Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘BÀI DỊCH’ Category

“[…] Khi công trình về trung cổ học dẫn tôi đến vấn đề về vai trò nổi bật của chân trời, một vấn đề có tính chất thông diễn, và đưa tôi đến việc phê bình chủ thuyết truyền thống của ngữ văn học thực chứng, thì cố gắng ban đầu của tôi nhằm bổ sung sự hiểu biết của mình bằng một kế hoạch với mỹ học tiếp nhận của văn học (Lịch sử văn học như một thách thức, 1967) đã chuyển sang một tình huống hơi khác. Quan niệm về một lịch sử văn học mới sẽ mở ra một mối quan hệ xoay vòng ngắn ngủi giữa tác giả và cái thế giới trong đó bao gồm người tiếp nhận, và sau đó sẽ xây dựng nên một vị thế trung giới giữa quá khứ và hiện tại từ người đọc hoặc công chúng. Quan niệm này phải được xác định trong diện mạo của một ý tưởng nghi ngờ tính khách quan của lịch sử văn học cũ và những yêu sách của tính khách quan được tạo ra bởi cả hai đối thủ là chủ nghĩa cấu trúc và xã hội học về việc hiểu lịch sử. Điểm đặc trưng chính của vị thế này là sự biến đổi của những chân trời, một hệ hình mới được đưa vào trong nghiên cứu văn học hiện đại. Nó được minh họa trong những trường hợp lí tưởng nào đó qua những tác phẩm như Don QuixoteJacques le fataliste, những tác phẩm: “gợi lên chân trời của những chờ đợi của người đọc, được thiết lập bằng những quy ước về thể loại, phong cách hoặc hình thức, chỉ nhằm từng bước phá vỡ chúng, tức là không chỉ có vai trò nhằm phục vụ mục đích phê bình; mà có thể một lần nữa lại tạo ra những tác động thi ca”. Trong sự biến đổi chân trời giữa những chờ đợi sơ khởi và kinh nghiệm mới được nhận ra này, tôi nhận thức rõ nguyên lý trung giới thẩm mỹ trong tiến trình lịch sử văn học, dẫn đến sự biến đổi đích thực cái quy phạm bằng việc xét lại những quan niệm của chúng ta về toàn bộ tác phẩm quá khứ. Quan niệm này về sự biến đổi của những chân trời cũng cho phép tôi nhìn nhận được đặc trưng thẩm mỹ của một tác phẩm khi gắn liền với khoảng cách thẩm mỹ ngầm ẩn (tức là khoảng cách giữa sự chờ đợi và trải nghiệm, giữa truyền thống và sự cách tân), và cho phép tôi đối chiếu tính chất phủ định kiến tạo của nó với đặc điểm khẳng định của cái quy tắc dựa vào đặc tính của văn học tiêu thụ.

Công thức của tôi về hệ hình này rõ ràng chịu ảnh hưởng (qua vài sự đồng thuận vô thức) của quan niệm chủ nghĩa hình thức Nga rằng sự cách tân thẩm mỹ là tác nhân tạo thành cuộc cách mạng của văn học, và quan niệm về mỹ học phủ định của Adorno, theo đó một tác phẩm tự trị có thể có được chức năng xã hội bằng một sự phủ định nào đó đối với những quy tắc đang tồn tại. Xu hướng có tính chất hiện đại rõ ràng trong hệ hình đầu tiên của mỹ học tiếp nhận này tương ứng lập trường mà tôi nêu ra trong bài giảng nhậm chức ở Constanz, bài giảng đã gây một bất ngờ và gây ra một cuộc luận chiến sôi nổi. Nỗ lực của tôi nhằm đáp lại những lời phê bình đã cho phép tôi từng bước phát triển kế hoạch thứ nhất về mỹ học tiếp nhận trong sự đối thoại với họ và cho phép tôi thực hành thẩm tra kế hoạch này. Giai đoạn tiếp theo là nhằm giới thiệu khái niệm “chân trời chờ đợi” như là một phương sách cho sự phân tích kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc:

“Sự phân tích kinh nghiệm văn học của người đọc sẽ tránh được những cạm bẫy đe dọa của tâm lý học nếu nó mô tả sự tiếp nhận và sự ảnh hưởng của một tác phẩm trong một hệ thống được khách quan hóa của những chờ đợi sinh ra cho mỗi tác phẩm trong khoảnh khắc lịch sử nó xuất hiện, từ một sự thấu hiểu trước về thể loại từ hình thức và những chủ đề của những tác phẩm đã quen thuộc, và từ sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ hằng ngày”.

trực tiếp chống lại những người đã cho rằng một phân tích về kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc chắc chắn kết thúc ở chủ nghĩa chủ quan của phản ứng cá nhân (“bao nhiêu người đọc, bấy nhiêu cách lý giải”), hoặc trong chủ nghĩa tập thể của một xã hội học về thị hiếu, vị thế này tạo ra khả năng quan niệm về một kinh nghiệm văn học trong sự khác biệt có tính khách quan giữa sự chờ đợi có tính quy chuẩn và kinh nghiệm có tính sáng tạo; do đó nó mang nhiều tính văn học nội tại. Trong sự biến đổi các chân trời như vậy, khái niệm “chân trời chờ đợi” có sự thuận lợi trong việc không xét đến cái gì được gán cho sự ảnh hưởng của văn bản và cái gì được chiếm lĩnh bởi những người tiếp nhận ban đầu và về sau. Điều này đặt ra vấn đề sự phân biệt trong quá trình lịch sử văn học về hai khía cạnh của quan hệ giữa văn bản và người đọc: khía cạnh tác động như là nhân tố của sự thực tại hóa ý nghĩa được thiết định bởi văn bản; và khía cạnh tiếp nhận, như là một nhân tố của sự thực tại hóa ý nghĩa được thiết định bởi người nhận. Trong việc chống lại ý niệm cho rằng truyền thống văn học tự động tạo thành chính nó như là sự hợp nhất thụ động của một “sự hòa trộn các chân trời”, điều này trở nên cần thiết cho việc nhấn mạnh đặc tính sự kiện của tác phẩm văn học như là một mo-ment của một quá trình trong đó hai chân trời luôn tham gia vào trò chơi tương tác trong sự hợp nhất chủ động của việc hiểu. Nói cách khác, chân trời chờ đợi được khơi gợi qua việc tác phẩm thừa nhận hoặc vượt qua kinh nghiệm của người nhận. Sự tham gia chủ động của người đọc vào sự thực tại hóa tiến trình lịch sử của ý nghĩa (khả năng “tiếp nhận sáng tạo” của người đọc – Sartre) cũng bị bỏ quên một cách khó hiểu do vậy đã không trình bày lịch sử văn học như quá trình lịch sử tự trị mà ngược lại nhấn mạnh tính cục bộ của nó, ở nơi mà quan hệ riêng của nó với lịch sử chung bị xem như cốt để nắm bắt chức năng xã hội và năng lượng kiến tạo lịch sử của nó: “Chức năng xã hội của văn học chỉ tự biểu thị khả năng đích thực của nó ở nơi mà kinh nghiệm văn học của người đọc nằm trong/ nhập vào (enter into) chân trời chờ đợi của thực tiễn đời sống anh ta, nó thiết lập trước việc hiểu của anh ta về thế giới, và do vậy nó cũng có một sự tác động vào ứng xử xã hội của anh ta” (Lịch sử văn học như sự thách thức, trang 199). Trực tiếp hướng đến lý thuyết về sự mô phỏng, lý thuyết mà Lukács đã từng quan tâm trở lại nhưng đã bị đóng cứng vào trong cái vòng khép kín của mỹ học sáng tạo và biểu hiện, luận đề kết thúc bài giảng tại trường Constanz của tôi đòi hỏi quyền ưu tiên cho chức năng kiến tạo quy chuẩn của văn học so với chức năng trình bày của nó. Vấn đề còn để ngỏ ở đây là câu hỏi rằng chân trời chờ đợi của đời sống thực tiễn đã được đưa vào bằng cách nào, nếu không phải bằng sự quyết định âm thầm của những quyền lực kinh tế thì bằng những quan điểm có trước của quan hệ người, bằng những hứng thú, nhu cầu, mơ ước tiềm tàng của con người. Mặt còn lại cũng cần được xem xét là quan hệ giữa nó với chân trời kinh nghiệm thẩm mỹ. Một mối quan hệ như vậy có thể chỉ được làm sáng tỏ cùng với lập trường có tính chất thách thức mà tôi thiết lập trong phần kết của quyển Lịch sử văn học như sự thách thức. Ở đây, tôi đòi hỏi rằng văn học đương đại, cũng như trong quá khứ, có thể làm mới lại “lập trường kiên cố” của chúng và phá hủy những cấm kỵ đạo đức hiện hành. Điều này đòi hỏi phải có sự viết lại mỹ học tiếp nhận từ điểm nhìn văn học nội tại, bên trong lĩnh vực ảnh hưởng của thực tiễn xã hội và đòi hỏi tìm hiểu khi nào và bằng cách nào sự hiện thực hóa về mặt lịch sử của một tác phẩm văn học, thông qua sự tiếp nhận thụ động hay sáng tạo của người đọc, phản ứng lại với những tình thế xã hội, định giá những mâu thuẫn của chúng, và nỗ lực giải quyết chúng một cách có dự tính. Quan trọng hơn cả, điều này có nghĩa là đáp lời một cách nghiêm túc mối nghi ngờ có tính phê phán và có tính ý hệ rằng truyền thống văn học không có được đặc quyền phát triển trong sự tự do hoàn toàn mà có lẽ đã bị cưỡng ép và do vậy ta không thể tiền giả định một cách thuần túy tính chất trong suốt của giao tiếp văn học giữa con người và các thời đại, mà tìm cách giành lại nó từ diện mạo của một khuynh hướng của truyền thống là sáp nhập những gì pha tạp vào quy phạm cổ điển hài hòa […]”.

Trích dịch trong: James L. Machor và Philip Goldstein, 2001, Reception Study: From Literary Theory to Cultural Studies, Routledge, New York, từ trang 20.

 

Advertisements

Read Full Post »

Buổi hội thảo đặt trọng tâm vào mối quan hệ giữa đọc và viết, chỉ dấu một nhận thức âm thầm có sẵn rằng hai loại hoạt động ngôn ngữ này kết nối chặt chẽ với nhau. Việc [buổi hội thảo được] tài trợ từ hai trung tâm nghiên cứu phản ánh sự thật rằng độ thập kỷ nay có rất nhiều tài liệu in ấn liên quan đến hai lĩnh vực này, và có nhiều dự án nghiên cứu khác nhau đang triển khai liên quan đến những mối quan hệ kết nối giữa chúng. Vậy thì tại sao bài thuyết trình của tôi lại bàn đến chuyện lý thuyết? Câu trả lời là bất kì dự án nghiên cứu nào, bất kì phương pháp dạy học nào, cũng đều đặt trên những loại tiền giả định nhận thức luận, và trong lĩnh vực này, [chúng đặt trên] một số mô hình của quá trình đọc và viết. Chúng ta cần liên tục xem xét kỹ lưỡng những tiền giả định làm cơ sở cho những thực hành của chúng ta, để thấy cách chúng quan hệ với tiền giả định khác, và với những mục đích giáo dục dài hạn của chúng ta.

Trong việc tóm tắt lại lý thuyết tương tạo (transaction) của tôi, tôi nhận thấy rằng thập niên vừa qua không khí quan tâm đến quan điểm này đã tăng lên. Để quy cho các lý thuyết gia và các nhà nghiên cứu khác nhau hay các công trình của họ tiếp cận hướng nghiên cứu về đọc và viết là có sự tương ứng [với nhau] thì tất phải bàn luận về những điểm đồng thuận và bất đồng thuận của họ. Mối quan tâm của tôi ở đây là bằng việc làm sáng tỏ những khuynh hướng chung ấy, trình bày một tiếp cận lý thuyết mạch lạc chặt chẽ đối với mối quan hệ giữa quá trình đọc và quá trình viết.

Mối quan hệ giữa đọc và viết nằm trong một mạng lưới của những tương ứng và khác biệt. Đọc và viết cùng có chung mối liên quan tất yếu đến các văn bản. Do vậy, cả hai đều thiếu những sự hỗ trợ phi ngôn từ cho giao tiếp mà người nói và người nghe có được. Tuy thế viết và đọc rõ ràng khác biệt với nhau ở chỗ người viết bắt đầu với trang giấy trắng và phải tạo ra một văn bản, trong khi đó người đọc bắt đầu với văn bản đã được in hay viết sẵn và phải tạo ra ý nghĩa. Tuy nhiên, điểm giống nhau được nhấn mạnh hiện nay là: người viết “soạn thảo” một văn bản với nghĩa được đặt ra sẵn rồi; người đọc, sau “người viết”, “soạn thảo” một ý nghĩa được lý giải. Phép ẩn dụ này, tuy [là một trường hợp] hữu dụng [để giải thích] cho những điểm giống nhau [giữa đọc và viết], nhưng lại che khuất đi những khác biệt nào đó ở hai cách thức soạn thảo. Ngược lại, hiện nay người ta ngày càng cho rằng việc đọc là một phần hữu cơ của quá trình viết. Nhưng việc đọc của người viết vừa đồng dạng vừa khác biệt với việc đọc của người đọc: tôi nhận thấy hai điểm khác nhau đặc thù đối với [việc đọc] của người viết. Hơn nữa, quan sát của tôi về quá trình viết và quá trình đọc sẽ thêm vào những chiều hướng khác cho những gì vốn mặc định trong những đối lập đã được thừa nhận chung kiểu như là “tính miêu tả/ tính thi ca” hay “văn học/ phi văn học”.

Hệ hình tương tạo

Những thuật ngữ ‘tương tạo’ (transaction) và ‘thuộc về/ có tính tương tạo’ (transactional) mà tôi sử dụng là phù hợp với sự thay đổi trong tư duy của thế kỷ XX hiện nay về mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên. Trong Knowing and the Known, John Dewey và Arthur F. Bentley chỉ ra rằng thuật ngữ “tương tác” (interaction) gắn bó quá chặt chẽ với nhị nguyên luận của triết học Decartes và vật lý học Newton, hệ hình xem xét con người và tự nhiên như hai thực thể tách biệt. Hệ hình mới hiện nay, phản ánh sự phát triển của thuyết Einstein và hạ nguyên tử trong vật lý học, nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa chúng. Nhà khoa học, “người quan sát”, theo cách diễn đạt của Niels Bohr, được xem như là một phần hữu cơ trong sự quan sát của anh ta” (1959, trang 210). Thay vì sự tách biệt, trong đó các thực thể đã được xác định sẵn tác động đến các thực thể khác (một “sự tương tác”), Dewey và Bentley (1949, trang 69) khẳng định rằng thuật ngữ “tương tạo” được sử dụng để làm rõ những mối quan hệ trong đó mỗi yếu tố đặt cơ sở và được đặt cơ sở cho/bởi yếu tố khác trong một tình hống tạo thành lẫn nhau. Điều này đòi hỏi sự tuyệt giao với những thói quen đã kiên cố của tư duy nhị nguyên luận cũ về kích thích-phản ứng, chủ thể-đối tượng, cá nhân-xã hội đem đến một đường lối nhận thức rằng những mối quan hệ như thế đặt định trong một ngữ cảnh vốn cũng thực hiện/ tác động sự kiện. Những hành vi và mối quan hệ của con người được xem như là những sự tương tạo trong đó cái cá nhân và các yếu tố xã hội, văn hóa và tự nhiên hòa lẫn vào nhau. Dạng thức tương tạo của tư duy dĩ nhiên là đã được đồng hóa một cách rõ ràng nhất trong sinh thái học. Những tác gia triết học và kí hiệu học ngày nay (chẳng hạn Bruner, 1986; Rorty, 1982; Toulmin, 1982), qua việc họ có thể bất đồng với những liên đới về siêu hình học, tìm thấy nó để tất yếu tiến đến việc thừa nhận hệ hình mới”.

(còn nữa)

[1]

Read Full Post »

“Hãy thoáng tưởng tượng một hình ảnh quen thuộc về công chúng hàn lâm tạo ra từ các nhà phê bình hồi ứng người đọc, như tôi chẳng hạn, [họ] tẻ nhạt và phù du. Tôi khẳng định rằng những gì bạn hoặc tôi biết về một văn bản chỉ là những ý niệm của bạn hoặc tôi về nó. Ối chà! Nguy hiểm quá! Lập tức có tiếng càu nhàu và mấy câu hỏi giận dữ. “Phải chăng ông đang nói văn bản không tồn tại?” (Âm vang câu hỏi khét tiếng từ một sinh viên nguy hiểm trong lớp của Stanley Fish, “Có một văn bản trong lớp này không?”). “Không, tôi không nói gì cả về sự tồn tại hay không tồn tại của văn bản” (Không, tôi không là Bishop Berkeley và cũng không có ý nói như thế). Nói rằng một cuốn sách “hoàn toàn nằm trong tâm trí của bạn”, thì không có nghĩa là nói rằng cuốn sách ấy không tồn tại thực – [nó] cũng tồn tại thực như bất cứ cái gì khác (hẳn là Bishop ắt sẽ nói rất hay về điều đó). Cũng không phải nói rằng bạn không cảm thấy hứng khởi hay xúc động hay thích thú hay giận dữ bởi cuốn sách.

Tôi cố gắng chuyển hướng lý lẽ này. “Nói theo cách khác, hợp lý hơn. ‘Điều bạn biết về văn bản đơn giản là tập hợp những tri nhận của bạn về nó’. Khá hơn chưa? Hay, có lẽ hợp lý hơn một chút nè, ‘bạn không thể biết bất kỳ điều gì nếu không thông qua quá trình tri nhận có tính người trong não bộ của bạn (trông thấy nó, nghe về nó), trừ phi tri thức của bạn bẩm sinh mà có hay đến từ trực giác thần linh’”. Với tôi, lý lẽ này dường như quá hiển nhiên như thể hầu hết chúng đều thừa thãi [một cách] không cần thiết, và thực ra thì, đến chỗ này, những tiếng càu nhàu thường tắt dần.”

Read Full Post »

“Mỗi người đọc nhóm hợp các chi tiết vào cho chủ đề mà họ nghĩ là quan trọng, và nếu người nào chọn nhấn mạnh vào một chủ đề có độ hội tụ cao, thì nó chắc chắn là cái gì đó hệ trọng đối với người ấy. Tuy vậy, hầu hết các nhà phê bình chuyên nghiệp đều cả quyết với chúng ta rằng có sự đọc đúng và sai, tốt hơn hoặc kém hơn, và họ cương quyết, thường với thái độ rất mạnh mẽ, rằng những chủ đề và những thực thể văn học khác mà họ khám phá ra là có một giá trị “khách quan”. Chắc chắn, những việc đọc tác phẩm văn học theo sự hợp nhất của họ có thể được đối chiếu theo cách thức định lượng cũng như cách thức xem họ đã cảm xúc như thế nào khi họ đem các chi tiết của vở kịch hội tụ xung quanh một số chủ đề chính. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là ta so sánh những việc đọc bằng cách mở rộng đến điều ta cảm thấy khi ta chia sẻ chúng. Tiếp đến, có một câu hỏi quan trọng ở đây là, liệu những sự hợp nhất văn học là “chủ quan” hay “khách quan”, hay đúng hơn, các phần chủ quan và phần khách quan của việc đọc tương quan với nhau như thế nào. Tôi nghĩ, phân tích của tôi về bốn thuật ngữ – hợp nhất, đồng nhất, văn bản, bản ngã – sẽ giúp trả lời câu hỏi đó”.Norman Holland

Read Full Post »

 

T.Segers đặt câu hỏi, Hans Robert Jauss trả lời, Timothy Bahti dịch [sang tiếng Anh], Tạp chí New Literary History, Vol. 11, No. 1, Johns Hopkins University Press, 1979.

I

Hỏi: Năm 1972 ông đi đến kết luận rằng mỹ học tiếp nhận giới thiệu một hệ hình mới cho nghiên cứu văn học. Ông có tiếp tục giữ quan điểm này không? René Wellek chẳng hạn, đã lưỡng lự trước điều ấy khi gợi ý rằng luôn có những nghiên cứu giống như mỹ học tiếp nhận; Manfred Nauman thì nói về một “sự dao động của con lắc” hơn là một sự chuyển đổi các hệ hình. Nói cách khác, xét về mặt “hệ hình”, mỹ học tiếp nhận đem đến điều gì mới cho nghiên cứu văn học?

Trả lời: Cũng như trong các ngành học khác, sự chuyển đổi các hệ hình học thuật trong nghiên cứu văn học không phải là sự kiện từ trên trời rơi xuống như sự cách tân thuần túy nào đó. Khi một hệ hình mới có hiệu lực, thì hiệu lực này được đánh giá bằng những câu hỏi mới có thể đặt ra cho những vấn đề cũ, bằng việc xem xét liệu nó có thể giải quyết được chúng theo những cách mới hay không, bằng việc những vấn đề [ta] chưa biết nhờ đó trở nên sáng tỏ, và bằng việc xem xét liệu rằng, trong toàn bộ những trường hợp nêu trên, các phương pháp có thể được phát triển để góp vào sự phong phú của truyền thống học thuật hay không. Lịch sử nghệ thuật đã luôn tự thể hiện vai trò như một quá trình giữa tác giả, tác phẩm, và công chúng; biện chứng của sáng tạo và tiếp nhận đã luôn được trung giới thông qua sự tương tác của cả hai, tức là, thông qua sự giao tiếp văn học [literary communication]. Theo nghĩa này, “mỹ học tiếp nhận” luôn luôn là có thể có, nhưng không theo cách nói của Réne Wellek là luôn có các nghiên cứu như mỹ học tiếp nhận. Trước khi bắt đầu thời đại huy hoàng của chủ nghĩa duy sử, ngay bước chuyển từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, tiếp nhận văn học đã được nhìn từ viễn tượng (perspective) của một mỹ học tác động (Wirkungsästhetik) vốn đứng trong truyền thống của tu từ học và truyền thống thi pháp học của Aristoteles, nhưng mỹ học ấy lại không quan tâm đến những điều kiện lịch sử cho tác động thẩm mỹ của những tác phẩm nghệ thuật. Mỹ học tác động vĩ đại cuối cùng là phê phán năng lực phán đoán thẩm mỹ của Kant. Sau đó các quan tâm nghiên cứu đã dao động trở lại phía sáng tạo, như chính Manfred Nauman đã chỉ ra (Poetica [1976], các trang từ 451): “cảm quan chung” và “sở thích” thẩm mỹ gắn với nó đã bị mang tiếng xấu, và mỹ học của tài năng thiên bẩm, “nghệ thuật vị nghệ thuật”, và littérature engagée [văn học dấn thân] đã xuất hiện thế chỗ chúng. Từ đó, và mãi cho đến thời đại của chúng ta, câu hỏi về sự tác động và tiếp nhận của nghệ thuật – và cùng với chúng là hiệu quả giao tiếp của kinh nghiệm thẩm mỹ – đã không còn chiếm địa vị nổi bật trong những mối quan tâm của chúng ta.

Chủ nghĩa khách quan của phương pháp ngữ văn học thế kỷ 19, mà René Wellek – với tư cách là một đại diện nổi bật nhất – vẫn còn nặng nợ, đã không thể nhận thức được một cách trọn vẹn vấn đề này, vì nó quan tâm hơn hết đến vấn đề giá trị thẩm mỹ phi thời gian. Những lĩnh vực học thuật khác, chẳng hạn như thần học hay luật học, đã đánh bại chủ nghĩa duy sử giáo điều và chủ nghĩa thực chứng sớm hơn ngữ văn học. [Bởi] Ở đó, vấn đề phương pháp luận của thông diễn học từ lâu đã được nhìn nhận trong sự thống nhất ba mặt của việc hiểu, sự lý giải và sự vận dụng. Vấn đề về sự vận dụng– hay nói cách khác, vấn đề về tính không đầy đủ của việc chỉ đơn thuần tái cấu tạo cái quá khứ ‘như nó thực sự đã là’, tính không đầy đủ của sự lý giải hay sự miêu tả một văn bản ‘vì chính nó’, và sự nỗ lực trung giới văn học quá khứ vào trong chân trời kinh nghiệm của thời hiện tại của chính ta – là một đòi hỏi đã bị lấp liếm đi và đây chính là nội dung thực sự của bước ngoặt hướng đến một mỹ học tiếp nhận diễn ra trong giữa những năm 60 và rõ ràng là nó đã thành công.

II

Hỏi: Nếu mỹ học tiếp nhận của những năm 60 phải xác lập một hệ hình mới, phải chăng nó không cần tiền giả định những công cụ mới – giống như những hệ hình của các ngành học thuật khác – nhằm đem đến một ý nghĩa mới cho khái niệm về sự lý giải? Nó có dẫn tới việc “vượt qua sự lý giải”, như tuyên bố của chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học không? Đối với mỹ học tiếp nhận, liệu ta có thể nói về một sự lý giải có tính cách khoa học riêng hay không? Và ông nói gì về sự phản đối thường xuyên rằng phân tích tiếp nhận các văn bản chỉ thuần túy là chủ nghĩa chủ quan, và việc nhận ra rằng có bao nhiêu người đọc thì cũng có bấy nhiêu sự lý giải?

 

Trả lời: Nếu đúng rằng chủ nghĩa cấu trúc văn học và kí hiệu học đưa ta ra khỏi và vượt qua những phương pháp lý giải truyền thống, thì ta có thể nói về mỹ học tiếp nhận và mỹ học tác động rằng, theo một cách nào đó, chúng dẫn ta về lại với sự lý giải. Nhưng hiển nhiên điều này không có nghĩa là chúng [đưa ta] trở về lại với điểm tương tự mà những lý thuyết trước đó đã vượt qua rồi. Nói một cách chính xác thì mỹ học tiếp nhận và tác động không còn xem mục đích [theo nghĩa là] việc lần theo một văn bản để về lại với “phát ngôn” của nó, [trở về lại] với ý nghĩa ẩn tàng đằng sau nó, hay với “ý nghĩa khách quan của nó” như là mục đích nữa. Đúng hơn, mỹ học tiếp nhận và mỹ học tác động xác định ý nghĩa của một văn bản như một sự hội tụ giữa cấu trúc tác phẩm và cấu trúc của sự lý giải vốn luôn luôn đổi mới. Công cụ của chúng không gì khác hơn là: sự phản tư thông diễn, được vận dụng một cách có ý thức và có giới hạn, vốn phải đồng hành cùng với toàn bộ sự lý giải. Do vậy, mỹ học tiếp nhận và mỹ học tác động cũng có thể vận dụng những thành tựu trong việc miêu tả các văn bản của chủ nghĩa cấu trúc, chẳng hạn như khi chúng vận dụng mô hình những tương đương của Jakobson để lý giải trên phương diện ngữ nghĩa các cấu trúc vốn có thể xác định trên phương diện ngôn ngữ học. Tuy vậy, các công cụ ngôn ngữ học [chỉ] được sử dụng ở đây khi và chỉ khi có [mối] liên hệ về mặt ngữ nghĩa. Các cấu trúc ngữ pháp mà vốn chỉ có nghĩa nào đó đối với các chuyên gia ngôn ngữ học, hay những nét tinh tế ngữ nghĩa mà chỉ có loại siêu người đọc toàn năng của Riffaterre mới có thể nhận thức ra được, [những cấu trúc ngữ pháp ấy] phải được đặt sang một bên [để] tập trung cho nhiệm vụ chính yếu là làm rõ sự tiếp nhận thẩm mỹ một văn bản từ bên ngoài những điều kiện tác động [Wirkungsbedingungen] của sự tiếp nhận này. Điều kiện trước tiên và bao quát chung cho một tác động thẩm mỹ đến từ văn bản là việc tiếp nhận nó [xảy ra] bằng việc hiểu, trong một sự kế tiếp nhau của văn bản những thể thơ, những tự sự, hay sự khai mở đầy kịch tính của nó. Thế thì, thông diễn học văn học phân biệt giữa việc hiểu, sự lý giải và sự vận dụng. Lý giải, xét như sự cụ thể hóa một ý nghĩa đặc thù (giữa những khả thể về nghĩa khác nhau mà người lý giải trước đã cụ thể hóa hay người lý giải sau này có thể sẽ tiếp tục cụ thể hóa), vẫn luôn hạn định trong chân trời của lần đọc thứ nhất, tức việc tri nhận thẩm mỹ và việc hiểu [đi cùng] với sự hài lòng (pleasure); tiếp theo nó có nhiệm vụ soi sáng những điều kiện ngôn từ và thi pháp mà, từ sự cấu tạo của văn bản, [những điều kiện này] định hướng cho hành vi hiểu ban đầu. Sự vận dụng bao gồm cả hành vi hiểu lẫn hành vi lý giải trong chừng mực nó thể hiện mối quan tâm đến việc chuyển dịch văn bản ra khỏi quá khứ hay tính xa lạ của nó và đưa [văn bản] vào thời hiện tại của người lý giải, trong việc tìm kiếm câu hỏi mà văn bản đã có một câu trả lời cho người lý giải, trong việc tạo thành một phán đoán thẩm mỹ về văn bản vốn có khả năng thuyết phục được những người lý giải khác.

Do vậy, sự trách cứ của chủ nghĩa chủ quan là định kiến ít được biện minh và khó xóa bỏ nhất nhằm chống lại mỹ học tiếp nhận. Nó làm ngơ sự kết nối trở lại một cách không thể thay đổi được của sự lý giải với cấu trúc tiếp nhận của văn bản, cũng như làm ngơ tính liên-chủ thể của phán đoán thẩm mỹ vốn phải được cổ vũ; nó thể hiện việc thiếu một sự thức nhận về sự thiên lệch tất yếu của mọi lý giải trong quá trình tiếp nhận nghệ thuật. Ngược lại, chủ nghĩa chủ quan, cư ngụ một cách xác thực dưới lý tưởng về tính khách quan, nghĩa là nó giành thắng lợi ngay ở nơi người lý giải phủ định chân trời bị giới hạn về mặt lịch sử của họ, tức đặt họ ra bên ngoài lịch sử tác động của văn bản, chỉ nhìn thấy “những sai lạc” nơi tiền bối của họ và tự cho là mình đã sở hữu một cách trực tiếp và toàn bộ ý nghĩa của văn bản. Ngược lại, giá trị của phương pháp mỹ học tiếp nhận chính là việc nó phản đối tham vọng của lý giải duy ngã luận, và nó ít quan tâm đến sự  kiểm sai có tính cách đảo ngược lại mà quan tâm hơn đến tính có thể hợp nhất của những lý giải khác nhau trong đó ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật – được mang lại cho ta và luôn được cụ thể hóa một cách bộ phận/ một cách thiên lệch – tự thể hiện ra theo cách thức riêng biệt.

Nếu bây giờ ông hỏi tôi rằng liệu đường hướng này có thể đưa ta đến sự lý giải có tính cách khoa học riêng hay không, thì rõ ràng câu hỏi trên có ý nói đến một khái niệm về khoa học rút ra từ khoa học tự nhiên, hay cụ thể hơn, từ vật lý học. Cái được gọi là khái niệm có tính định luật học về khoa học này, đã có lúc bị phản đối và bị phản đối trong vô số ngành học thuật khác nhau, bởi một khái niệm có tính đối thoại về khoa học mà chỉ có những người bảo vệ ý hệ [ideologue] mới có thể xem nó như là “ít [tính] khoa học”. Khái niệm có tính đối thoại về khoa học không loại trừ lập trường và hoạt động của chủ thể, mà đúng hơn, thâu gồm chủ thể như là điều kiện của nhận thức, và trong chừng mực ấy khái niệm này là khái niệm dùng để chỉ riêng cho toàn bộ những ngành khoa học muốn tìm hiểu nghĩa,  tức những khoa học tiến hành từ giả định rằng nghĩa là một chân lý được mang lại – chứ không phải là một chân lý có sẵn – được hiện thực hóa trong sự thảo luận và đồng thuận với những người khác. Mặt yếu kém của cái gọi là nghiên cứu thường nghiệm về sự tiếp nhận và nghiên cứu văn học là chúng vẫn chưa một lần đạt đến được những kết quả của cấu trúc đối thoại trong việc hiểu những đối tượng văn học.

III

Hỏi: Có hay không những điểm nối kết giữa ba phong trào: chủ nghĩa cấu trúc trường phái Prague, ký hiệu học và mỹ học tiếp nhận vốn là mối quan tâm của khoa học văn học nói chung?

Trả lời: Tôi thấy có những điểm kết nối giữa ba phong trào nói trên, [nhưng] trên hết là trong việc các phong trào ấy đã đặt những vấn đề về sự truyền thông giữa người với người (interhuman communication), với những đặc trưng khác nhau, vào tâm điểm của những quan tâm nghiên cứu của chúng. Trong ngữ cảnh này, hoạt động nghiên cứu do trường phái nghiên cứu văn học Constance ở Đức giới thiệu từ năm 1966 không phải là sự kiện biệt lập. Nơi đây, những nỗ lực hướng đến một lý thuyết về sự tiếp nhận và tác động của văn học, vốn thoạt đầu được đặt cơ sở trên một khoa học về văn bản, đã không ngừng được phát triển thành một lý thuyết truyền thông văn học nhằm đánh giá đúng chức năng sáng tạo, tiếp nhận và mối quan hệ tương tác của chúng. Sự phát triển lý thuyết-khoa học này của khoa học văn học có tính báo hiệu cho một quá trình bao quát vốn có những biểu hiện tương tự trong ngôn ngữ học, kí hiệu học, xã hội học, nhân học, triết học và thậm chí là sinh học. Vào giữa những năm sáu mươi, một sự tách ra khỏi chủ nghĩa cấu trúc có tính khoa học đã xảy ra dưới sự phê phán về những hệ hình của vũ trụ ngôn ngữ học không-qui chiếu và do đó là phi-thế giới (nonworldly), tức việc phê phán hệ thống ký hiệu khép kín trong chính nó và không có chủ thể, phê phán việc bản thể hóa của khái niệm về cấu trúc, và phê phán logic bị hình thức hóa, phi truyền thông. Sự phục hồi [vai trò] của người đọc, người nghe, và công chúng khán thính giả (tức những “người nhận”) trong nghiên cứu văn học là tương ứng với : việc mở ra ngôn ngữ học-văn bản dựa trên một ngữ dụng học của những hành vi phát ngôn và hoàn cảnh giao tiếp; sự nghiên cứu kỹ lưỡng kí hiệu học trong một khái niệm văn hóa về văn bản; những câu hỏi được làm mới lại về chủ thể của vai trò và của “thế giới sống” trong nhân học xã hội, về động vật và môi trường trong sinh học; sự trở lại của xã hội học về nhận thức với những lý thuyết tương tác vốn đã trở nên thiết thực; và sự tách ra khỏi logic học hình thức hay logic học biểu đạt bằng một logic học dự bị hay logic học đối thoại. Trong sự biến đổi những hệ hình này (và chắc chắn là những hệ hình khác nữa) của những quan tâm nghiên cứu, vấn đề truyền thông được đề cập đến theo nhiều cách. Thêm vào đây là cuộc diễu hành thắng lợi của khoa học truyền thông toán học và khoa học lý thuyết thông tin, tuy vậy, trong đó tràn lan một góc nhìn ngây thơ quan niệm về một khoa học cứu rỗi đi tìm kiếm cách giải quyết những vấn đề phức tạp nhất về truyền thông của con người theo những cách thức đơn giản nhất. Vì truyền thông – ngược lại với khuynh hướng mở rộng nó vượt ra khỏi sự nhận thức, [chỉ] như là một khái niệm thời thượng và một cụm từ dùng đâu cũng được – giờ đây vẫn tiếp tục hiện diện trong sự hình thành khoa học của lý thuyết chỉ trong [phạm vi] những nỗ lực phương pháp luận, vì hầu hết các bộ phận của nó tách biệt khỏi các bộ phận khác, [nên] lý thuyết khái quát về truyền thông dù đã phát triển mạnh ngày nay vẫn còn xa mới thiết lập được một môn học nền tảng cho khoa học lịch sử, khoa học xã hội, và (với một sự mở rộng nào đó) khoa học tự nhiên. Để phát triển lý thuyết này theo một cách thức tương tác, dường như tôi – và không chỉ tôi – được giao một nhiệm vụ quan trọng nhất trong tương lai gần, và giải quyết một phần của nhiệm vụ này sẽ là một thời cơ của nghiên cứu văn học.

IV

Hỏi: Có hay không một sự tương ứng giữa mỹ học tiếp nhận với những phát triển gần đây trong văn học Đức đương đại – so sánh với sự tương ứng giữa chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa vị lai Nga?

Trả lời: Với câu hỏi này, ông đã chạm đến một trong những khía cạnh thú vị nhất và vẫn còn ít được bàn luận đến nhất trong hoàn cảnh hiện nay. Theo quan điểm của tôi, không có sự tương ứng nào trong thực tiễn văn học đối với sự hình thành lý thuyết của nghiên cứu văn học Đức vào những năm sáu mươi như trường hợp giữa chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa vị lai Nga vào những năm hai mươi. Ở Đức, cụ thể, mỹ học tiếp nhận thậm chí được xét trong thế đối trọng với lý thuyết mỹ học của tính phủ định (theo nghĩa của Adorno) và những biểu hiện của văn học và nghệ thuật tiền phong vốn phần lớn là theo cùng với nó. Lý thuyết tiếp nhận quan tâm đến việc tái chiếm lĩnh những chức năng truyền thông của văn học và nghệ thuật, trong khi lý luận mỹ học của Adorno – một hiện tượng nổi bật trong giai đoạn này – liên kết toàn bộ những hành vi giao tiếp hướng đến nghệ thuật với sự hài lòng thẩm mỹ bị ngăn cấm, và tuyên ngôn một chủ nghĩa tân Thanh giáo vốn được xem như là câu trả lời duy nhất cho cái gọi là công nghiệp văn hóa. Gần đây nhất, một sự phát triển đáng chú ý xuất hiện trong bối cảnh văn học Đức (và trên thực tế, ở cả hai bờ sông Elbe), trong đó ta có thể thấy một sự tương ứng với lý thuyết tiếp nhận và tác động. Tôi muốn nói đến sự tái chiếm lĩnh kì lạ – trong hình thức này – và độc nhất những văn bản cổ điển (chẳng hạn như là quyển The New Sorrows of Young Werther của Plenzdorf, hay quyển Mary Stuart của Hildesheimer) trong đó hình thức có tính toàn bộ của những phân mảnh gốc bất biến bị đập vỡ ra để phơi bày cho hiện tại một nội dung kinh nghiệm theo những cách mới và hầu hết là theo cách phê phán, trong một hình thức trùng phục thu hồi bằng những công cụ xa lạ hóa. Nước Anh cũng góp thêm một phần vào sự phát triển này với một làn sóng mới của việc tiếp nhận Shakespeare, trong khi ở Pháp quá trình tái chiếm lĩnh có tính phê phán về những văn bản cổ điển tiếp tục thiếu vắng trầm trọng.

V

Hỏi: Trong quan điểm của ông, những tranh luận khá gay gắt diễn ra giữa nghiên cứu văn học Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức vào những năm gần đây có góp phần nào vào một sự phát triển thực sự xa hơn của mỹ học tiếp nhận hay không?

Trả lời: Tranh luận này đã được tiến hành – dĩ nhiên là có tính điển hình – như một sự bất đồng trong nội bộ Đức giữa một lý thuyết nhìn bề ngoài là có vẻ duy tâm và một lý thuyết nhìn bề ngoài là có vẻ duy vật về văn học, trong đó cả hai phe đều cùng nỗ lực để vượt trội hơn phe kia trong [việc khẳng định] tính chính thống của họ. Hồi tưởng lại, chắc chắn là tôi không cần phải quay về xa hơn với [vấn đề] tính chính thống của những phe ngữ văn tư sản – mà từ đó trường phái Constance đã tự ngừng chiến. Nhưng mặt khác, trước hết phải xem cái gì vẫn được gọi là đặc trưng chính thống trong lý luận Marxist về văn học mười năm trước. Tính chính thống Marxist có thể được biểu thị ở ba điểm: lý luận phản ánh theo nghĩa của Georg Lukács; một việc hiểu không biện chứng về mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; và tính tiên nghiệm tuyệt đối của mặt sáng tạo trong mỹ học. Đối lập với điều này, khi ấy, cái được gọi là những nghiên cứu ngữ văn tư sản có thể được xem là chính thống theo cách của họ, trong chừng mực họ vẫn chấp nhận sự lý giải nội tại và chấp nhận sự khảo sát biệt lập về chuỗi những văn bản văn học, và không nghiêm túc đặt câu hỏi về chức năng xã hội của văn học. Từ viễn tượng của tôi – với việc tôi tự đặt mình ở giữa, không theo những người chủ chương của cánh tả lẫn những người chủ trương cánh hữu – thì đối thoại của mười năm đổ lại đây thành công một cách đặc biệt về mặt lập luận, tuy rằng nó được tiến hành một cách quyết liệt, vì cả hai bên đã vượt qua những điểm khởi đầu thuộc về tính chính thống và đã đặt ra được những vấn đề mới. Lý luận văn học Marxist tiên tiến ngày nay, cũng như lý luận văn học được tuyên bố là mới của phe “tư sản” đã bắt đầu hiểu mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, không trong thế đối lập nhau, mà như một quá trình trung giới biện chứng: nơi mà tác phẩm văn học vượt ra khỏi tính hữu dụng ý [thức] hệ thuần túy và chiếm giữ một chức năng xã hội tích cực, [thì nơi ấy] nó chứa đựng một hạt nhân của chủ nghĩa duy tâm – nói cách khác là sự siêu vượt-giai cấp – trong khi đó, ngược lại, ý nghĩa thẩm mỹ của một [tác phẩm] thậm chí là cổ điển, thoạt nhìn là phi thời gian và lý tưởng, chỉ có thể được nhận thức khi [ta] tái lập trở lại chân trời điều kiện hóa có tính duy vật của cái xã hội mà nó đã phản ứng. Ở trung tâm điểm của lý luận văn học như nó đang được tiến hành ngày nay bởi Manfred Naumann, Robert Weimann, và những người khác của Viện hàn lâm khoa học Berlin, không định vị trong hình thái phản ánh nữa, mà trong hình thái lưu thông [hàng hóa] của Marx có trong ‘Lời mở đầu phê phán chính trị kinh tế học’, nơi nó đòi hỏi và hợp thức hóa sự phân tích quá trình văn học như là một sự trung giới giữa sản xuất, tiêu dùng và phân phối hay trao đổi. Do vậy, các khuynh hướng tiên tiến của lý luận văn học trong cả hai phe ngày nay đều quy về nỗ lực thiết lập một sự tập trung của mối quan tâm về chức năng giao tiếp và do đó chức năng cấu tạo xã hội của văn học, vượt qua và vượt lên khỏi bình diện tiêu biểu của từng phe.

 

 

 

VI

Hỏi: Khi ông nghĩ về sự phát triển tiếp theo của mỹ học tiếp nhận, theo ông những nhiệm vụ nào hiện ra như là nhiệm vụ cấp bách? Một trong những nhiệm vụ tất yếu là viết lịch sử tiếp nhận. Vậy thì phương pháp nào có thể có được cho nhiệm vụ này? Một vấn đề quan trọng xuất hiện ở đây chắc chắn là vấn đề thiếu các phản hồi của người đọc từ một thời đại nào đó. Chính xác hơn, bằng cách nào ta có thể tái cấu tạo chân trời của những chờ đợi trong một thời đại từ một vài, hay một số, những phản hồi của người đọc được lưu truyền lại mà không rơi vào kiểu cũ của lịch sử tinh thần?

Trả lời: Tôi thấy việc cần kíp nhất của tình thế hiện nay là đề ra một thông diễn học văn học, tức là sẽ thiết lập những giả thiết thẩm mỹ của nó (xét như ngược lại với với thông diễn học thần học và thông diễn học luật học) và sẽ tìm cách xây dựng một nhịp cầu nối liền với các phương pháp cấu trúc, phương pháp ngôn ngữ học văn bản và phương pháp kí hiệu học. Dĩ nhiên cũng có những nhiệm vụ thú vị trong lĩnh vực lịch sử tiếp nhận, và có một số lượng lớn những lịch sử tiếp nhận phải được xử lý: lịch sử tiếp nhận các tác phẩm cá nhân, lịch sử tiếp nhận các tác gỉa, lịch sử tiếp nhận các thể loại và lịch sử tiếp nhận các thời đại tiêu biểu, nhưng chắc chắn là theo nhiều cách khác nhau hơn là theo phương pháp có tính chất bản thể luận cũ của “La fortune de…” hay “Sự ảnh hưởng của…”. Nhưng với điều này, một vấn đề lớn vẫn chưa được giải quyết, đó là, bằng cách nào các lịch sử tiếp nhận như vậy được hợp nhất vào trong một lịch sử văn học mới. Ở đây tôi muốn nhớ lại rằng ít nhất có một điều mà ta học được – hay có thể học – từ cuộc thảo luận của chủ nghĩa Marx: lịch sử của một loại hình nghệ thuật hay văn học không thể được viết như một lịch sử tự trị, mà chỉ như một bộ phận của quá trình xã hội. Trước khi ta có thể tham gia vào nhiệm vụ lớn này, một loạt những nghiên cứu dẫn nhập phải được thực hiện xong. Theo trình tự, điều này thuộc về việc nghiên cứu sự biến đổi chức năng của văn học, về hư cấu văn học và về sự tạo thành có tính tương quan của quy phạm văn học (chẳng hạn như sự chiếm hữu và sự loại bỏ văn học quá khứ trong các thể chế giáo dục) cũng như là một lịch sử về kinh nghiệm thẩm mỹ – như bản thân tôi đã bắt đầu trong quyển sách cuối cùng của mình, Kinh nghiệm thẩm mỹ và thông diễn học văn học. Nếu lịch sử văn học mới thực sự tồn tại thay vì chỉ đơn thuần là sự phản ánh lịch sử xã hội hay cuộc đối thoại mà thoạt nhìn là có tính tự trị giữa các tinh thần sáng tạo, thì sự dự phần của văn học theo các chức năng đa dạng của nó trước hết phải được xử lý một cách lịch sử và hệ thống.

Bước tiếp nối từ một lịch sử các tác phẩm và các thể loại nghệ thuật đến lịch sử kinh nghiệm thẩm mỹ, tức là hoạt động sáng tạo, tiếp nhận, giao tiếp thẩm mỹ của con người, cũng là nhiệm vụ tối cần thiết, vì nếu trình bày nó theo cách thông diễn, thì nó hiện ra một nhịp cầu giao tiếp với quá khứ xa lạ. Ngược lại với lịch sử có tính chất sử kí, cái lịch sử phải tái cấu tạo đời sống quá khứ từ một số lượng lớn những bằng chứng câm lặng hay từ những luận điểm xuyên tạc có tính ý hệ, lịch sử các nghệ thuật có sự thuận lợi của cái tồn tại (being) được định hình từ những tác phẩm vẫn tiếp tục đến được với chúng ta ngày nay – hay có thể xuất hiện trở lại [với ta] – trong khoái cảm thẩm mỹ và việc hiểu thẩm mỹ. Do đó, xét ở góc độ kinh nghiệm thẩm mỹ, nghệ thuật thúc đẩy sự chuyển động chân trời của các chờ đợi hiện thời từ sự chuyển động chân trời của các chờ đợi quá khứ, một sự chuyển động vô cùng cần thiết cho nghiên cứu lịch sử cũng như nghiên cứu lịch sử nghệ thuật. Bằng việc quay trở lại với các chức năng xã hội của kinh nghiệm thẩm mỹ, thì một chân trời của những chờ đợi có thể được tái cấu tạo một cách dè dặt (tentatively) ngay cả khi không có, hay vừa mới có những phản hồi của người đọc được lưu truyền lại. Vì chính chúng ta là và luôn vẫn có khả năng là những người đọc các văn bản quá khứ. Để tái cấu tạo không chỉ đặc điểm thẩm mỹ của nó, mà còn cả tính khác của nó, ta có những phương pháp tùy ý/tự chọn của ta. Ở nơi nào thông diễn học lịch sử không thể có được, ta có thể nỗ lực một hướng tiếp cận hệ thống với, chẳng hạn như, những công cụ của truyền thông, các hệ thống xét như là lý thuyết văn học và thể loại nghệ thuật chuẩn bị cho chúng. Trong quyển sách của tôi, Tính khác và tính hiện đại của văn học trung cổ, tôi đã cố gắng chỉ ra, ví dụ như, cách thức hệ thống giao tiếp của các thể loại văn học nhỏ, hay “các hình thức đơn giản” của diễn ngôn mẫu mực của một thời đại trong quá khứ có thể được tái cấu tạo, nhờ đó tôi chứng minh được tính thực tiễn của công cụ thông diễn của “câu hỏi và câu trả lời”.

Read Full Post »

Tôi cho rằng kinh nghiệm thuần túy là sự trực quan các sự kiện như chúng là và là sự trống rỗng của ý nghĩa. Khi biểu tả theo cách này, kinh nghiệm thuần túy nên được xem như điều kiện mờ đục, không phân biệt. Tuy nhiên, vì vô số ý nghĩa và phán đoán khác nhau sinh ra từ sự phân biệt trong bản thân kinh nghiệm, nên những sự phân biệt này không phát xuất từ các ý nghĩa và phán đoán: kinh nghiệm luôn bao gồm khía cạnh phân biệt. Chẳng hạn, ta nhìn vào một màu và cho rằng đó là màu xanh, nhưng phán đoán này không làm cho cảm giác màu nguyên ủy thêm rõ ràng; phán đoán đơn giản là thiết lập mối quan hệ giữa cảm nhận hiện tại và cảm nhận tương tự trong quá khứ về màu. Hoặc nếu tôi có một trải nghiệm hình ảnh về cái bàn và có những phán đoán về nó, thì việc này không làm phong phú thêm cho nội dung của bản thân kinh nghiệm về cái bàn. Với các ý nghĩa hay phán đoán về điều gì đó, thì kinh nghiệm đơn giản là những biểu đạt về mối quan hệ của nó với các kinh nghiệm khác; chúng không làm phong phú thêm cho nội dung kinh nghiệm. Các ý nghĩa hay phán đoán là phần được trừu xuất từ kinh nghiệm nguyên ủy, và là phần được so sánh với kinh nghiệm nguyên ủy vốn thô phác về nội dung. Ở đây có một thời gian tiến trình, khi bằng việc hồi tưởng lại kinh nghiệm nguyên ủy, ta ý thức về điều đã là sự không ý thức của ta, nhưng đây không gì khác hơn là việc ta hướng vào một bộ phận của kinh nghiệm nguyên ủy của ta mà trước đó không là đối tượng chú ý của ta. Do vậy, ý nghĩa hay phán đoán không thêm điều gì mới cho kinh nghiệm.

Giả định rằng kinh nghiệm thuần túy được khởi lên từ những phân biệt, thì ý nghĩa và phán đoán thêm vào cho nó điều gì và chúng liên quan như thế nào với kinh nghiệm thuần túy? Người ta thường cho rằng khi kinh nghiệm thuần túy kết nối với thực tại khách quan thì nó sinh ra ý nghĩa và có được hình thức cho phán đoán, nhưng từ góc nhìn lí thuyết của tôi, ta không thể rời bỏ vũ trụ của kinh nghiệm thuần túy. Ý nghĩa hay phán đoán sinh ra từ sự kết nối giữa ý thức hiện tại với ý thức quá khứ; ý nghĩa hay phán đoán dựa trên hành vi hợp nhất trong mạng lưới rộng lớn của ý thức. Chúng biểu lộ quan hệ giữa ý thức quá khứ và các ý thức khác, và như thế đơn thuần biểu thị vị trí của ý thức hiện tại trong mạng lưới của ý thức. Chẳng hạn, khi ta lí giải cảm nhận âm thanh như là âm thanh của tiếng chuông, ta đơn thuần thiết lập vị trí tương quan của cảm nhận âm thanh với kinh nghiệm quá khứ.

Việc gạt bỏ bản tính của nó, trong chừng mực ý thức duy trì tính hợp nhất chặt chẽ của nó, là kinh nghiệm thuần túy: nó đơn giản là sự kiện. Nhưng khi tính hợp nhất bị phá vỡ và ý thức hiện tại thâm nhập vào mối tương quan với các ý thức khác, nó sản sinh ý nghĩa và phán đoán. Đối lập với kinh nghiệm thuần túy tự hiển lộ trực tiếp cho chúng ta, ý thức về quá khứ giờ đây được khơi gợi và kết nối với bộ phận ý thức về hiện tại trong lúc xung đột với ý thức khác. Giai đoạn kinh nghiệm thuần túy do vậy bị phá vỡ thành từng mảnh và tan biến đi. Những sự vật như là ý nghĩa và phán đoán như thế là giai đoạn của sự phi hợp nhất này.

Read Full Post »

“That clear perpetual outline and limb is but an image of ours”

Ta có thể nói gì về một câu như thế? Tôi e rằng một nhà phân tích phong cách sẽ tìm thấy ở nó sự rõ ràng và sự bình thường đáng chán, một câu tường thuật đơn giản trong hình thức X là Y. Và nếu anh ta tình cờ tiếp cận nó, không chắc rằng anh ta mất nhiều sự chú ý vào từ đầu tiên – “That”. Từ này ở đây một cách đơn giản. Nhưng dĩ nhiên nó không đơn giản như vậy; nó ở đây theo cách năng động, làm cái gì đó, và việc nó làm điều gì có thể được khám phá bằng việc đặt câu hỏi “nó làm gì?” Câu trả lời hiện ra trước mắt ta là nó có ở đây một cách hiển nhiên và đúng thật, mặc dù ta có lẽ không thấy nó cho đến lúc ta đặt câu hỏi. “That” là một từ chỉ định, một từ chỉ ra ngoài, và khi ta đem nó vào trong, một nghĩa quy chiếu của nó (chưa được nhận ra) được thiết lập. Bất cứ cái gì là “that”, thì nằm ở bên ngoài, có một khoảng cách với người quan sát-người đọc; nó “chỉ đến” (việc chỉ trỏ là điều mà từ “that” làm), cái gì bản thể và vững bền. Nhờ vào sự hồi ứng của người đọc, “that” sinh ra một sự chờ đợi thôi thúc anh ta hướng tới trước, sự chờ đợi tìm thấy “that” là . […]

Tính từ “clear” hoạt động theo hai cách; nó hứa với người đọc rằng khi “that” xuất hiện, anh ta sẽ có thể thấy nó dễ dàng, và, ngược lại, rằng nó có thể được thấy dễ dàng. “Perpetual” cố định tầm nhìn về “that” thậm chí trước khi nó được thấy và “outline” đem đến cho nó một hình thức tiềm tàng, cùng lúc đó sinh ra một câu hỏi. Câu hỏi đó – diện mạo về cái gì? – được trỗ trợ trả lời bằng cụm từ “of face and limb”, vốn, bằng hiệu quả của nó, lấp đầy vào diện mạo. Theo thời gian người đọc tiến đến động từ tường thuật “is” – vốn đặt dấu hiệu vào thực tại khách quan về cái đã có trước – người đọc được định hướng một cách đầy đủ và chắc chắn vào một thế giới của những đối tượng được nhận rõ hoàn toàn và những người quan sát hoàn toàn nhận rõ được, mà anh ta là một trong số họ. Nhưng rồi câu văn quay vào người đọc, lấy đi cái thế giới mà nó tạo ra. Với từ “but” thì quá trình được tạo dễ dàng bằng câu văn bị ngăn lại (nó là sự nứt gãy lần thứ hai trước khi ta nhận ra rằng “but” có một hiệu quả của “only”); hiệu quả tường thuật của “is” bị yếu đi và vị thế của diện mạo được nêu ra chắc chắn trước đó mà người đọc đã từng chịu thừa nhận bất ngờ không còn chắc chắn; “image” quyết định tính không chắc chắn đó, nhưng về hướng tính phi bản thể/ không có thực; và cái hình thức không rõ hiện thời biến mất hoàn toàn khi cụm từ “of ours” làm vỡ tan cái khoảng cách giữa người đọc và cái là (hay đã là) “thiếu vắng” (từ của riêng Pater). Khi thì bạn thấy nó (“that”), khi thì bạn không thấy. Pater đưa ra và Pater lấy đi”. Stanley Fish.

Read Full Post »

Older Posts »