Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI DỊCH’ Category

 

(Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Anthony Kenny, 2006, Wittgenstein, Revised Edition, Blackwell, USA, từ trang 126-)

Lý thuyết về nghĩa (meaning) xét như sự sử dụng được kết nối chặt chẽ với quan niệm về một trò chơi ngôn ngữ. Tuy trong Tractatus [Wittgenstein] không đề cập đến những trò chơi ngôn ngữ, nhưng đã tạo ra mối liên kết giữa nghĩa và sự sử dụng. Ở mục 3.32, Wittgenstein phân biệt giữa kí hiệu (sign) và biểu trưng (symbol). Kí hiệu là cái mặt nhận biết được một cách hợp lý trong biểu trưng, và hai biểu trưng khác nhau có thể có chung kí hiệu (âm thanh được nói hay được viết). Nơi đó chúng biểu thị theo những cách khác nhau. Để nhận thức biểu trưng trong kí hiệu, ta phải xem xét sự sử dụng ý nghĩa (significance) (Tractatus 3.327). Nếu một kí hiệu không có sự sử dụng thì nó vô nghĩa; mặt khác nếu mọi cái gì [được] xét như thể một kí hiệu có nghĩa, thì nó có nghĩa. Phạm vi sử dụng của nó, [khi] nó hiện diện, là cú pháp logic (logical syntax) của nó (Tractatus 3.328). Ta đã nói ‘một kí hiệu không xác định một hình thức logic trừ phi nó được vận dụng cùng với sự vận hành cú pháp logic của nó’: nhưng sự vận hành phải liên quan đến cái gì thêm vào cho hình thức logic, vì sự sử dụng là đầy đủ và thiết yếu đối với nghĩa, ngược lại, trong cú pháp logic, nghĩa (Bedeutung) của một kí hiệu không phải đóng một vai trò nào cả (Tractatus, 3.33). Điều thiếu vắng ở đây là mối tương liên giữa các kí hiệu, với những thuộc tính cú pháp-logic của chúng, và sự quy chiếu của các kí hiệu. Sau đó Wittgenstein tin rằng sự tương liên này là một sự kiện tâm lý: nó không có vị trí trong nhiệm vụ của triết gia, lý thuyết gia về ký hiệu học sẽ tìm hiểu nó (Notebooks 1914 – 1916, 129).

Nói cụ thể, sự sử dụng của một mệnh đề là sự vận dụng (application) của nó. Sự vận hành của nó như một bức tranh, bằng sự tương liên của những yếu tố trong nó với những yếu tố của một sự tình (state of affairs) có thể có. Một tư tưởng, tức một mệnh đề có nghĩa, là một kí hiệu có tính mệnh đề (một câu) được vận dụng vào cho một tư tưởng về thế giới (Tractatus 3.5, 4).

Sau bước ngoặt triết học của ông, như ta đã thấy, Wittgenstein bắt đầu nghĩ rằng mình đã sai trong việc xem mối tương liên của những cái tên với những đối tượng được đặt tên như là vấn đề ngoại tại và không có giá trị triết học. Cùng lúc đó, ông bắt đầu xét mối tương liên này như là một sự tối giản hóa cho sự kết nối giữa ngôn ngữ và thực tại bao gồm chỉ hai yếu tố, mối quan hệ-tên và bản tính bức tranh của mệnh đề. Cùng với những vấn đề khác, vấn đề này dẫn đến sự phát triển lý thuyết về nghĩa như sự sử dụng và sự khám phá ý niệm về những trò chơi ngôn ngữ. Như ta đã đề cập, ông tin rằng một cái tên thực hiện chức năng như một cái tên chỉ trong ngữ cảnh của một hệ thống những hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; để giải thích rõ hơn cách thức tồn tại của nó ta buộc phải rời khỏi nhiệm vụ của nhà tâm lý học; sự diễn tả về những trò chơi ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ chính yếu của triết gia.

Trong Tractatus, Wittgenstein đã trích dẫn lời Frege: chỉ trong ngữ cảnh của một mệnh đề mới làm cho một cái tên có quy chiếu (Tractatus 3.3). Trong Bemerkungen, điều này được giải thích trong một mối quan tâm khác: ông nói, giống như khi ta nói rằng chỉ trong sự sử dụng thì một cái cây mới là cái đòn bẩy (BM, 140). Đây là một trong những lần xuất hiện sớm nhất của sự so sánh giữa các từ và các công cụ, như ta sẽ thấy là nó đóng một vai trò như là một phần quan trọng trong tư tưởng của Wittgenstein hậu kỳ. Sự vận dụng đầu tiên của Wittgenstien về ẩn dụ trò chơi xuất hiện trong cuộc đối thoại ở nhà Schick vào tháng sáu năm 1930, khi bàn luận về chủ nghĩa hình thức trong toán học. Đoạn văn sau đây đáng chú ý và đáng được trích ra đầy đủ:

“Chủ nghĩa hình thức có cả chân lý lẫn sự sai lầm. Chân lý nơi chủ nghĩa hình thức là mỗi cú pháp có thể được xem như là một hệ thống của các quy tắc cho một trò chơi. Tôi đã từng suy nghĩ về việc Weyl có ý gì khi ông ta nói rằng một nhà chủ nghĩa hình thức xem những tiên đề của toán học như là các quy tắc của trò chơi cờ. Tôi muốn nói rằng: không chỉ các tiên đề của toán học, mà toàn bộ cú pháp là có tính võ đoán (arbitrary).

Ở Cambridge, tôi đã được hỏi liệu tôi có nghĩ rằng toán học liên quan đến những vết mực trên giấy hay không. Tôi trả lời: chỉ trong nghĩa đó thì trò chơi cờ liên quan đến những miếng gỗ. Tôi nghĩ trò chơi cờ không cốt ở việc ta đẩy những miếng gỗ dọc ngang trên miếng ván. Nếu tôi nói “Nào bây giờ tôi sẽ tự mình làm quân hậu có đôi mắt dễ sợ, bà ta sẽ xua đuổi mọi thứ ra khỏi bàn cờ”, bạn sẽ cười tôi. Vấn đề không phải là quân tốt trông giống cái gì. Vấn đề quan trọng hơn là trường hợp tính toàn bộ của những quy tắc của trò chơi thiết định không gian logic của quân tốt. Một quân tốt là một biến số (variable), giống như ‘x’ trong logic…

Nếu bạn hỏi tôi rằng: sự khác biệt giữa trò chơi cờ và cú pháp của ngôn ngữ nằm ở đâu, tôi sẽ trả lời: chỉ trong sự ứng dụng của nó… Nếu người trên sao Hỏa gây ra chiến tranh giống như đi những quân cờ của trò chơi cờ, thì các vị tướng sẽ dùng quy tắc của trò chơi cờ để tiên đoán các nước đi. Thì sẽ có một vấn đề khoa học là liệu quân vua có thể bị chiếu bằng một sự vận hành các quân cờ nào đó trong ba nước đi hay không, và vân vân…” (Ludwig Wittgenstein und der Wiener Kreis, 104).

So sánh giữa một hệ thống tiên đề và một trò chơi cờ được lặp lại và phát triển nhiều lần trong những đối đoại với Waismann (Ludwig Wittgenstein und der Wiener Kreis, 163, 170) và cũng có lưu ý rằng nó đã được định trước trong quyển Grundgesetze der Arthmetik của Frege (Ludwig Wittgenstein und der Wiener Kreis, 150-1). Nhưng không có một ý niệm chung nào về trò chơi ngôn ngữ; và quả thực, [ở đây] nghiên cứu về những trò chơi ngôn ngữ không [xuất hiện] nhiều như nghiên cứu về phép tính giống như trò chơi, là một loại nghiên cứu về những cách thức trong đó một phép tính có thể được vận dụng. Hơn nữa, cũng không có bất kỳ suy nghĩ nào về những khác biệt giữa những trò chơi khác nhau: trò chơi cờ, với những quy tắc hình thức chặt chẽ của nó, luôn được dùng như là ví dụ.

Quyển Bemerkungen không nói gì về những trò chơi ngôn ngữ, nhưng trong quyển Philosophische Grammatik có cả một chương sách dành cho việc tìm tòi những điểm tương tự giữa số học và trò chơi cờ, cụ thể là nó giải thích vai trò của chân lý và sai lầm trong số học, việc thắng và thua trong trò chơi (Philosophische Grammatik, 289-95). Sự xem xét này tuy nhiều công phu nhưng lại không gây ấn tượng bằng sự xem xét trong những trao đổi với Waismann (như trên 295). Nhưng mối quan tâm được phát triển rõ hơn trong quyển Philosophische Grammatik là việc ứng dụng tính tương tự-trò chơi vào cho những sự sử dụng ngôn ngữ phi-toán học.

Thực tại hóa đa dạng giữa các trò chơi đem lại cho quan niệm về trò chơi một sự hữu dụng đặc biệt, và Wittgenstein dùng nó để diễn đạt nhận thức mới của ông về tính đa dạng của những sự sử dụng ngôn ngữ. Việc so sánh giữa ngôn ngữ và trò chơi cờ được sử dụng cho nhiều mục đích (Philosophische Grammatik, 49f), nhưng giờ đây Wittgenstein ý thức rất rõ rằng trò chơi cờ, với những quy tắc chính xác của nó, không phải là điển hình cho tất cả các trò chơi, và những trò chơi khác có giới hạn quy tắc ít hơn, có thể đáp ứng yêu cầu như là những đối tượng so sánh với ngôn ngữ.

 

“Tôi đã nói rằng nghĩa của một từ là vai trò mà nó chiếm giữ trong phép tính (calculus) của ngôn ngữ. (Tôi đã so sánh nó với một quân cờ trên bàn cờ). Bây giờ ta hãy nghĩ về cách thức trong đó sự tính toán vận hành với một từ, từ “đỏ” chẳng hạn. [Khi] vị trí của màu được xác định, hình thức và kích cỡ đặc trưng cho điểm hay bộ phận của đối tượng có màu, [thì] ta nói được đó là màu thuần túy hay pha trộn với những màu khác, nhạt hay đậm, bất biến hay biến đổi, và vân vân. Những kết luận được phác họa từ những mệnh đề, chúng được chuyển dịch thành những minh họa và ứng xử (behavior); có việc phác họa, [theo] khuôn khổ và ước tính. Nhưng ta hãy nghĩ tương tự như vậy về nghĩa của từ ‘haizz…!’ Nếu được hỏi về nó, ta hầu như sẽ nói rằng ‘haizz…!’ là một tiếng thở dài; ta nói, chẳng hạn “haizz…, lại mưa nữa rồi”, kiểu như thế. Trong cách đó ta đã mô tả sự sử dụng từ. Nhưng bây giờ thì cái gì tương ứng với phép tính, với trò chơi phức tạp mà ta chơi với những từ khác? [Đó là] không [thể] có sự so sánh với nhau sự sử dụng các từ ‘ơ’, ‘hoan hô’, ‘ừm’” (Philosophische Grammatik, 67).

Trong đoạn văn này, ta có thể thấy Wittgenstein chuyển từ một sự biểu tả ‘phép tính’ vốn được ông ưa chuộng sang sự biểu tả về ‘trò chơi’ vừa mới được ông quan tâm. Từ ngữ mới mẻ ‘trò chơi ngôn ngữ’ được sử dụng sớm nhất ở trang 62 của quyển Philosophische Grammatik trong phần bàn về định nghĩa bằng việc chỉ trỏ (ostensive definion). Ông hoài nghi rằng liệu ta gọi việc trẻ con học tập nghĩa của các từ bằng việc chỉ vào các đối tượng và nghe phát âm tên gọi của chúng là “sự giải thích” thì có hợp lý hay không.

“Trò chơi ngôn ngữ (Sprachspiel) còn rất đơn giản và sự giải thích bằng cách chỉ trỏ đóng vai trò khác với trò chơi ngôn ngữ, vì một sự giải thích bằng cách chỉ trỏ như thế giữ vai trò trong những trò chơi ngôn ngữ được phát triển hơn nữa. (Chẳng hạn, đứa trẻ không thể hỏi [mà không chỉ trỏ] ‘Cái đó là gì?’) Nhưng không có ranh giới rõ ràng giữa những hình thức tiên khởi và những hình thức phức tạp hơn [của trò chơi ngôn ngữ]. Tôi ắt sẽ không biết rằng cái gì tôi có thể tiếp tục gọi là ‘giải thích’ và cái gì thì không thể. Tôi chỉ có thể miêu tả những trò chơi ngôn ngữ hay những phép tính. Liệu rằng việc chúng có thể tiếp tục vẫn được gọi là những phép tính thì có bình thường hay không, trong chừng mực ta không cho phép mình chệch hướng bằng việc sử dụng một hạn từ chung dựa trên bất kỳ trường hợp hoàn toàn cá biệt nào mà ta muốn xác định” (PG 67).

Việc nhấn mạnh vào sự giải thích trường hợp cá biệt được Wittgenstein làm mới lại khi ông khẳng định rằng ‘trò chơi’ – hay thậm chí rộng hơn, từ ‘Spiel’ trong tiếng Đức – là một hạn từ tương tự (analogous term) [1]. Không có gì đặc trưng chung cho mọi thứ mà ta gọi là những trò chơi; nhưng ta không thể nói theo kiểu khác rằng từ ‘trò chơi’ có một vài nghĩa độc lập giống như từ ‘ngân hàng’. Nó là một hạn từ tương tự (PG 75, 118). Nghĩ về riêng những trò chơi với banh: một số trò chơi, giống như tennis chẳng hạn, có một hệ thống những quy tắc phức tạp; nhưng [cũng] có một trò chơi chỉ bao gồm việc một người ném quả banh cao nhất có thể, hay trò chơi trẻ con ném một quả banh và chạy theo sau nó. Một số trò chơi có cạnh tranh, một số khác thì không (PG 68). Tư tưởng này được phát triển trong một đoạn văn nổi tiếng của quyển Philosophical Investigations, trong đó Wittgenstein phủ nhận rằng có bất kỳ một đặc trưng nào – kiểu như giải trí, tính cạnh tranh, tính tuân theo quy tắc, sự khéo léo – tạo thành một yếu tố phổ biến trong toàn bộ các trò chơi; thay vào đó ta thấy một mạng lưới phức tạp của những đặc điểm tương tự và những mối quan hệ chồng chéo và đan chéo vào nhau. Quan niệm về trò chơi được mở rộng như khi bện dây ta xoắn sợi này vào sợi kia. “Cái cột con tàu vào cầu tàu là dây chão, và dây chão bao gồm những sợi dây [nhỏ hơn], nhưng sức mạnh của dây chão không có được từ bất kỳ sợi dây [nhỏ hơn] nào vốn chạy xuyên qua nó hết sợi này đến sợi khác, mà có được từ một kiện là có một số lượng rất lớn những sợi dây [nhỏ hơn] chồng chéo lên nhau”. (PI, I, 65-67; BB 87).

Đặc trưng này của ‘trò chơi’ là đặc trưng mà Wittgenstein tin rằng nó có thể có chung với ‘ngôn ngữ’, và điều này đặc biệt thích hợp để gọi những ngôn ngữ mini cụ thể là ‘những trò chơi ngôn ngữ’. Chúng là những trò chơi ngôn ngữ khác. Điều quan trọng nhất, thậm chí không phải là toàn bộ những trò chơi ngôn ngữ đều có các quy tắc, [mà chính là] chức năng của các quy tắc trong những trò chơi ngôn ngữ có những sự tương tự với chức năng của các quy tắc trong ngôn ngữ (PG 63, 77). Những trò chơi ngôn ngữ, giống như những trò chơi, không cần có mục đích ngoại tại; chúng có thể là những hoạt động tự trị (PG 184; Z 320). Nhưng sự so sánh ngôn ngữ với một trò chơi không có nghĩa là Wittgenstein đề nghị xem ngôn ngữ như một trò giải trí tiêu khiển, hay là một cái gì tầm thường: ngược lại, so sánh như thế có nghĩa là đem lại sự kết nối giữa việc nói ngôn ngữ và những hoạt động phi ngôn ngữ. Thật vậy, việc nói ngôn ngữ là một phần của hoạt động chung, là một cách thế sống trong xã hội mà Wittgenstein gọi là một “hình thức cuộc sống” (PI, I, 23). Thông qua sự chia sẻ trong việc chơi những trò chơi ngôn ngữ mà ngôn ngữ được kết nối với cuộc sống của ta (PG 65).

Tại sao triết gia lại quan tâm nghiên cứu về những trò chơi ngôn ngữ? [Câu trả lời là] để làm rõ nghĩa và phân biệt giữa có nghĩa và vô nghĩa. Phương pháp đúng đắn của triết học, như Wittgenstein đã nói trong phần cuối của Tractatus, cốt ở việc chỉ ra rằng nhà siêu hình học đã sai khi đưa một nghĩa vào cho các kí hiệu nào đó trong mệnh đề của anh ta (TLP 6.53). [Trước đó] ông đã không cho biết cách thức thực hiện việc này như thế nào: bây giờ [ông cho biết] thực hiện nó bằng cách chỉ cho nhà siêu hình học rằng anh ta đang sử dụng một từ ngoài ngôi nhà (home) trò chơi ngôn ngữ của nó (PI, I, 116). Thậm chí một dấu hiệu đơn giản nhất, như một cái tên, là một cái tên chỉ trong một trò chơi ngôn ngữ; nghĩa của một kí hiệu chính là vai trò của nó trong một trò chơi như thế (PI, I, 49, 261; PG 130).

Wittgenstein viết trong quyển Investigations: ‘Đây cũng là những gì mà Frege ngụ ý khi ông nói rằng một từ chỉ có nghĩa khi [nó là] bộ phận của một câu’ (PI, I, 49). Trên thực tế, có một điểm khác biệt quan trọng giữa tuyên bố của Frege và luận điểm của Wittgenstein, được ông triển khai trong giai đoạn sau. Một cách nghiêm nhặt, luận đề của Frege dường như [sẽ] bị bác bỏ khi [ta] sử dụng những cái tên cá nhân để gọi con người, khi ta la lên “Cháy!” hay dán một cái nhãn “Độc dược”. Đối diện với luận đề của Wittgenstein, những trường hợp này không phải là những phản ví dụ (counter-examples), và không cần giải thích [rằng đó] là sự tỉnh lược [1]. Vì những từ này thuộc về những trò chơi ngôn ngữ; chúng có khả năng kết nối chặt chẽ với những từ khác ngay cả khi chúng không thực sự được kết nối. Thực vậy, khi chúng vận hành theo những cách thức cho những mục đích cụ thể, [thì] chúng thực sự đang vận hành trong trò chơi ngôn ngữ; kiểu loại vận hành này sẽ là bộ phận tạo thành trò chơi.

Hình thức phổ biến nhất của sự vô nghĩa triết học sinh ra không phải là khi một từ được sử dụng ngoài phạm vi của bất kỳ trò chơi ngôn ngữ nào, mà là khi nó được sử dụng trong một trò chơi ngôn ngữ, nhưng không phải là trò chơi ngôn ngữ tương ứng với nó (thường thì trò chơi ngôn ngữ được đề xuất một cách sai lạc bằng ngữ pháp bề mặt của nó) (PG 126). Do vậy điều thực sự quan trọng là phải biết nơi nào/ khi nào thì một trò chơi ngôn ngữ kết thúc và một trò chơi ngôn ngữ khác bắt đầu? Làm thế nào biết được điều đó? Wittgenstein giúp ta rất ít. Kiên định với lập trường chung của mình, Wittgenstein không đưa ra bất kỳ một nghiên cứu khái quát về thế nào là trò chơi ngôn ngữ, ông cũng không đưa ra một tiêu chuẩn cá biệt nào cho những trò chơi ngôn ngữ. Ông chỉ đơn giản tạo ra một số ghi chú về những trò chơi ngôn ngữ, mặt khác ông làm sáng tỏ khái niệm này một cách có nguyên tắc bằng việc đưa ra một tập hợp những ví vụ. Sự xem xét có hệ thống nhất về những trò chơi ngôn ngữ xuất hiện trong cuốn Brown Book, trong đó một số lượng lớn [những trò chơi ngôn ngữ] được miêu tả hay được phát kiến, và được vận dụng cho việc xem xét những vấn đề siêu hình học truyền thống về bản tính của tình thái (modality) và thời gian, cũng như là quan niệm về ngôn ngữ và sự chỉ dẫn bằng quy tắc. Nhưng từ cuốn sách này ta cũng không thể tìm thấy một nguyên tắc để ta nhận ra cái gì tạo thành sự giao cắt bất tương thức giữa các trò chơi (xem thêm RFM 50).

Danh sách đầy đủ nhất về những trò chơi ngôn ngữ được Wittgenstein đưa ra trong quyển Philosophical Investigations I, 23. Danh sách này bao gồm việc tuân lệnh và ra lệnh, miêu tả vẻ bên ngoài của những đối tượng, đo đạc kích thước, tạo ra đối tượng từ một sự miêu tả [của bản vẽ], tường thuật một sự kiện, nghiên cứu một sự kiện, tạo lập và thẩm tra một giả thiết, trình bày những kết quả kinh nghiệm bằng bảng biểu và biểu đồ, tạo ra những truyện kể, chơi những trò chơi, ca từng khúc nhạc, giải đoán những câu đố, kể chuyện hài, dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, hỏi, cảm ơn, nguyền rủa, chúc mừng, cầu xin. Vài chỗ khác trong Investigations, ông cũng đưa ra ví dụ về những trò chơi ngôn ngữ: biểu lộ cảm xúc, (I, 288), tường thuật những ước muốn trong quá khứ (I, 654), miêu tả những đối tượng vật lý, miêu tả những ấn tượng cảm quan (II, 180), định nghĩa bằng chỉ trỏ (I, 27, cũng xem BB 83), giải thích lại ý của ai đó (II, 27). Chúng ta thấy ‘trò chơi ngôn ngữ với từ “game”’ (PI, I, 71) và ‘trò chơi ngôn ngữ [với câu] “tôi định thế này”’ (PI, II, 217). Wittgenstein sáng tạo những trò chơi ngôn ngữ như là những mẫu thức (model) cho các lý thuyết triết học – ví dụ như cho nghiên cứu của Plato về việc gọi tên trong Theaetetus (PI, I, 48, 60, 64) và cho lý thuyết của Russell về những sự miêu tả như được vận dụng trong Tractatus (PI, I, 60). Wittgenstein đối lập giữa những gì ông đã nêu trong Tractatusvề cấu trúc của ngôn ngữ với tính phức hợp của các trò chơi ngôn ngữ khác nhau. ‘Có bao nhiêu loại câu? Câu khẳng định, câu hỏi và câu cầu khiến? – Còn có những loại không thể đếm được: những loại câu khác nhau không đếm được trong khi sử dụng là những gì ta gọi là “các kí hiệu”, “các từ” và “các câu”. Và tính phức hợp [của các loại câu này] không phải là cái gì cố định, đặt ra một lần cho tất cả; mà như ta có thể nói, những loại ngôn ngữ mới, những trò chơi ngôn ngữ mới được sinh ra và những trò chơi ngôn ngữ khác thì lỗi thời và bị quên lãng’ (PI, I, 23).

Những ghi chú trên đây dường như có một trật tự. Trước hết, rõ ràng là với những loại khác nhau của những gì được gọi là ‘những trò chơi ngôn ngữ’, ta có thể thấy có một khoảng cách nào đó giữa ‘những hình thức ngôn ngữ với việc mà một đứa trẻ bắt đầu tập sử dụng những từ ngữ’, như là những trò chơi ngôn ngữ đã được định nghĩa trong cuốn Blue Book (BB 17). Điều này không còn đúng nữa khi sau đó Wittgenstein nói rằng ‘nghiên cứu về những trò chơi ngôn ngữ là nghiên cứu về những hình thức nguyên thủy của ngôn ngữ hay ngôn ngữ nguyên thủy’. Điều này có nghĩa [nghiên cứu trò chơi ngôn ngữ] là nghiên cứu bất kì hình thức sử dụng ngôn ngữ nào dựa trên một ngữ cảnh nền (a background context) của một hình thức đời sống.

Thứ nữa, dường như có một mâu thuẫn trong đoạn văn dẫn từ tiểu mục 23 của cuốn Philosophical Investigations. Wittgenstein nói rằng có những loại câu không đếm được: những loại không đếm được sử dụng trong những gì mà ta gọi là câu. Nửa thứ nhất của những tuyên bố này đề xuất hai sự sử dụng tạo nên hai loại câu khác nhau; nửa thứ hai thì lại đề xuất rằng một loại câu có thể có hơn một sự sử dụng. Đề xuất của nửa thứ hai có vẻ hợp lý hơn đề xuất của nửa thứ nhất. Không nghi ngờ gì về việc ta sử dụng câu ‘hãy đến đây’ để ra lệnh và để yêu cầu là hai sự sử dụng khác nhau: nhưng điều này cũng không phải là lý do đầy đủ để nói rằng hai loại sử dụng khác nhau của [một] câu thì được bao hàm/ liên đới với nhau. Có lẽ tốt hơn là cần nhận thức một cách rõ ràng và tất yếu rằng duy trì sự phân biệt giữa những loại câu để có những sự phân biệt rộng hơn giữa các cách sử dụng được biểu thị trong cú pháp của câu (chẳng hạn như sự phân biệt giữa thức mệnh lệnh và thức trần thuật).

Wittgenstein ắt sẽ đáp lại rằng điều này có liên quan đến việc ta chú ý quá nhiều đến ngữ pháp bề mặt, và không quan tâm đầy đủ đến ngữ pháp bề sâu như đã được phát hiện trong nghiên cứu về trò chơi ngôn ngữ. Tuy nhiên, dường như sự phân biệt truyền thống giữa loại câu khẳng định, câu hỏi và câu cầu khiến nằm ở một cấp độ khác với những sự phân biệt do Wittgenstein phác họa nên. Chẳng hạn như, rõ ràng rằng những loại câu khác nhau [nêu trên] có thể xuất hiện bên trong hay bên ngoài một truyện cười hay một truyện hư cấu cổ tích; thế nên sự phân biệt giữa chúng cắt ngang sự phân biệt giữa hư cấu và phi hư cấu. Wittgenstein rõ ràng là đã đúng khi cho rằng việc cố gắng đồng nhất những câu hỏi với lời phát biểu là vô ích (chẳng hạn như những phát biểu về sự không biết, hay những phát biểu thể hiện sự muốn biết thông tin) (PI, I, 24). Nhưng loại phân biệt này hoàn toàn khác với loại phân biệt đã được ông phác thảo khi ta nói về những trò chơi ngôn ngữ với một từ ngữ cụ thể (như từ ‘trò chơi’) hay về trò chơi ngôn ngữ của sự đo đạc. Vì rõ ràng rằng từ ‘trò chơi’, hay một tập hợp của những [kí hiệu] đo đạc, có thể xuất hiện trong một câu cầu khiến, một câu khẳng định hay một câu hỏi.

Wittgenstein lưu ý là ta sẽ sai lầm nếu gộp lại với nhau toàn bộ những câu trần thuật – chẳng hạn như ‘Xương ở trong chạn’, ‘Anh ta ngủ’, ‘Anh ta đang mơ’, ‘Tôi đau’, ‘Tôi đang nghĩ về cha tôi’ – vì nó tùy thuộc vào những loại khẳng định [khác nhau]. Ta phải chú ý đến những điểm khác nhau trong sự sử dụng những câu này – chẳng hạn như, chúng có thể liên quan đến những loại sai lầm hay nghi vấn nào, liệu ta có nên, hay bằng cách nào phát hiện ra chúng có đúng hay không – và đây là cái tạo lập nên trò chơi ngôn ngữ.

Có hai khó khăn liên quan đến nhau trong việc hiểu Wittgenstein muốn nói gì qua khái niệm ‘sự sử dụng’ (the use) của một lời phát biểu. Thứ nhất, ‘sự sử dụng’ nghĩa là ‘cách sử dụng’ (usage) hay ‘tính hữu dụng’ (utility)? Một từ có một sự sử dụng tất định rằng nó có thể khớp với nhiều câu một cách hợp lý, hay sự sử dụng của nó phải tạo ra sự khác biệt nào đó trong thế giới (world)? Hai so sánh của Wittgenstein nhằm vào hai hướng đối lập nhau. Một trò chơi, như trò chơi cờ, chỉ có những quy tắc cú pháp; nước đi tiếp trong trò chơi cờ không tác động [một cách trực tiếp] vào thế giới mà [tác động một cách] gián tiếp thông qua kết quả thắng và thua. Nói cách khác, những dụng cụ là những phương tiện cho việc vận hành trong thế giới và biến đổi nó theo những cách khác nhau. Thứ hai, lý thuyết về nghĩa xét như sự sử dụng được vận dụng trước tiên cho các từ hay cho toàn bộ các câu? Các từ ở đây dường như không giống các dụng cụ, vì các dụng cụ thao tác trong thế giới một cách độc lập, trong khi đó nhìn chung, ta phải đặt những từ đi với nhau trong câu để tác động vào thế giới theo những cách khác nhau: sự thực là sẽ thuận tiện hơn nếu ta sử dụng một ẩn dụ để nói rằng trong ngôn ngữ của ta có một bộ công cụ lắp ráp thay vì một cái túi dụng cụ [để sử dụng]. Một câu hoàn tất dường như là một nước đi trong trò chơi (PG 39). Để nắm vững những cụm từ và thành ngữ trong khi học ngoại ngữ, thì ta tạo ra các câu [để học], thay vì sử dụng chúng.

(Còn tiếp)

Advertisements

Read Full Post »

 

 

GHI CHÉP TRONG TÙ

Kiến trúc và kiến trúc thượng tầng [II]

Định đề nằm trong Lời nói đầu cho cuốn Góp phần phê phán kinh tế chính trị cho rằng con người đạt được sự ý thức về các xung đột kiến trúc trong cấp độ của các ý hệ nên được xem như là một khẳng định về giá trị nhận thức luận và không chỉ là giá trị tâm lí học hay đạo đức. Do đó mà nguyên tắc lí thuyết-thực hành của bá quyền cũng có ý nghĩa nhận thức luận, và chính ở đây mà sự đóng góp lí thuyết vĩ đại nhất của Ilyich [Lenin] cho triết học thực hành cần được tìm hiểu. Về mặt này ta có thể nói rằng Ilyich đã thúc đẩy triết học xét như là triết học trong chừng mực ông ta thúc đẩy học thuyết chính trị và thực hành chính trị. Sự hiện thực hóa công cụ bá quyền, trong chừng mực nó tạo ra lĩnh vực ý hệ mới, quy định sự cải tạo ý thức và sự cải tạo các phương pháp của tri thức: nó là một sự kiện của tri thức, một sự kiện có tính triết học. Trong phạm vi tư tưởng Croce: khi ta thành công trong việc giới thiệu một hệ thống đạo đức mới khớp với một quan niệm mới về thế giới, thì ta cũng hoàn tất việc giới thiệu quan niệm [mới về thế giới]; nói cách khác, ta đặt định một sự cải tạo toàn bộ triết học.

Kiến trúc và kiến trúc thượng tầng [III]

Các kiến trúc và kiến trúc thượng tầng định hình một “khung lịch sử” (historical bloc). Điều đó có nghĩa là toàn bộ tính phức tạp, mâu thuẫn và nghịch chiều của kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh của toàn bộ các quan hệ sản xuất xã hội. Từ đây, ta có thể kết luận rằng: chỉ có hệ thống của ý hệ toàn trị đem đến một sự phản ánh hợp lí mâu thuẫn của kiến trúc và trình bày tồn tại của điều kiện khách quan cho việc cách mạng hóa của thực hành. Khi các nhóm xã hội thiết lập một trăm phần trăm sự thuần nhất của cấp độ ý hệ, thì có nghĩa là các tiền đề có sẵn một trăm phần trăm cho việc cách mạng hóa này: điều đó nghĩa là “tính hợp lí” là một hiện thực tích cực và thực tế. Sự hợp lí này dựa trên tính tương hỗ tất yếu giữa kiến trúc và kiến trúc thượng tầng, một tính tương hỗ không gì khác hơn là tiến trình biện chứng của hiện thực.

 

Quan niệm về “khung lịch sử”

 

Khẳng định của Croce rằng triết học thực hành gỡ bỏ kiến trúc khỏi kiến trúc thượng tầng, qua đó hồi sinh thuyết nhị nguyên thần học và đặt định ‘một kiến trúc như vị chúa náu mình’, là không đúng và thậm chí không phải là một phát kiến đặc biệt sâu sắc gì cả. Lời cáo buộc về thuyết nhị nguyên thần học và về sự phá vỡ tiến trình thực tại thì ngớ ngẩn và nông cạn. Điều kì lạ là nó lại đến từ Croce, người đã giới thiệu biện chứng của các khác biệt và vì điều này chính ông luôn bị những đồ đệ của những người không phải là Do Thái kết tội rằng phá vỡ tiến trình thực tại.

 

Các ý hệ chính trị

 

Một trong những điểm đang được quan tâm giải thích và phân tích chi tiết nhiều nhất là học thuyết của Croce về các ý hệ chính trị. [..] Cũng đối với Croce, giờ đây, kiến trúc thượng tầng đơn thuần là hình thức bên ngoài và ảo tượng; nhưng phải chăng ông ta đã tư duy dựa trên sự thay đổi này trong vị thế của ông ta, và cụ thể, nó tương ứng với hoạt động của ông ta như là triết gia? Học thuyết của Croce về các ý hệ chính trị hiển nhiên là được rút ra từ triết học thực hành: chúng là các kiến tạo thực hành, những công cụ của sự lãnh đạo chính trị. Nói cách khác, ta có thể nói rằng các ý hệ cho sự bị trị đơn thuần là các ảo tượng (illusions), một sự lừa mị mà chúng là chủ đề, trong khi đó vì sự cai trị chúng thiết lập sự quyết chí và sự thành thạo về lừa mị. Đối với triết học thực hành, các ý hệ là bất cứ cái gì nhưng độc đoán; chúng là các dữ kiện lịch sử hiện thực phải được tham chiến và bản tính của chúng như là các công cụ thống trị được biểu hiện ra, không phải cho các lí do đạo đức này nọ, mà cho các lí do về đấu tranh chính trị: để tạo nên sự bị trị về mặt tinh thần không lệ thuộc vào sự cai trị, để phá hủy bá quyền này và tạo ra bá quyền khác, như là một thời đoạn tất yếu trong cuộc cách mạng hóa của thực hành. Croce có vẻ gần triết học thực hành hơn so với những diễn giải của chủ nghĩa duy vật thô sơ. Đối với triết học thực hành, các kiến trúc thượng tầng là thực tại khách quan và đang vận hành (hoặc chúng trở nên như thế, vì chúng không phải là các sản phẩm thuần túy trong đầu óc của cá nhân con người). Điều này ngầm khẳng định rằng con người trở nên ý thức về vị trí xã hội của họ, và do đó nhiệm vụ của họ, trong phạm vi của các ý hệ, vốn là sự khẳng định không hề nhỏ của thực tại. Triết học thực hành tự nó là kiến trúc thượng tầng, nó là phạm vi trong đó các nhóm xã hội xác định trở nên có ý thức về tồn tại xã hội của riêng họ, sức mạnh của riêng họ, nhiệm vụ của riêng họ, và sự trở thành của riêng họ. Trong nghĩa này thì chính Croce đã đúng khi ông khẳng định rằng triết học thực hành ‘là lịch sử đã được tạo sẵn hoặc trong tiến trình trở thành’.

Tuy nhiên có một khác biệt cơ bản giữa triết học thực hành và các triết học khác: các ý hệ khác là những sáng tạo không có quan hệ hữu cơ vì chúng mâu thuẫn, vì chúng nhằm vào việc hòa giải những mối quan tâm trái ngược và đối lập nhau; tính lịch sử của chúng là sự khái lược vì những mâu thuẫn hiện lên sau mỗi sự kiện mà chúng từng là công cụ. Triết học thực hành, theo một cách khác, không hướng đến những giải pháp hòa bình tồn tại trong lịch sử. Chính nó là lí thuyết về các mâu thuẫn này. Nó không phải là công cụ cai trị của các nhóm thống trị để nhằm đạt đến sự ưng thuận bá quyền và sự thực tập bá quyền đối với các giai cấp phụ thuộc; nó là sự biểu đạt của các giai cấp này, những người muốn tự giáo dục trong nghệ thuật cai trị và những người có mối quan tâm trong việc biết toàn bộ các sự thật, thậm chí là các sự thật không dễ chấp nhận, và trong việc tránh những sự lừa mị (bất khả) của giai cấp cầm quyền và thậm chí những điều khác về chính họ. Trong triết học thực hành, phê phán ý hệ tấn công vào sự phức hợp của các kiến trúc thượng tầng và khẳng định tính tạm thời thoáng qua của chúng trong đó chúng hướng đến thực tại ngầm ẩn – được xem là đấu tranh và mâu thuẫn – ngay cả khi chúng là biện chứng ‘một cách hình thức’ (như quan niệm của chủ nghĩa Croce), có nghĩa là chúng trình bày một phép biện chứng tư biện và có tính khái niệm và không cho thấy một phép biện chứng trong bản thân sự trở thành lịch sử.

Lịch sử đạo đức-chính trị

Định nghĩa quan niệm về lịch sử đạo đức-chính trị. Lưu ý rằng lịch sử đạo đức-chính trị là một thực thể cơ giới và độc đoán của một giai đoạn bá quyền, giai đoạn của sự dẫn dắt chính trị, của sự ưng chịu (consent) trong đời sống và các hoạt động của nhà nước và xã hội công dân. […]

Vấn đề quan trọng nhất cần bàn luận trong đoạn văn trên là: liệu triết học thực hành có loại trừ lịch sử đạo đức-chính trị hay không, liệu nó có thôi thừa nhận thực tại của một giai đoạn bá quyền, xem sự lãnh đạo văn hóa và đạo đức là không còn quan trọng và cho rằng những dữ kiện của kiến trúc thượng tầng như là “những hiện tượng” (appearances) hay không? Ta có thể nói rằng không chỉ triết học thực hành không loại trừ lịch sử đạo đức-chính trị, mà thực chất, trong giai đoạn phát triển gần đây nhất, hoàn toàn đặt cơ sở trên việc chấp nhận giai đoạn bá quyền như là bản chất cho quan niệm của nó về nhà nước và cho việc chiếm lĩnh ảnh hưởng trong dữ kiện văn hóa, hoạt động văn hóa, mặt trận văn hóa như là mặt thiết yếu bên cạnh các hoạt động chính trị và kinh tế thuần túy. Croce đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng khi không áp dụng tiêu chuẩn phương pháp luận cho những phê bình của ông về triết học thực hành, [những tiêu chuẩn] phần nào quan trọng và có ý nghĩa vốn dĩ đã được ông áp dụng cho nghiên cứu của ông về các khuynh hướng triết học. Nếu vận dụng những tiêu chuẩn này, ông đã có thể khám phá ra rằng đánh giá trong đó ông quy thuật ngữ “hiện tượng” cho các kiến trúc thượng tầng không gì khác hơn chính là sự đánh giá về “tính lịch sử” (historicity) của chúng biểu đạt trong hình thức đối lập với quan niệm giáo điều phổ biến và do đó được che đậy bởi một hình thức ngôn ngữ ‘tu từ’ gắn mác công chúng cho những người mà nó nhằm vào. Triết học thực hành do đó đánh giá sự quy giản lịch sử thành lịch sử đạo đức-chính trị đơn thuần như là cái gì không thích hợp và độc đoán nhưng không loại trừ lịch sử đạo đức-chính trị. Sự đối lập giữa chủ nghĩa Croce và triết học thực hành cho thấy đặc điểm tư biện của chủ nghĩa Croce.

 

Lịch sử đạo đức-chính trị và bá quyền

Từ những gì đã được đề cập đến trước đó cho thấy là quan niệm về lịch sử có tính chất sử kí xem lịch sử như là lịch sử đạo đức-chính trị không thể bị xem là vô giá trị, một cái gì cần rũ bỏ. Ngược lại, cần phải mạnh mẽ khẳng định rằng tư tưởng lịch sử của Croce, thậm chí trong giai đoạn hiện nay của nó, cần được chú ý nghiên cứu và suy ngẫm nhiều hơn cả. Về cơ bản nó trình bày một sự phản hồi chống lại ‘chủ nghĩa kinh tế’ và chủ nghĩa cơ giới có tính định mệnh, thậm chí ngay cả khi nó hiện ra như là sự thay thế tiêu cực của triết học thực hành. Tiêu chuẩn mà  nghiên cứu triết học cần phải phê phán và đánh giá không phải là những gì mà nó tự nhận mà là những gì thực sự là chính nó và tự cũng hiện ra trong hình thức cụ thể thành các công trình lịch sử vận dụng cho tư tưởng của Croce. Đôi với triết học thực hành, phương pháp tư biện tự thân nó không phải là vô giá trị, mà đã sản sinh ra những giá trị có tính ‘công cụ’ của tư tưởng trong sự phát triển văn hóa, cái giá trị có tính công cụ mà triết học thực hành đã sát nhập vào (chẳng hạn như phép biện chứng). Vì thế, sự tin cậy nào đó dành cho tư tưởng của Croce như là một giá trị công cụ, và trong khía cạnh cụ thể, có thể nói rằng nó hướng sự chú ý mạnh mẽ về tầm quan trọng của những dữ kiện văn hóa và tư tưởng trong sự phát triển của lịch sử, cho chức năng tinh thần lớn lao trong đời sống hữu cơ của xã hội và nhà nước công dân, cho giai đoạn của bá quyền và ưng chịu như là một hình thức tất yếu của khung lịch sử. Không phải là vô nghĩa khi trên thực tế, trong giai đoạn tương cận với Croce, một lí thuyết gia hiện đại của triết học thực hành vĩ đại nhất là Lê-nin, trên lĩnh vực của đấu tranh và cơ cấu chính trị, và bằng thuật ngữ chính trị – đã đối lập với ‘chủ nghĩa kinh tế’, đánh giá lại mặt trận của đấu tranh văn hóa và hiến tạo nên học thuyết về bá quyền như là sự hoàn tất cho một lí thuyết về  nhà nước như là quyền lực và như là hình thức đương thời của học thuyết về ‘cuộc cách mạng trường kì’. Đối với triết học thực hành, quan niệm về lịch sử đạo đức-chính trị, trong hình thức độc lập với bất kì quan niệm hiện thực nào, có thể được kế tục như là ‘kĩ năng thường nghiệm’ của nghiên cứu lịch sử, cái kĩ năng cần được tiến hành liên tục để được ghi nhớ trong việc giải thích và hiểu sự phát triển lịch sử, khi mục đích là nhằm trình bày một lịch sử trọn vẹn và không phải là lịch sử bộ phận hay ngoại tại (lịch sử của quyền lực kinh tế xét như là lịch sử, chẳng hạn).

Read Full Post »

Đây là khuyết điểm thực sự của các lịch sử, của nghiên cứu về các sự biến của con người: giải thích và thực hiện nghiên cứu chỉ một phần của các dữ kiện. Và điều này được lựa chọn không vì ý định lịch sử mà bởi thành kiến bè phái, thậm chí nó là vô thức và thiện ý. Những gì mà nghiên cứu loại này nhằm vào không phải là chân lí, sự chính xác, sự tái tạo toàn bộ về đời sống của quá khứ, mà chỉ là sự tô đậm hoạt động cụ thể, sự xác nhận một giả thiết có trước. Lịch sử là lãnh địa đơn độc của những ý niệm. Con người được xem xét như tinh thần, như ý thức thuần túy. Hai kết quả sai lầm rút ra từ quan niệm này là: Các ý niệm được xác nhận thường võ đoán, hư cấu. Những sự kiện được xem là có tầm quan trọng thì là giai thoại, không phải lịch sử. Nếu lịch sử được viết, theo nghĩa hiện thực của từ này, là nó nhờ vào trực giác thiên tài của những cá nhân đơn lẻ, không phải là hoạt động khoa học có ý thức và có hệ thống.

Với Marx, lịch sử tiếp tục là phạm vi của các ý niệm, của tinh thần, phạm vi hoạt động có ý thức của các cá nhân đơn lẻ hay kết hợp. Nhưng những ý niệm, tinh thần, đi vào bản thể, đánh mất đi tính võ đoán của chúng, chúng không còn là các tín ngưỡng hư cấu hay là các sự trừu tượng xã hội học nữa. Bản thể của chúng tồn tại trong kinh tế, trong hoạt động thực tiễn, trong các hệ thống và các quan hệ của sản xuất và trao đổi. Lịch sử như nó xảy ra là hoạt động (kinh tế và đạo đức) có tính thực hành đơn thuần. Một ý niệm trở thành hiện thực không chỉ bởi nó hợp logic hay thích hợp với chân lí thuần túy, nhân loại thuần túy (vốn chỉ tồn tại như một kế hoạch, như một mục đích đạo đức chung của con người), mà vì nó tìm thấy trong thực tại kinh tế sự biện minh của nó, cái công cụ mà với công cụ ấy nó có thể được thực hiện. Theo đó, để biết một cách đúng đắn sự kết thúc lịch sử của một đất nước, một xã hội, một nhóm xã hội là gì, ta trước hết phải biết các hệ thống và các quan hệ sản xuất và trao đổi đạt được điều gì ở đất nước và xã hội đó. Thiếu đi sự hiểu biết này ta sẽ có thể viết những công trình, luận văn chuyên khảo cục bộ vốn có ích cho lịch sử văn hóa, ta sẽ nắm bắt được những sự phản ánh thứ cấp, những kết quả sơ lược, nhưng sẽ không phải là làm lịch sử, hoạt động thực hành sẽ không phơi bày cho ta toàn bộ tính chặt chẽ thuần nhất của nó.

Read Full Post »

 

Từ những gì đã được đề cập đến trước đó cho thấy là quan niệm về lịch sử có tính chất sử kí xem lịch sử như là lịch sử đạo đức-chính trị không thể bị xem là vô giá trị, một cái gì cần rũ bỏ. Ngược lại, cần phải mạnh mẽ khẳng định rằng tư tưởng lịch sử của Croce, thậm chí trong giai đoạn hiện nay của nó, cần được chú ý nghiên cứu và suy ngẫm nhiều hơn cả. Về cơ bản nó trình bày một sự phản hồi chống lại ‘chủ nghĩa kinh tế’ và chủ nghĩa cơ giới có tính định mệnh, thậm chí ngay cả khi nó hiện ra như là sự thay thế tiêu cực của triết học thực hành. Tiêu chuẩn mà  nghiên cứu triết học cần phải phê phán và đánh giá không phải là những gì mà nó tự nhận mà là những gì thực sự là chính nó và tự cũng hiện ra trong hình thức cụ thể thành các công trình lịch sử vận dụng cho tư tưởng của Croce. Đôi với triết học thực hành, phương pháp tư biện tự thân nó không phải là vô giá trị, mà đã sản sinh ra những giá trị có tính ‘công cụ’ của tư tưởng trong sự phát triển văn hóa, cái giá trị có tính công cụ mà triết học thực hành đã sát nhập vào (chẳng hạn như phép biện chứng). Vì thế, sự tin cậy nào đó dành cho tư tưởng của Croce như là một giá trị công cụ, và trong khía cạnh cụ thể, có thể nói rằng nó hướng sự chú ý mạnh mẽ về tầm quan trọng của những dữ kiện văn hóa và tư tưởng trong sự phát triển của lịch sử, cho chức năng tinh thần lớn lao trong đời sống hữu cơ của xã hội và nhà nước công dân, cho giai đoạn của bá quyền và ưng chịu như là một hình thức tất yếu của khung lịch sử. Không phải là vô nghĩa khi trên thực tế, trong giai đoạn tương cận với Croce, một lí thuyết gia hiện đại của triết học thực hành vĩ đại nhất là Lê-nin, trên lĩnh vực của đấu tranh và cơ cấu chính trị, và bằng thuật ngữ chính trị – đã đối lập với ‘chủ nghĩa kinh tế’, đánh giá lại mặt trận của đấu tranh văn hóa và hiến tạo nên học thuyết về bá quyền như là sự hoàn tất cho một lí thuyết về  nhà nước như là quyền lực và như là hình thức đương thời của học thuyết về ‘cuộc cách mạng trường kì’. Đối với triết học thực hành, quan niệm về lịch sử đạo đức-chính trị, trong hình thức độc lập với bất kì quan niệm hiện thực nào, có thể được kế tục như là ‘kĩ năng thường nghiệm’ của nghiên cứu lịch sử, cái kĩ năng cần được tiến hành liên tục để được ghi nhớ trong việc giải thích và hiểu sự phát triển lịch sử, khi mục đích là nhằm trình bày một lịch sử trọn vẹn và không phải là lịch sử bộ phận hay ngoại tại (lịch sử của quyền lực kinh tế xét như là lịch sử, chẳng hạn).

Read Full Post »

 

Định nghĩa quan niệm về lịch sử đạo đức-chính trị. Lưu ý rằng lịch sử đạo đức-chính trị là một thực thể cơ giới và độc đoán của một giai đoạn bá quyền, giai đoạn của sự dẫn dắt chính trị, của sự ưng chịu (consent) trong đời sống và các hoạt động của nhà nước và xã hội công dân. […]

Vấn đề quan trọng nhất cần bàn luận trong đoạn văn trên là: liệu triết học thực hành có loại trừ lịch sử đạo đức-chính trị hay không, liệu nó có thôi thừa nhận thực tại của một giai đoạn bá quyền, xem sự lãnh đạo văn hóa và đạo đức là không còn quan trọng và cho rằng những dữ kiện của kiến trúc thượng tầng như là “những hiện tượng” (appearances) hay không? Ta có thể nói rằng không chỉ triết học thực hành không loại trừ lịch sử đạo đức-chính trị, mà thực chất, trong giai đoạn phát triển gần đây nhất, hoàn toàn đặt cơ sở trên việc chấp nhận giai đoạn bá quyền như là bản chất cho quan niệm của nó về nhà nước và cho việc chiếm lĩnh ảnh hưởng trong dữ kiện văn hóa, hoạt động văn hóa, mặt trận văn hóa như là mặt thiết yếu bên cạnh các hoạt động chính trị và kinh tế thuần túy. Croce đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng khi không áp dụng tiêu chuẩn phương pháp luận cho những phê bình của ông về triết học thực hành, [những tiêu chuẩn] phần nào quan trọng và có ý nghĩa vốn dĩ đã được ông áp dụng cho nghiên cứu của ông về các khuynh hướng triết học. Nếu vận dụng những tiêu chuẩn này, ông đã có thể khám phá ra rằng đánh giá trong đó ông quy thuật ngữ “hiện tượng” cho các kiến trúc thượng tầng không gì khác hơn chính là sự đánh giá về “tính lịch sử” (historicity) của chúng biểu đạt trong hình thức đối lập với quan niệm giáo điều phổ biến và do đó được che đậy bởi một hình thức ngôn ngữ ‘tu từ’ gắn mác công chúng cho những người mà nó nhằm vào. Triết học thực hành do đó đánh giá sự quy giản lịch sử thành lịch sử đạo đức-chính trị đơn thuần như là cái gì không thích hợp và độc đoán nhưng không loại trừ lịch sử đạo đức-chính trị. Sự đối lập giữa chủ nghĩa Croce và triết học thực hành cho thấy đặc điểm tư biện của chủ nghĩa Croce.

Read Full Post »

Một trong những điểm đang được quan tâm giải thích và phân tích chi tiết nhiều nhất là học thuyết của Croce về các ý hệ chính trị. [..] Cũng đối với Croce, giờ đây, kiến trúc thượng tầng đơn thuần là hình thức bên ngoài và ảo tượng; nhưng phải chăng ông ta đã tư duy dựa trên sự thay đổi này trong vị thế của ông ta, và cụ thể, nó tương ứng với hoạt động của ông ta như là triết gia? Học thuyết của Croce về các ý hệ chính trị hiển nhiên là được rút ra từ triết học thực hành: chúng là các kiến tạo thực hành, những công cụ của sự lãnh đạo chính trị. Nói cách khác, ta có thể nói rằng các ý hệ cho sự bị trị đơn thuần là các ảo tượng (illusions), một sự lừa mị mà chúng là chủ đề, trong khi đó vì sự cai trị chúng thiết lập sự quyết chí và sự thành thạo về lừa mị. Đối với triết học thực hành, các ý hệ là bất cứ cái gì nhưng độc đoán; chúng là các dữ kiện lịch sử hiện thực phải được tham chiến và bản tính của chúng như là các công cụ thống trị được biểu hiện ra, không phải cho các lí do đạo đức này nọ, mà cho các lí do về đấu tranh chính trị: để tạo nên sự bị trị về mặt tinh thần không lệ thuộc vào sự cai trị, để phá hủy bá quyền này và tạo ra bá quyền khác, như là một thời đoạn tất yếu trong cuộc cách mạng hóa của thực hành. Croce có vẻ gần triết học thực hành hơn so với những diễn giải của chủ nghĩa duy vật thô sơ. Đối với triết học thực hành, các kiến trúc thượng tầng là thực tại khách quan và đang vận hành (hoặc chúng trở nên như thế, vì chúng không phải là các sản phẩm thuần túy trong đầu óc của cá nhân con người). Điều này ngầm khẳng định rằng con người trở nên ý thức về vị trí xã hội của họ, và do đó nhiệm vụ của họ, trong phạm vi của các ý hệ, vốn là sự khẳng định không hề nhỏ của thực tại. Triết học thực hành tự nó là kiến trúc thượng tầng, nó là phạm vi trong đó các nhóm xã hội xác định trở nên có ý thức về tồn tại xã hội của riêng họ, sức mạnh của riêng họ, nhiệm vụ của riêng họ, và sự trở thành của riêng họ. Trong nghĩa này thì chính Croce đã đúng khi ông khẳng định rằng triết học thực hành ‘là lịch sử đã được tạo sẵn hoặc trong tiến trình trở thành’.

Tuy nhiên có một khác biệt cơ bản giữa triết học thực hành và các triết học khác: các ý hệ khác là những sáng tạo không có quan hệ hữu cơ vì chúng mâu thuẫn, vì chúng nhằm vào việc hòa giải những mối quan tâm trái ngược và đối lập nhau; tính lịch sử của chúng là sự khái lược vì những mâu thuẫn hiện lên sau mỗi sự kiện mà chúng từng là công cụ. Triết học thực hành, theo một cách khác, không hướng đến những giải pháp hòa bình tồn tại trong lịch sử. Chính nó là lí thuyết về các mâu thuẫn này. Nó không phải là công cụ cai trị của các nhóm thống trị để nhằm đạt đến sự ưng thuận bá quyền và sự thực tập bá quyền đối với các giai cấp phụ thuộc; nó là sự biểu đạt của các giai cấp này, những người muốn tự giáo dục trong nghệ thuật cai trị và những người có mối quan tâm trong việc biết toàn bộ các sự thật, thậm chí là các sự thật không dễ chấp nhận, và trong việc tránh những sự lừa mị (bất khả) của giai cấp cầm quyền và thậm chí những điều khác về chính họ. Trong triết học thực hành, phê phán ý hệ tấn công vào sự phức hợp của các kiến trúc thượng tầng và khẳng định tính tạm thời thoáng qua của chúng trong đó chúng hướng đến thực tại ngầm ẩn – được xem là đấu tranh và mâu thuẫn – ngay cả khi chúng là biện chứng ‘một cách hình thức’ (như quan niệm của chủ nghĩa Croce), có nghĩa là chúng trình bày một phép biện chứng tư biện và có tính khái niệm và không cho thấy một phép biện chứng trong bản thân sự trở thành lịch sử.

Read Full Post »

Kiến trúc và kiến trúc thượng tầng [I]

 

Định đề nằm trong Lời nói đầu cho cuốn Góp phần phê phán kinh tế chính trị cho rằng con người đạt được sự ý thức về các xung đột kiến trúc trong cấp độ của các ý hệ nên được xem như là một khẳng định về giá trị nhận thức luận và không chỉ là giá trị tâm lí học hay đạo đức. Do đó mà nguyên tắc lí thuyết-thực hành của bá quyền cũng có ý nghĩa nhận thức luận, và chính ở đây mà sự đóng góp lí thuyết vĩ đại nhất của Ilyich [Lenin] cho triết học thực hành cần được tìm hiểu. Về mặt này ta có thể nói rằng Ilyich đã thúc đẩy triết học xét như là triết học trong chừng mực ông ta thúc đẩy học thuyết chính trị và thực hành chính trị. Sự hiện thực hóa công cụ bá quyền, trong chừng mực nó tạo ra lĩnh vực ý hệ mới, quy định sự cải tạo ý thức và sự cải tạo các phương pháp của tri thức: nó là một sự kiện của tri thức, một sự kiện có tính triết học. Trong phạm vi tư tưởng Croce: khi ta thành công trong việc giới thiệu một hệ thống đạo đức mới khớp với một quan niệm mới về thế giới, thì ta cũng hoàn tất việc giới thiệu quan niệm [mới về thế giới]; nói cách khác, ta đặt định một sự cải tạo toàn bộ triết học.

Kiến trúc và kiến trúc thượng tầng [II]

Các kiến trúc và kiến trúc thượng tầng định hình một “khung lịch sử” (historical bloc). Điều đó có nghĩa là toàn bộ tính phức tạp, mâu thuẫn và nghịch chiều của kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh của toàn bộ các quan hệ sản xuất xã hội. Từ đây, ta có thể kết luận rằng: chỉ có hệ thống của ý hệ toàn trị đem đến một sự phản ánh hợp lí mâu thuẫn của kiến trúc và trình bày tồn tại của điều kiện khách quan cho việc cách mạng hóa của thực hành. Khi các nhóm xã hội thiết lập một trăm phần trăm sự thuần nhất của cấp độ ý hệ, thì có nghĩa là các tiền đề có sẵn một trăm phần trăm cho việc cách mạng hóa này: điều đó nghĩa là “tính hợp lí” là một hiện thực tích cực và thực tế. Sự hợp lí này dựa trên tính tương hỗ tất yếu giữa kiến trúc và kiến trúc thượng tầng, tính tương hỗ không gì khác hơn là tiến trình biện chứng của hiện thực.

Read Full Post »

Older Posts »