Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI DỊCH’ Category

Phạm trù về sự hồi ứng bao gồm bất kỳ và toàn bô những hoạt động được khơi gợi từ một dãy các từ: sự dự phóng những khả năng cú pháp và từ vựng; những gì diễn ra hay không diễn ra sau đó của chúng; thái độ hướng đến những con người và những sự vật, hay những ý niệm hướng đến chúng; sự đảo ngược hay đặt vấn đề về những thái độ đó; và nhiều điều nữa. Hiển nhiên, điều này áp đặt một gánh nặng rất lớn lên người phân tích, người mà quan sát của anh ta vào bất kỳ thời khắc nào trong trải nghiệm đọc phải bao hàm toàn bộ những gì đã xảy ra (trong tâm trí của người đọc) ở những thời điểm trước đó, mỗi trong số chúng nằm ở nơi sự chuyển hướng của nó tùy thuộc vào những áp lực được tích lũy của những gì trước đó của nó. (Anh ta phải xét cả những ảnh hưởng và những áp lực xảy ra trước trải nghiệm đọc hiện thời – câu hỏi về thể loại, lịch sử và vân vân – những câu hỏi ta sẽ xem xét sau). Toàn bộ những điều này được thâu gồm trong vế câu “hiện thời”. Nền tảng của phương pháp là một sự xem xét về dòng chảy thời gian của trải nghiệm đọc, và nó cho thấy rằng người đọc hồi ứng dựa trên dòng chảy này và không [hồi ứng] đối với toàn bộ phát biểu. Nghĩa là, trong bất kỳ đoạn nào của phát biểu, có một điểm mà nơi đó người đọc lĩnh hội từ thứ nhất, và sau đó là từ thứ hai, rồi thứ ba, và cứ tiếp tục như vậy, và sự tường thuật về những gì xảy ra đối với người đọc luôn là sự tường thuật về điều đã xảy ra đối với điểm đó”.

(Stanley Fish, “Literature in the Reader: Affective Stylistics”, Is There a Text in This Class? Harvard University Press, trang 27).

Advertisements

Read Full Post »

“Tỉ lệ, sự hợp nhất của văn bản, ngang bằng với tỉ lệ, sự đồng nhất của bản ngã, nhưng với điều kiện vế phải của phương trình không thể bị triệt tiêu (eliminated) bởi vế trái của nó. Tính hợp nhất mà ta tìm thấy trong các văn bản văn học thấm đẫm tính đồng nhất phát hiện ra tính hợp nhất đó. Điều này đơn giản có nghĩa là việc đọc của tôi về tác phẩm văn học nào đó sẽ khác biệt với của bạn, của anh ta hay của cô ta. Với tư cách là những người đọc, mỗi người trong số chúng ta sẽ sử dụng những loại thông tin khác nhau từ bên ngoài. Mỗi người sẽ tìm thấy những chủ đề cụ thể liên quan đến họ. Mỗi người sẽ có những cách khác nhau để đưa văn bản vào sự trải nghiệm với một sự mạch lạc và ý nghĩa làm thỏa mãn [sự chờ đợi của họ]. [….] Nguyên tắc bao quát là: tính đồng nhất tái tạo bản ngã, hay, nói theo cách khác, phong thái (style) – theo nghĩa là khí chất cá nhân – tự tạo ra chính mình. Nghĩa là, khi đọc, tất cả chúng ta sử dụng tác phẩm văn học để biểu trưng hóa và cuối cùng là lặp lại bản thân mình. Chúng ta thực hiện xuyên suốt văn bản những kiểu hình ham muốn và thích nghi đặc thù của riêng ta. Chúng ta tương tác với tác phẩm, đặt vào nó vai trò tiềm lực tâm lý của riêng ta và đặt vào chính mình vai trò của tác phẩm – khi ta lý giải nó”. Norman Holland, 1975, Unity Identity Text Self, PMLA, 90, 816.

Read Full Post »

“Văn bản là một phương tiện được hình thành để sản xuất ra người đọc mẫu của nó. Tôi  nhắc lại rằng đây không phải loại người đọc tạo ra dự đoán luôn luôn đúng [về văn bản]. Một văn bản có thể dự liệu người đọc mẫu vốn được trao quyền để nỗ lực có những dự đoán vô tận. Người đọc thực tế/ thường nghiệm chỉ là một diễn viên tạo ra những dự đoán về loại người đọc mẫu do văn bản đặt định. Vì về cơ bản ý định của văn bản là nhằm sản xuất một người đọc mẫu để có những dự đoán về nó. Tính chủ động của người đọc mẫu cốt ở việc luận ra một tác giả mẫu, không phải là tác giả thực tế, và, cuối cùng, đồng nhất với ý định của văn bản”.

Umberto Eco, 1990, Interpretation and Overinterpretation: Word, History, Texts, Clare Hall, Cambrigd University, tr 180.

Read Full Post »

…  Châm ngôn của Gadamer “Hiểu nghĩa là hiểu điều gì đó như là một câu trả lời”, cần phải được giới hạn lại trong việc xem xét văn bản thi ca. Ở đây nó chỉ có liên quan với hành vi thứ hai của việc hiểu lý giải trong chừng mực việc hiểu này cụ thể hóa một ý nghĩa cá biệt như một câu trả lời cho một câu hỏi; vì vậy, có lẽ nó không liên quan với hành vi đầu tiên của việc hiểu tri nhận, vốn trình bày và kiến tạo kinh nghiệm thẩm mỹ của văn bản thi ca. Thực sự là tri nhận thẩm mỹ cũng đã luôn bao hàm việc hiểu. Vì như đã biết, trong sự đối lập với tri nhận thẩm mỹ hằng ngày vốn dĩ quy thoái vào trong một quy tắc, văn bản thi ca như một đối tượng thẩm mỹ có khả năng tạo nên một dạng thức tri nhận vừa phức hợp vừa nhiều ý nghĩa, vốn dĩ như sự thích thú thẩm mỹ nhằm làm mới lại nhãn quan nhận thức hay là sự nhận thức lại có tính mỹ cảm. Tuy vậy sự hoàn tất này của mỹ cảm, [dù] có chiều hướng của việc hiểu nghĩa, [nhưng] chưa cần đến sự lý giải, và vì vậy nó cũng không cần thiết phải có đặc tính của câu trả lời cho một câu hỏi mặc nhiên hay minh nhiên. Nếu ta cần nhận thức sự tiếp nhận văn bản thi ca trong trường hợp này – như chính Gadamer, kế thừa Husserl, đã phát biểu – “sự lược quy có tính thị giác đạt được một cách tự nhiên trong kinh nghiệm thẩm mỹ”, thì việc hiểu trong hành vi tri nhận thẩm mỹ không thể được quy vào cho sự lý giải mà vốn dĩ – do thực tế là điều gì đó được hiểu như là câu trả lời – lược quy sự phong phú ý nghĩa của văn bản thi ca vào cho sự phong phú của những biểu tả có thể có của nó. Trong sự lược quy có tính thị giác của tri nhận thẩm mỹ, sự lược quy có tính phản tư gia nhập vào sự lý giải vốn dĩ sẽ hiểu văn bản như là câu trả lời cho một câu hỏi mặc nhiên, có thể do thời gian, vẫn bị trì hoãn, trong khi cùng lúc ấy, việc hiểu vẫn vận hành cho phép người đọc trải nghiệm ngôn ngữ trong sức mạnh của nó, và do đó, thế giới trở nên đầy ý nghĩa.

Dịch từ: Hans Robert Jauss (1991), Ästhetische Erfahrung und literarische Hermeneutik, Suhrkamp, Frankfurt am Main.


Read Full Post »

Những nội dung chính của Khoa học logic:
1.    “Logic khách quan’, bắt đầu với Lời nói đầu cho bản in lần thứ nhất. Phần này khái lược những đặc trưng chung của Khoa học logic, ngữ cảnh triết học và văn hóa trong đó nó được viết ra, và mối quan hệ của nó với Hiện tượng học tinh thần.
2.    Lời nói đầu cho bản in lần thứ hai xem xét mối quan hệ của NHỮNG SỰ QUY ĐỊNH TƯ TƯỞNG đối với NGÔN NGỮ, đối với cái tôi và đối với SỰ VẬT. Nó giải thích các thủ tục của Khoa học logic và bảo vệ chúng chống lại những quan niệm sai lầm.
3.    Phần dẫn nhập khái lược ‘quan niệm chung’ về logic, và mối quan hệ của nó với Hiện tượng học tinh thần, với ngôn ngữ, với logic hình thức, với các triết học thời kì đầu, đặc biệt là với triết học Kant. Sau đó nó giải tích sự phân chia logic thành logic tồn tại, logic bản chất và logic về khái niệm.
4.    Sách I, “Học thuyết về tồn tại”, bắt đầu với một tiết đoạn được đặt làm nhan đề: “KHOA HỌC phải bắt đầu với cái gì”. Tiết đoạn này xem xét [những] khó khăn trong việc khởi đầu logic học và triết học nói chung, đặc biệt là vì triết học không nên có CÁC TIỀN GIẢ ĐỊNH và cũng không nên tạo thành một sự [quy thoái] vòng tròn. Hegel giải thích tại sao ông đã không (giống như Fichte và Schelling thời kì đầu) bắt đầu với CÁI TÔI thuần túy (vì, chẳng hạn nó đặt cơ sở trên một dẫn nhập văn hóa và triết học một cách tiên nghiệm), mà với tồn tại. Yêu sách của Hegel rằng Khoa học logic là “sự phơi mở của THƯỢNG ĐẾ xét như ông ta trong bản chất nội tại có trước sự sáng tạo tự nhiên và tinh thần vô hạn” (Khoa học logic, Dẫn nhập) là [yêu sách] sai lầm trong lập luận của nó khi cho rằng logic tạo thành sự khởi đầu của HỆ THỐNG, vì hệ thống tạo thành một vòng tròn, nó cũng tương tự sự kết thúc (và trung gian).
5.    Khoa học logic, giống như toàn bộ hệ thống của Hegel, bao gồm CÁC NHỊP BA trong các nhịp ba. Một nhịp ba toàn bộ thường có nhan đề tương tự như hạn từ thứ nhất của nhịp ba, phần vì Hegel tin rằng CÁI PHỔ BIẾN (chung) tự chia tách thành cái phổ biến (đặc thù), một CÁI ĐẶC THÙ và một CÁI CÁ THỂ. Học thuyết về tồn tại tự nó chia làm ba phần. Phần I ( TÍNH QUY ĐỊNH hay CHẤT) khảo sát (a) tồn tại ( tồn tại, HƯ VÔ, SỰ TRỞ THÀNH); (b) TỔN TẠI ĐƯỢC QUY ĐỊNH (tồn tại được quy định, HỮU HẠN, vô hạn); và (c) TỒN TẠI CHO MÌNH (tồn tại cho mình, cái một và cái nhiều, việc đẩy và việc hút). Phần II (độ lớn hay LƯỢNG) (a) lượng (lượng thuần túy, độ lớn lien tục và gián đoạn, SỰ GIỚI HẠN của độ lớn); (b) đại lượng (con số, đại lượng ngoại tại và nội tại, vô hạn về lượng); và (c) QUAN HỆ về lượng hay tỉ lệ. Phần III (HẠN ĐỘ) bao gồm (i) lượng đặc thù; (ii) hạn độ thực; (iii) sự trở thành của bản chất.
(Dịch từ: A Hegel Dictionary, Michael Inwood, Blackwell, 1992, “Science of Logic”.)

Read Full Post »

Khoa học logic gồm hai “phần”. Phần thứ nhất, “Logic khách quan”, có hai “quyển”: “Học thuyết về tồn tại” (in năm 1812) và “Học thuyết về bản chất” (1813). Phần thứ hai, “Logic chủ quan” gồm quyển “Học thuyết về khái niệm”, được in năm 1816. Năm 1831, Hegel hoàn tất [bản] chú giải mở rộng và hiệu chỉnh lớn của “Học thuyết về tồn tại”, nhưng không có thời gian hiệu chỉnh phần còn lại của Khoa học logic. Lời nói đầu cho bản in lần thứ hai đề ngày 7, tháng 10, năm 1831, ngay trước khi ông chết vào ngày 14 cùng tháng. Bản in này ra đời 1832, và in lại năm 1834-1835 trong bộ Những công trình di sản. Chỉ mới có bản in lần hai của Khoa học logic là được dịch sang tiếng Anh.

Nội dung của Khoa học logic không tương ứng với quy tắc truyền thống đơn thuần, mà là một nỗ lực phối hợp những nội dung khác nhau trước đó vào một cái toàn bộ đơn nhất. Khoa học logic có những tiền đề chính như sau:

1. Trong quyển Các phạm trù của ông, Aristotle nỗ lực lập danh mục và định nghĩa những loại thuộc tính chung nhất vận dụng cho một thực thể: BẢN THỂ, CHẤT, LƯỢNG, TƯƠNG QUAN… Plato đã nỗ lực một nhiệm vụ tương tự, đặc biệt là trong đối thoại Sophist, một đối thoại của Plato mà Hegel ưa chuộng.

2. Trong quyển De Interpretatione, Aristotle xem xét cấu trúc và những cấu tạo của MỆNH ĐÊ hay PHÁN ĐOÁN. Plato đã khảo sát lại vấn đề này, đặc biệt là trong đối thoại TheaetetusSophist.

3. Quyển Prior Analytics của Aristotle xem xét bản tính và giá trị của CÁC SUY LUẬN hay TAM ĐOẠN LUẬN, trong khi cuốn Posterior Analytics xem xét BẰNG CHỨNG hay sự chứng minh và với KHOA HỌC chứng minh. ‘Analutika’ là từ Aristotle dùng cho logic. Logike (techne) (‘( nghệ thuật ) logic’, là từ logos, ‘lời, lý tính’,… ) trước tiên được PHÁI KHẮC KỶ sử dụng.

Những công trình trên và những công trình khác nữa của Aristotle về sau được gọi là Organon, ‘công cụ’ của tư duy chính xác. (Những công trình có nhan đề “Công cụ mới”, chẳng hạn như của Bacon và Lambert, là những nỗ lực vượt qua hoặc cập nhật Aristotle).

4. Trong quyển Siêu hình học, Aristotle nỗ lực biện minh cho QUY LUẬT của MÂU THUẪN và BÀI TRUNG. (Ông quy chúng cho SIÊU HÌNH HỌC hay “đệ nhất triết học”, vì chúng vận dụng cho mọi thực thể). Vào thời đại Hegel, ‘những quy luật của TƯ DUY/ TƯ TƯỞNG’ cũng gồm cả luật của TÍNH ĐỒNG NHẤT và (từ Leibniz) nguyên tắc túc lý hay LÝ DO đầy đủ.

2, 3, 4, và một phần nào đó 1 tạo lập nên nội dung của logic ‘HÌNH THỨC’, “cổ điển’, ‘truyền thống’ vào thời của Hegel. Hegel, giống như Kant, cho rằng nội dung này không có sự tiến triển quan trọng nào từ thời Aristotle. (thái độ này đánh giá thấp sự đóng góp của thời trung cổ và phái khắc kỉ đối với logic, cũng như với logic toán học bắt đầu với ‘đặc thù phổ quát’ của Leibniz, và điều mà Hegel hoàn toàn khinh miệt).

5. Hegel cũng nói rằng Khoa học logic hợp nhất chất liệu của SIÊU HÌNH HỌC ‘cũ’ rút ra từ Aristotle (và Plato), nhưng cũng bao trùm Leibniz, Spinoza, Wolff,…. Một số khái niệm được giải thích trong Khoa học logic, đặc biệt là trong ‘Học thuyết về bản chất’, đã được các nhà siêu hình học vận dụng.

6. Trong chương chính thứ nhất của Phê phán lý tính thuần túy (PPLTTT), ‘Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức”, Kant định nghĩa logic “siêu nghiệm” như là một khoa học, đối lập với logic hình thức, ‘xác định nguồn gốc, phạm vi và tính giá trị khách quan của các nhận thức [tiên nghiệm]’ (PPLTTT, A57, B81). Logic Siêu nghiệm chia làm hai phần: (a) logic học về chân lý ( phân tích pháp siêu nghiệm, và (b) logic học về ẢO TƯỢNG (shein) (biện chứng pháp siêu nghiệm). Trong phần (a), ông nỗ lực hệ thống hóa và biện minh cho các phạm trù (chẳng hạn như NHÂN QUẢ) được tiền giả định từ các phán đoán KHÁCH QUAN và KINH NGHIỆM. Trong phần (b), ông nỗ lực hạn định việc vận dụng [một cách] TƯ BIỆN của LÝ TÍNH, chẳng hạn như lập luận… dẫn đến sự tự mâu thuẫn. Một số những khái niệm được xét đến trong (a) và (b) xuất hiện trở lại trong Khoa học logic. Nhưng Hegel kết hợp phân tích pháp và BIỆN CHỨNG PHÁP ở mỗi phần của Khoa học logic, và cho rằng mỗi khái niệm ( ngoại trừ Ý NIỆM tuyệt đối) làm sinh ra các sự tự mâu thuẫn hay các mâu thuẫn. Phần chính thứ hai của cuốn PPLTTT, “Học thuyết siêu nghiệm về phương pháp”, nhằm “xác định các điều kiện hình thức cho một hệ thống hoàn chỉnh của lý tính thuần túy” (A708, B735), có liên quan đặc biệt đến mối quan tâm của Hegel về HỆ THỐNG. Nhận thức, và [vì thế] sự hàm ơn của Hegel đối với Kant là rất lớn. Nhưng việc đánh giá rằng những động lực và những trình tự của Hegel có phải thuộc về trường phái Kant hay không còn là một vấn đề gây tranh luận.  (…)

Michael Inwood, 1992, A Hegel Dictionary, Blackwell.

Read Full Post »

Nghiên cứu sau đây có đặc điểm của một cuộc thử nghiệm. Tôi sẽ thử vận dụng một sự phân biệt phương pháp cho ba giai đoạn của sự lý giải, điều vốn vẫn thường không được phân biệt trong thực hành lý giải ngữ văn học cũng như phân tích văn bản. Nếu đúng là việc hiểu và lý giải, sự lĩnh hội trực tiếp và sự giải thích phản tư về một văn bản văn học, được hòa trộn một lần trong tiến trình lý giải, thì ở đây chân trời của lần [đọc] thứ nhất, đọc tri nhận thẩm mỹ sẽ được phân biệt với chân trời của lần [đọc] thứ hai, đọc tái lý giải có tính hồi cố. Để làm điều này, tôi sẽ thêm vào bước thứ ba, đọc lịch sử, bắt đầu với việc tái cấu tạo chân trời của những chờ đợi, trong đó chính bài thơ được ghi lại bằng sự xuất hiện của tập Fleur du mail, và sau đó tuân theo lịch sử của sự tiếp nhận hay các “hoạt động đọc”, tiến đến lần đọc gần đây nhất, đó là lần đọc của tôi.

Ba bước lý giải của tôi không phải là sự cải cách phương pháp của riêng tôi. Nó được đặt cơ sở trong lý thuyết cho rằng quá trình thông diễn được quan niệm như là một sự thống nhất ba moment của sự hiểu, lý giải và vận dụng. Hans-Georg Gadamer đáng được tôn vinh trong việc làm nổi bật tầm quan trọng của sự tổng hợp bộ ba quá trình thông diễn này. Từ thời cổ đại, sự tổng hợp này đã được đặt ra trong toàn bộ [hoạt động] lý giải văn bản, theo đó có nhiều hơn hoặc ít ra là một khía cạnh đã được nhận thức; nó được thông diễn học đức tin trong suốt thời kỳ Ánh sáng ngầm định thức hóa như là học thuyết của ba bước subtilitates; trước sự chiến thắng của lí tưởng thuộc về chủ nghĩa lịch sử và chủ nghĩa thực chứng của tri thức khoa học, nó không còn được tin cậy nữa; và nó trở lại diễn đàn chính theo sự phát triển của lí thuyết, với sự phục hưng của thông diễn học thần học và pháp lí. Sự lạc hậu hiển nhiên của thông diễn học văn học được chứng thực bằng việc ở đây quá trình thông diễn bị quy giản vào chỉ bản thân sự lý giải, mà không có lý thuyết nào về việc hiểu được phát triển cho những văn bản thuộc đặc điểm thẩm mỹ, và vấn đề ‘sự vận dụng’ bị vứt xó để trông cậy vào chủ nghĩa phê bình của các nhà bình điểm sách như là [hoạt động] phê bình không còn mang tính học thuật nữa. Lời đề nghị của Gadamer về việc “định nghĩa lại thông diễn học của khoa học nhân văn từ viễn tượng của thông diễn học về luật học và thần học” là một cơ hội cho thông diễn học văn học, cho mục đích mà tôi đặt ra về vấn đề có thể và bằng cách nào sự tổng hợp thông diễn của cả ba moment đó hiện thực hóa bản thân nó trong [hoạt động] lý giải một văn bản thơ ca.

(chắc chắn là còn tiếp…. hehe…)

Dịch từ Hans Robert Jauss, Kinh nghiệm thẩm mỹ và thông diễn học văn học, Suhrkamp, 1991, trang 813-

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »