Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI DỊCH’ Category

“Mỗi hành vi đọc là một sự kiện, một sự tương hỗ bao gồm một người đọc cụ thể và sự tượng hình cụ thể của những vết mực trên trang giấy, và xảy ra trong một thời gian cụ thể ở một ngữ cảnh cụ thể. Những trạng thái cơ thể nào đó, những loại cảm xúc nào đó, những sự liên kết ngôn từ và biểu trưng nào đó, được khơi dậy từ nơi trữ lượng ngôn từ (linguistic reservoir). Từ những vùng năng động này, đến những cụm từ, nói theo cách đơn giản nhất, sự định hướng lựa chọn – được điều kiện hóa từ những nhân tố cá nhân và xã hội phức tạp tham gia vào tình huống – tuyển ra những yếu tố tổng hợp hay hòa phối thành cái tạo nên “ý nghĩa”. Ý nghĩa không phải là cái đã tạo rồi sẵn có trong văn bản hay nơi người đọc, mà là điều xảy ra trong suốt sự tương hỗ giữa người đọc và văn bản.

Khi ta nhìn thấy một tập hợp những vết mực trên trang in mà ta tin rằng chúng có thể được chuyển thành các kí hiệu ngôn từ (nghĩa là có thể được xem như một văn bản), ta cho rằng nó ắt sinh ra một số loại ý nghĩa ít nhiều mạch lạc. Ta sử dụng kinh nghiệm dự trữ của ta. Những khả năng lựa chọn phức tạp bên trong vang vọng đến những từ ngữ khi chúng được đặt vào trong các cụm từ và các câu. Từ mỗi khởi đầu, và thậm chí thường là trước đó, một số những chờ đợi, một vài những cảm xúc, hay quy tắc hay mục đích sơ khởi, chẳng quan trọng là chúng mơ hồ như thế nào, sẽ dẫn dắt sự lựa chọn và tổng hợp. Khi đôi mắt ta chạm đến văn bản đang mở ngỏ, ta tìm kiếm những dấu hiệu dựa trên những chờ đợi về điều gì sắp đến, dưới sự soi sáng của trải nghiệm ngữ pháp và ngữ nghĩa trong quá khứ. Văn bản xét như một kiểu hình ngôn ngữ là bộ phận của cái gì đang được cấu tạo. Những khả năng mở ra cho các quy ước từ vựng, ngữ pháp, ngôn ngữ và văn học, các ý tưởng, các chủ đề, những kiểu mẫu chung của ý nghĩa vốn có thể được tiếp tục triển khai”. Louise Rosenblatt, 1988, Writing and Reading: The Transactional Theory, University of Illinois, trang 4.

Advertisements

Read Full Post »

“Chẳng có cái gì giống như loại người đọc hay loại tác phẩm văn học; mà chỉ có hằng triệu khả năng của những người đọc cá thể và hằng triệu khả năng của các tác phẩm văn học. Một tiểu thuyết, một bài thơ hay một vở kịch chỉ thuần túy là những vết mực trên giấy cho đến khi người đọc chuyển chúng thành một tập hợp những biểu trưng có nghĩa. Tác phẩm văn học tồn tại trong một phạm vi sống động tạo ra giữa người đọc và văn bản; người đọc đưa ý nghĩa cảm xúc và tinh thần vào kiểu hình của các biểu trưng ngôn từ, và những biểu trưng này dẫn dắt (channel) tư tưởng và cảm xúc của họ”. Louise Rosenblatt.

Read Full Post »

Phạm trù về sự hồi ứng bao gồm bất kỳ và toàn bô những hoạt động được khơi gợi từ một dãy các từ: sự dự phóng những khả năng cú pháp và từ vựng; những gì diễn ra hay không diễn ra sau đó của chúng; thái độ hướng đến những con người và những sự vật, hay những ý niệm hướng đến chúng; sự đảo ngược hay đặt vấn đề về những thái độ đó; và nhiều điều nữa. Hiển nhiên, điều này áp đặt một gánh nặng rất lớn lên người phân tích, người mà quan sát của anh ta vào bất kỳ thời khắc nào trong trải nghiệm đọc phải bao hàm toàn bộ những gì đã xảy ra (trong tâm trí của người đọc) ở những thời điểm trước đó, mỗi trong số chúng nằm ở nơi sự chuyển hướng của nó tùy thuộc vào những áp lực được tích lũy của những gì trước đó của nó. (Anh ta phải xét cả những ảnh hưởng và những áp lực xảy ra trước trải nghiệm đọc hiện thời – câu hỏi về thể loại, lịch sử và vân vân – những câu hỏi ta sẽ xem xét sau). Toàn bộ những điều này được thâu gồm trong vế câu “hiện thời”. Nền tảng của phương pháp là một sự xem xét về dòng chảy thời gian của trải nghiệm đọc, và nó cho thấy rằng người đọc hồi ứng dựa trên dòng chảy này và không [hồi ứng] đối với toàn bộ phát biểu. Nghĩa là, trong bất kỳ đoạn nào của phát biểu, có một điểm mà nơi đó người đọc lĩnh hội từ thứ nhất, và sau đó là từ thứ hai, rồi thứ ba, và cứ tiếp tục như vậy, và sự tường thuật về những gì xảy ra đối với người đọc luôn là sự tường thuật về điều đã xảy ra đối với điểm đó”.

(Stanley Fish, “Literature in the Reader: Affective Stylistics”, Is There a Text in This Class? Harvard University Press, trang 27).

Read Full Post »

“Tỉ lệ, sự hợp nhất của văn bản, ngang bằng với tỉ lệ, sự đồng nhất của bản ngã, nhưng với điều kiện vế phải của phương trình không thể bị triệt tiêu (eliminated) bởi vế trái của nó. Tính hợp nhất mà ta tìm thấy trong các văn bản văn học thấm đẫm tính đồng nhất phát hiện ra tính hợp nhất đó. Điều này đơn giản có nghĩa là việc đọc của tôi về tác phẩm văn học nào đó sẽ khác biệt với của bạn, của anh ta hay của cô ta. Với tư cách là những người đọc, mỗi người trong số chúng ta sẽ sử dụng những loại thông tin khác nhau từ bên ngoài. Mỗi người sẽ tìm thấy những chủ đề cụ thể liên quan đến họ. Mỗi người sẽ có những cách khác nhau để đưa văn bản vào sự trải nghiệm với một sự mạch lạc và ý nghĩa làm thỏa mãn [sự chờ đợi của họ]. [….] Nguyên tắc bao quát là: tính đồng nhất tái tạo bản ngã, hay, nói theo cách khác, phong thái (style) – theo nghĩa là khí chất cá nhân – tự tạo ra chính mình. Nghĩa là, khi đọc, tất cả chúng ta sử dụng tác phẩm văn học để biểu trưng hóa và cuối cùng là lặp lại bản thân mình. Chúng ta thực hiện xuyên suốt văn bản những kiểu hình ham muốn và thích nghi đặc thù của riêng ta. Chúng ta tương tác với tác phẩm, đặt vào nó vai trò tiềm lực tâm lý của riêng ta và đặt vào chính mình vai trò của tác phẩm – khi ta lý giải nó”. Norman Holland, 1975, Unity Identity Text Self, PMLA, 90, 816.

Read Full Post »

“Văn bản là một phương tiện được hình thành để sản xuất ra người đọc mẫu của nó. Tôi  nhắc lại rằng đây không phải loại người đọc tạo ra dự đoán luôn luôn đúng [về văn bản]. Một văn bản có thể dự liệu người đọc mẫu vốn được trao quyền để nỗ lực có những dự đoán vô tận. Người đọc thực tế/ thường nghiệm chỉ là một diễn viên tạo ra những dự đoán về loại người đọc mẫu do văn bản đặt định. Vì về cơ bản ý định của văn bản là nhằm sản xuất một người đọc mẫu để có những dự đoán về nó. Tính chủ động của người đọc mẫu cốt ở việc luận ra một tác giả mẫu, không phải là tác giả thực tế, và, cuối cùng, đồng nhất với ý định của văn bản”.

Umberto Eco, 1990, Interpretation and Overinterpretation: Word, History, Texts, Clare Hall, Cambrigd University, tr 180.

Read Full Post »

…  Châm ngôn của Gadamer “Hiểu nghĩa là hiểu điều gì đó như là một câu trả lời”, cần phải được giới hạn lại trong việc xem xét văn bản thi ca. Ở đây nó chỉ có liên quan với hành vi thứ hai của việc hiểu lý giải trong chừng mực việc hiểu này cụ thể hóa một ý nghĩa cá biệt như một câu trả lời cho một câu hỏi; vì vậy, có lẽ nó không liên quan với hành vi đầu tiên của việc hiểu tri nhận, vốn trình bày và kiến tạo kinh nghiệm thẩm mỹ của văn bản thi ca. Thực sự là tri nhận thẩm mỹ cũng đã luôn bao hàm việc hiểu. Vì như đã biết, trong sự đối lập với tri nhận thẩm mỹ hằng ngày vốn dĩ quy thoái vào trong một quy tắc, văn bản thi ca như một đối tượng thẩm mỹ có khả năng tạo nên một dạng thức tri nhận vừa phức hợp vừa nhiều ý nghĩa, vốn dĩ như sự thích thú thẩm mỹ nhằm làm mới lại nhãn quan nhận thức hay là sự nhận thức lại có tính mỹ cảm. Tuy vậy sự hoàn tất này của mỹ cảm, [dù] có chiều hướng của việc hiểu nghĩa, [nhưng] chưa cần đến sự lý giải, và vì vậy nó cũng không cần thiết phải có đặc tính của câu trả lời cho một câu hỏi mặc nhiên hay minh nhiên. Nếu ta cần nhận thức sự tiếp nhận văn bản thi ca trong trường hợp này – như chính Gadamer, kế thừa Husserl, đã phát biểu – “sự lược quy có tính thị giác đạt được một cách tự nhiên trong kinh nghiệm thẩm mỹ”, thì việc hiểu trong hành vi tri nhận thẩm mỹ không thể được quy vào cho sự lý giải mà vốn dĩ – do thực tế là điều gì đó được hiểu như là câu trả lời – lược quy sự phong phú ý nghĩa của văn bản thi ca vào cho sự phong phú của những biểu tả có thể có của nó. Trong sự lược quy có tính thị giác của tri nhận thẩm mỹ, sự lược quy có tính phản tư gia nhập vào sự lý giải vốn dĩ sẽ hiểu văn bản như là câu trả lời cho một câu hỏi mặc nhiên, có thể do thời gian, vẫn bị trì hoãn, trong khi cùng lúc ấy, việc hiểu vẫn vận hành cho phép người đọc trải nghiệm ngôn ngữ trong sức mạnh của nó, và do đó, thế giới trở nên đầy ý nghĩa.

Dịch từ: Hans Robert Jauss (1991), Ästhetische Erfahrung und literarische Hermeneutik, Suhrkamp, Frankfurt am Main.


Read Full Post »

Những nội dung chính của Khoa học logic:
1.    “Logic khách quan’, bắt đầu với Lời nói đầu cho bản in lần thứ nhất. Phần này khái lược những đặc trưng chung của Khoa học logic, ngữ cảnh triết học và văn hóa trong đó nó được viết ra, và mối quan hệ của nó với Hiện tượng học tinh thần.
2.    Lời nói đầu cho bản in lần thứ hai xem xét mối quan hệ của NHỮNG SỰ QUY ĐỊNH TƯ TƯỞNG đối với NGÔN NGỮ, đối với cái tôi và đối với SỰ VẬT. Nó giải thích các thủ tục của Khoa học logic và bảo vệ chúng chống lại những quan niệm sai lầm.
3.    Phần dẫn nhập khái lược ‘quan niệm chung’ về logic, và mối quan hệ của nó với Hiện tượng học tinh thần, với ngôn ngữ, với logic hình thức, với các triết học thời kì đầu, đặc biệt là với triết học Kant. Sau đó nó giải tích sự phân chia logic thành logic tồn tại, logic bản chất và logic về khái niệm.
4.    Sách I, “Học thuyết về tồn tại”, bắt đầu với một tiết đoạn được đặt làm nhan đề: “KHOA HỌC phải bắt đầu với cái gì”. Tiết đoạn này xem xét [những] khó khăn trong việc khởi đầu logic học và triết học nói chung, đặc biệt là vì triết học không nên có CÁC TIỀN GIẢ ĐỊNH và cũng không nên tạo thành một sự [quy thoái] vòng tròn. Hegel giải thích tại sao ông đã không (giống như Fichte và Schelling thời kì đầu) bắt đầu với CÁI TÔI thuần túy (vì, chẳng hạn nó đặt cơ sở trên một dẫn nhập văn hóa và triết học một cách tiên nghiệm), mà với tồn tại. Yêu sách của Hegel rằng Khoa học logic là “sự phơi mở của THƯỢNG ĐẾ xét như ông ta trong bản chất nội tại có trước sự sáng tạo tự nhiên và tinh thần vô hạn” (Khoa học logic, Dẫn nhập) là [yêu sách] sai lầm trong lập luận của nó khi cho rằng logic tạo thành sự khởi đầu của HỆ THỐNG, vì hệ thống tạo thành một vòng tròn, nó cũng tương tự sự kết thúc (và trung gian).
5.    Khoa học logic, giống như toàn bộ hệ thống của Hegel, bao gồm CÁC NHỊP BA trong các nhịp ba. Một nhịp ba toàn bộ thường có nhan đề tương tự như hạn từ thứ nhất của nhịp ba, phần vì Hegel tin rằng CÁI PHỔ BIẾN (chung) tự chia tách thành cái phổ biến (đặc thù), một CÁI ĐẶC THÙ và một CÁI CÁ THỂ. Học thuyết về tồn tại tự nó chia làm ba phần. Phần I ( TÍNH QUY ĐỊNH hay CHẤT) khảo sát (a) tồn tại ( tồn tại, HƯ VÔ, SỰ TRỞ THÀNH); (b) TỔN TẠI ĐƯỢC QUY ĐỊNH (tồn tại được quy định, HỮU HẠN, vô hạn); và (c) TỒN TẠI CHO MÌNH (tồn tại cho mình, cái một và cái nhiều, việc đẩy và việc hút). Phần II (độ lớn hay LƯỢNG) (a) lượng (lượng thuần túy, độ lớn lien tục và gián đoạn, SỰ GIỚI HẠN của độ lớn); (b) đại lượng (con số, đại lượng ngoại tại và nội tại, vô hạn về lượng); và (c) QUAN HỆ về lượng hay tỉ lệ. Phần III (HẠN ĐỘ) bao gồm (i) lượng đặc thù; (ii) hạn độ thực; (iii) sự trở thành của bản chất.
(Dịch từ: A Hegel Dictionary, Michael Inwood, Blackwell, 1992, “Science of Logic”.)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »