học vào [đời sống] tồn tại, và sự hội tụ này có thể chưa bao giờ được định vị thật chính xác, nhưng [nó] vẫn luôn thực sự [tồn tại], dù nó không thể bị đồng nhất cả với thực tại của văn bản lẫn với tính khí cá nhân của người đọc.

(còn tiếp)

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Wolfgang Iser, 1974, The Implied Reader, The John Hopkins University Press, Baltimore and London, tr 274-.


[1] Cf. Roman Ingarden, Vom Erkennen des literarischen Kunstwerks (Tübingen, 1968), pp.49 ff.

[2] Xin xem một bàn luận chi tiết về thuật ngữ này trong Roman Ingarden, Das literarische Kunstwerk (Tübingen, 1960), pp.270 ff.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »