Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu, 2018

Quyển sách Dẫn nhập tiếp nhận văn học này trình bày các khái niệm, vấn đề và phạm vi của tiếp nhận văn học. Khác với các quyển sách đã có, vốn trình bày tiếp nhận văn học trong góc nhìn hàn lâm về lí thuyết phê bình, hay lịch sử và các vấn đề của lí thuyết tiếp nhận (Robert Holub, 1984; Elizabeth Freund, 1987; Richard Beach, 1993; Todd F. Davis and Kenneth Womack, 2002), quyển sách này nỗ lực trình bày tiếp nhận văn học trong hình thức nhập môn, hướng đến tính thực tiễn và tính đương đại, nhằm phục vụ nhu cầu của sinh viên và người làm trong các lĩnh vực liên quan đến văn hóa.

Đối tượng của quyển sách trước hết là sinh viên của ngành ngữ văn, sư phạm, truyền thông đại chúng, văn hóa học, và các ngành liên quan. Quyển sách này sẽ giúp họ làm quen với lĩnh vực tiếp nhận văn học, giúp họ nắm bắt một số đặc điểm, các khái niệm cơ bản của tiếp nhận văn học. Quyển sách cũng giúp họ hình dung được tiếp nhận văn học trong nhà trường, trong phê bình văn học, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong bối cảnh xã hội, văn hóa.

Quyển sách cũng hướng đến xây dựng nền tảng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành văn học và nghiên cứu văn hóa, giúp họ có cái nhìn thực tiễn về nghiên cứu tiếp nhận văn học. Quyển sách cũng bước đầu giới thiệu các khuynh hướng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các khuynh hướng lí thuyết, các trích đoạn lí thuyết quan trọng.

Quyển sách cũng có ích cho người làm việc trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh văn hóa, xuất bản sách, báo chí và truyền thông đại chúng nói chung. Quyển sách đem lại những kiến thức để phân tích nhu cầu và thị hiếu của công chúng đọc, các tiêu chuẩn đánh giá sự hấp dẫn của tác phẩm đối với công chúng, những gợi ý cho việc định hướng nhu cầu đọc và tiếp nhận văn học của công chúng.

Tính thực tiễn của quyển sách thể hiện qua việc nội dung được liên hệ trực tiếp với trường hợp của thực tiễn văn hóa, văn học và giáo dục, thông qua ví dụ, thực hành thảo luận. Tính đương đại của quyển sách thể hiện qua việc kết nối vấn đề của tiếp nhận với các câu hỏi về giới, tự sự về quốc gia dân tộc, kí ức, thực hành và sản xuất văn hóa đại chúng… Tuy vậy, quyển sách cũng nỗ lực bám sát các chuyển hướng lí thuyết và phương pháp nghiên cứu tiếp nhận, những khó khăn mà lí thuyết gia tiếp nhận nỗ lực giải quyết và cả những vấn đề còn bỏ ngỏ, nhằm phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu nâng cao.

Do yêu cầu đó, quyển sách chọn lựa tầm nhìn văn hóa/ nghiên cứu văn hóa, vốn đang được chú ý trong thời gian gần đây (James L. Machor và Philip Goldstein, 2001), thay vì chỉ bó hẹp trong tầm nhìn nghiên cứu và phê bình văn học. Tầm nhìn nghiên cứu văn hóa cho phép mở rộng phạm vi của vấn đề tiếp nhận, đồng thời tiệm cận được với thực tiễn của tiếp nhận vô cùng đa dạng trong bối cảnh xã hội thông tin và toàn cầu hóa hiện nay.

Định hướng như trên tất yếu sẽ đặt việc trình bày tiếp nhận văn học trong hướng tiếp cận liên ngành của viễn tượng nhân học, một định hướng đã được chú ý đến trong thời gian gần đây (Wolfgang Iser, 1992; Janice Radway, 1988, 2008), trong đó các góc nhìn nghiên cứu văn học, giáo dục học, tâm lí học, xã hội học, truyền thông đại chúng, sự sản xuất văn hóa được soi chiếu lẫn nhau trong hiện tượng tiếp nhận. Định hướng trên có ích cho việc triển khai một cuốn dẫn nhập, vì nó nhằm mục đích làm cho quyển sách hướng đến phục vụ cho nhu cầu thực tiễn của đa số người đọc, giúp họ có thể sử dụng kiến thức một cách linh hoạt hơn trong một xã hội đa văn hóa và không ngừng biến đổi như hiện nay.

Cấu trúc của quyển sách vì vậy ưu tiên cho cái nhìn tổng quan (chương 1), đi vào thực tiễn (chương 2, 3, 4, 5), rồi cuối cùng mới là khái lược lí thuyết và phương pháp nghiên cứu (chương 6, 7).

Quyển sách có các thành phần nội dung chính:

  • Khái niệm và kiến thức cơ bản định hình cấu trúc chung của quyển sách
  • Kiến thức mở rộng (trong khung) và nâng cao (in nghiêng) đan xen giữa và cuối các nội dung cơ bản
  • Các trường hợp thực tiễn được phân bổ trong nội dung cơ bản và phần thảo luận- phân tích dành cho người học
  • Phụ lục trích đoạn văn bản lí thuyết (tiếng Anh), giải thích khái niệm lí thuyết
Advertisements

Read Full Post »

“….

Tiếp nhận văn học là gì?

Từ ngữ “tiếp nhận” (Chữ Latin là receptio), trong nghĩa là sự diễn giải ý nghĩa ngôn từ, xuất hiện trong ngữ cảnh giai đoạn đầu thần học thời trung cổ Latin. Theo đó, những gì được tiếp nhận chỉ có thể được tiếp nhận trong góc nhìn của người tiếp nhận (Quidquid recipitur ad modum recipientis recipitur). Quan niệm này thể hiện rằng con người là hữu hạn, nên sự diễn giải của họ về Chúa thông qua Kinh thánh xuất phát từ sự hữu hạn của họ và vì thế, không thể hoàn tất. Nhưng cũng trong ngữ cảnh này, vào thế kỉ thứ 6, nảy sinh quan niệm về một tiến trình diễn giải có thể được hoàn tất thông qua sự chuyển biến trong quá trình các người đọc tương tác với Kinh thánh: Kinh thánh giàu có lên đối với tất cả người đọc nó (Scriptura sacra… aliquo modo cum legentibus crescit) (Jauss, 1990). Hai mặt của khái niệm này đã gợi lên những khía cạnh quan trọng của tiếp nhận văn học: tiếp nhận là mang tính cá nhân, ý nghĩa của tác phẩm tùy thuộc vào người tiếp nhận, và sự tiếp nhận là có tính tiến trình, người đọc làm giàu có ý nghĩa cho văn bản và qua đó làm giàu có chính mình.

Thập niên 1970, với sự ra đời của trường phái Constance, khái niệm này được phát triển theo hướng làm rõ bản chất của hoạt động thẩm mỹ ở khía cạnh người đọc mặc nhiên (the implicit reader), nghĩa là cái cấu trúc của văn bản mời gọi sự diễn giải, và người đọc lịch sử (the historical reader), nghĩa là tiến trình hiện thực hóa ý nghĩa, qua đó chân trời chờ đợi của người đọc có thể chuyển đổi thông qua việc diễn giải ý nghĩa văn bản (Jauss, 1990).

Ở một phía khác, các nước Anh-Mỹ, một mặt, có nguồn gốc sâu xa từ sự ảnh hưởng thần học trong triết học Hegel được tiếp thu ở đây, tiếp nhận văn học được miêu tả như sự tương tạo (transaction) giữa chủ thể và đối tượng, người đọc trưởng thành trong quan hệ với văn bản, và văn bản giàu có thêm ý nghĩa trong quan hệ với người đọc (Louise Rosenblatt, 1938). Mặt khác, từ Richards tiếp nhận văn học được miêu tả ở góc độ sự tác động của văn bản đối với người đọc, và sự hồi ứng (response) của người đọc đối với tác động này (Elizabeth Freud, 1987)”….

Read Full Post »

Tóm tắt báo cáo

 

Về cơ bản, một khía cạnh trong đề án thông diễn học triết học của Gadamer là đặt lại vấn đề đối với quan niệm truyền thống về tính chủ thể. Tuy không thể hiện trực tiếp, nhưng qua sự phân tích nguồn gốc khái niệm chủ thể trong tiếng Hy Lạp, việc đề cập đến vấn đề sự tự nhận thức, Gadamer phê bình quan niệm truyền thống cho rằng tính chủ thể như là nền tảng bất biến. Gadamer cũng đặt lại vấn đề về vai trò của kẻ khác/ cái khác trong phân tích của Heidegger về cấu trúc của Dasein, thông qua sự trải nghiệm của cá nhân về giới hạn của chính mình qua sự gặp gỡ với cái khác. Tuy chịu ảnh hưởng từ khái niệm tính liên chủ thể và thế giới đời sống của Husserl, nhưng Gadamer cũng vượt qua Husserl ở chỗ ông đặt tất cả vào trong tính đối thoại của sự hiểu và lí giải.

Tiêu biểu cho việc Gadamer đặt lại vấn đề đối với tính chủ thể trong quan niệm truyền thống là phân tích của ông về sự chơi. Sự chơi là biểu hiện của trò chơi thông qua việc tham gia của những người chơi. Gadamer phân tích mặt sử dụng ngôn ngữ của khái niệm sự chơi để chỉ ra rằng “sự chơi không phải là thứ gì đó mà một người thực hiện”. Theo Gadamer, để nói về sự chơi bắt đầu chơi, thì ta nói về “thứ gì đó đang trong cuộc chơi hay thứ gì đó đang diễn ra”, cũng như khi ta nói rằng “bóng đã lăn” để chỉ trận đấu đã bắt đầu. Mặt khác, khi chơi, người chơi vừa chơi một cách nghiêm túc, vừa chơi một cách không nghiêm túc. Trẻ con khi chơi say mê hết mình với trò chơi của chúng, nhưng chúng cũng biết rằng đó chỉ là chơi. Điều này có nghĩa là, người chơi đích thực là người bị cuốn vào trong sự chơi, anh ta quên mất mình trong sự chơi. Đó là tính chất thảnh thơi [Leichtigkeit/lightness] của sự chơi. Và như thế, “chủ thể của sự chơi không phải là những người chơi, mà thay vào đó, sự chơi chỉ đạt đến sự biểu hiện mình trông qua việc nó được chơi”.

Nhìn tổng thể, thông diễn học triết học của Gadamer thách thức quan niệm truyền thống về tính chủ thể ở sự phê phán ý thức thẩm mỹ và ý thức lịch sử, trong đó sự hiểu cơ bản được tiến hành trên cơ sở sự ảnh hưởng từ truyền thống và sự đối thoại với cái khác. Mặt khác, điều kiện khả thể cho sự hiểu là ngôn ngữ, là cái trung giới có tính kiến tạo, vốn được hình thành từ đời sống ngày thường có tính lịch sử, mà không phải được tạo nên từ một chủ thể siêu nghiệm và tự trị. Đó là lí do mà Gadamer viết: “Rất lâu trước khi ta tự hiểu mình thông qua tiến trình tự vấn, ta đã tự hiểu mình một cách hiển nhiên trong gia đình, xã hội và nhà nước nơi ta sống. Sự tập trung vào cái cá thể chỉ là lóe sáng nhỏ nhoi trong những vòng tròn khép kín của đời sống lịch sử”.

Quan niệm về tính chủ thể được kiến tạo qua việc hiểu có tính đối thoại ảnh hưởng đến lí thuyết tiếp nhận của trường phái mỹ học tiếp nhận Konstanz, chủ yếu là Hans Robert Jauss, một học trò của Gadamer. Jauss kế thừa Gadamer ở khía cạnh vấn đề người đọc và chân trời chờ đợi của họ được kiến tạo nên từ những tác phẩm đã đọc trước đó, và được khơi gợi lại để củng cố hay chuyển đổi thông qua đối thoại với văn bản.

Việc đặt lại vấn đề về tính chủ thể trong quan niệm truyền thống của Gadamer không phải là tiếng nói lẻ loi trong bối cảnh của lí thuyết đương đại. Louise Althusser và Michel Foucault đã có những tiếp cận với vấn đề tính chủ thể theo đường hướng tương tự. Tuy khác nhau, nhưng cả Althusser và Foucault đều phê phán quan niệm về tính chủ thể như là cái gì nền tảng, bất biến, thay vào đó, tính chủ thể là cái gì được kiến tạo trong quan hệ với quyền lực diễn ngôn và ý thức hệ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chris Lawn and Niall Keane, The Gadamer Dictionary, Continuum, New York.
  2. Günter Figal, 2007, Klassiker Auslegen: Wahrheit und Methode, Akademie Verlag, Berlin.
  3. Hans-Georg Gadamer, 1990, Wahrheit und Methode: Grundzuege einer philosophischen Hermeneutik, Mohr (Paul Siebeck), Tübingen.
  4. Hans-Georg Gadamer, 1989, Truth and Method, Joel Weinsheimer and Donald G. Marshall trans, Continuum, Great Britain.
  5. Hans-Georg Gadamer, 1995, “Subjectivität und Intersubjektivität, Subjekt, und Person”, Gesammelte Werke 10, Mohr (Paul Siebeck), Tübingen.
  6. Nick Mansfield, 2000, Subjectivity: Theories of the self from Freud to Haraway, Allen & Unwin, Australia.

Read Full Post »

 

Nhân có đọc được những ý kiến của về vấn đề thấu cảm trong dạy học văn trong bài viết “Dạy văn dạy cái gì?” trên facebook của anh, trong đó có những nhận định liên quan đến tiếp nhận văn học, nên tôi viết vài ý kiến trao đổi. Trước hết, xin nói ngay rằng tôi không trao đổi về đề tài “thấu cảm” nói chung, cũng không trao đổi về vấn đề phương pháp dạy văn, vì đó là những lĩnh vực rộng lớn, đòi hỏi phải tham chiếu nhiều tài liệu, nằm ngoài khả năng và sức lực của tôi. Trong phần này, tôi chỉ trao đổi 3 trong 5 ý kiến về dạy học văn của anh có liên quan đến tiếp nhận văn học, vì chúng nằm trong lĩnh vực mà tôi có tìm hiểu chút ít. Còn các vấn đề khác của ý kiến 4 và 5, tôi chưa được đọc kĩ lưỡng, nên cũng xin để dịp khác.

 
Cụ thể ở đây tôi chỉ trao đổi một số luận điểm trong những đoạn sau:
1. Anh viết rằng: “Một là, xem văn bản là cái độc lập với tác giả thì chuyện tri âm hay “thấu cảm” với tác giả là không cần thiết nữa. Đọc văn, học văn, theo các nhà phê bình Mới, để “thấu cảm”, tức “thấu hiểu và cảm thông” (theo từ điển Vũ Chất) với tác giả là “ngụy luận ý đồ”, vì luôn xảy ra hiện tượng tác giả nghĩ một đằng tạo ra văn bản một nẻo”.
Chỗ này có 2 điểm trao đổi:
a/ Trên thực tế, việc “xem văn bản là cái độc lập với tác giả” và “tri âm hay thấu hiểu với tác giả là không cần thiết nữa” là hai vấn đề khác nhau. Vấn đề thứ nhất, có vẻ đúng về mặt lí thuyết, nhưng chỉ với một số lí thuyết gia tiếp nhận (Eco chẳng hạn, vẫn cho rằng văn bản liên quan đến tác giả, dù ông phân tích rất thích đáng về vai trò của người đọc); vấn đề thứ hai phức tạp hơn nhiều, vì khi người đọc hình dung ra một tác giả để quy cho họ những tư tưởng và tình cảm mà mình tiếp nhận từ tác phẩm, thì đó là tác giả mô hình như là chức năng tạo nghĩa, không phải là tác giả tiểu sử hay tác giả thực (theo Foucault, Eco). Tác giả này thực tế là luôn hiện diện trong hầu hết thực tiễn của việc đọc. Câu hỏi ở đây là, trong nhận thức của người đọc thì họ có hình dung rằng đó là tác giả hư cấu hay không? Và liệu việc họ hình dung đó là tác giả thực thì sự thấu hiểu được hình dung như thế có cần thiết không? Câu trả lời từ những nghiên cứu thường nghiệm cho thấy rằng người đọc thường hình dung đó là điều tác giả thực muốn nói. Những nghiên cứu mới nhất, chẳng hạn như của Schweickart, thì cho rằng điều này là cần thiết, nhất là với việc người đọc nữ đọc các văn bản của người nữ. Tôi sẽ nói thêm ý này ở sau.
b/ Do đó, ở vấn đề này, cần có sự phân biệt giữa các định đề lí thuyết và thực tiễn của việc đọc. Việc đọc trong thực tiễn nói chung thì người đọc đọc cho nhu cầu của họ, việc cần thiết hay không là thuộc về cá nhân mỗi người. Vì thế, Michel de Certeau và một số người khác nữa, như Henry Jerkins chẳng hạn, khi nghiên cứu sự đọc đại chúng đã cho rằng các mô hình khái quát kiểu như là người đọc đưa tầm đón nhận của mình vào quá trình đọc theo cách hiểu của Jauss, hay đối thoại với văn bản theo cách hiểu của Gadamer, Jauss…. chỉ là những mô hình lí thuyết, chứ hoàn toàn không cho thấy hết được thực tiễn đọc vốn đa dạng vô cùng.

 
2. Anh viết rằng: “Đọc văn, học văn để “thấu cảm” với nhân vật nhờ đồng cảnh ngộ hay thậm chí “nhìn bằng con mắt của nhân vật” để hiểu nhân vật và để hiểu mình là “ngụy luận cảm thụ”, vì không bao giờ có chuyện nhân vật là bản sao của cuộc sống. Văn bản là một cách thức mã hóa đời sống văn hóa xã hội, đọc văn, học văn là tìm cách giải mã hệ thống kí hiệu trong văn bản”.
Chỗ này dường như anh có một nhầm lẫn nhỏ: “nhìn bằng con mắt nhân vật để hiểu nhân vật và hiểu mình” thì không có liên quan gì đến chuyện “nhân vật là bản sao cuộc sống”. Một nhân vật hư cấu vẫn có thể được người đọc nhìn bằng con mắt nhân vật để hiểu nhân vật và hiểu mình.

 
3. Anh viết rằng: “Hai là, khi P. Valery nói: “Tôi chỉ là người làm ra bài thơ, còn nghĩa là do bạn đọc cung cấp”, điều đó cũng có nghĩa là đọc hay học văn luôn là một sáng tạo với tư cách là chủ thể. Các nhà hiện tượng luận đã chỉ ra, văn bản nghệ thuật luôn là kết cấu mời gọi với các khoảng trống để người đọc lấp vào. Sáng tạo của bạn đọc do “tầm đón” và sự “dung hợp tầm đón” ở chủ thể tiếp nhận.”
Chỗ này có hai điểm trao đổi về lí thuyết tiếp nhận:
a/ Anh, cũng như một số nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam hiện nay, có vẻ như đã hiểu chưa đầy đủ luận điểm về kết cấu mời gọi của văn bản và sự cụ thể hóa của người đọc. Cách diễn đạt của anh cho thấy rằng có vẻ như trong cách hiểu của anh thì người đọc nắm quyền sáng tạo nghĩa. Trên thực tế, không phải ngẫu nhiên mà các nhà viết lịch sử lí thuyết tiếp nhận xếp Iser vào khuynh hướng văn bản trong nghiên cứu tiếp nhận. Vì đối với Iser, chính văn bản là điều kiện để cho việc đọc diễn ra theo hướng nào. Anh có thể đọc thêm bản dịch của tôi về bài viết của Iser liên quan đến vấn đề này trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5. 2017.
b/ Điểm trên cũng có liên quan đến một khái niệm trong thông diễn học triết học của Gadamer anh đưa vào trong câu cuối: “dung hợp tầm đón đợi” (Fusion of horizons/ Horizontverschmelzung; tôi dịch là “hòa trộn các chân trời”). Ở đây, cách hiểu của anh có vẻ có chút nhầm lẫn. Vì khái niệm này của Gadamer có một khía cạnh rất quan trọng là trước khi các chân trời có thể dung hợp/hòa trộn thì người tiếp nhận phải nhập vào được chân trời câu hỏi của văn bản, nghĩa là phải hiểu những câu hỏi mà văn bản được viết ra như là câu trả lời. Dù cho ông có đề nghị một sự ý thức về độ căng của khoảng cách thời gian, nhưng ý chủ đạo của Gadamer là sự nhập vào chân trời của văn bản. Đó chính là điều kiện và yêu cầu cho sự thấu cảm thực sự với các vấn đề văn bản gợi nên. Nhưng câu trích trên của anh diễn đạt hầu như ngược ý khái niệm của Gadamer! Chỗ này bài của anh Trần Ngọc Hiếu liên hệ khá rõ ở ý cho rằng nên gợi sự thấu cảm bằng các câu hỏi, và thấu cảm không phải là sự đồng nhất hóa với đối tượng, mà là đặt mình trong đối tượng để từ chối phán xét.

 
4. Anh viết rằng: “Ba là, nếu xem văn bản là phát ngôn của một tác giả, của một thời đại, thì đọc văn, học văn luôn là một cuộc đối thoại liên tục, không ngừng. Lý thuyết đối thoại của Bakhtin đã vạch ra, các phát ngôn luôn mang tư tưởng hệ và là sản phẩm của một loại hình văn hóa nhất định, không bao giờ có chuyện một tư tưởng hệ hay một loại hình văn hóa mang tính chất toàn trị thống nhất mọi tiếng nói”.
Ý trên của anh về đọc văn như là cuộc đối thoại thì ngày nay đã được đặt lại vấn đề. Những nghiên cứu mới nhất của Schweickart không cho thấy như vậy nữa. Dựa trên quan niệm về tiếp nhận văn học nữ quyền, bà cho rằng mối quan hệ mà các lí thuyết gia gọi là quan hệ đối thoại, về thực chất, là luôn có tính chất áp đặt. Vì văn bản không thể tự biện minh cho mình trước các công cụ và chiến lược diễn giải, nên trong mọi cuộc đối thoại, chỉ có người đọc và nhà phê bình tự đối thoại với chính mình mà thôi! Vì thế, bà đề xuất một đạo đức học của sự quan tâm trong việc đọc, đó là, người đọc yên lặng và lắng nghe văn bản, thay vì đề nghị một cuộc đối thoại mà thực chất là giả tạo. Người đọc phải hoàn toàn thấu cảm với văn bản, làm chứng cho tiếng nói tác giả bằng tiếng nói nội tâm của mình (tất nhiên, trong thực tiễn thì việc phân biệt giữa tác giả hư cấu và tác giả thực không được người đọc chú ý lắm). Đây chính là khía cạnh lí thuyết mà anh Trần Ngọc Hiếu đã đề cập.

 

Nhìn chung, trong các luận điểm trên của anh, tôi thấy nổi lên có hai điểm cần quan tâm. Một là lí thuyết tiếp nhận hay thông diễn học là một lĩnh vực, còn thực tiễn tiếp nhận lại là chuyện khác. Các lí thuyết gia bao giờ cũng khái quát mọi thứ, nhưng thực tiễn tiếp nhận thì lại vô cùng tận và nhiều khi chẳng có quy luật nào hết vì nhu cầu của người đọc là đa dạng. Hai là, việc trong tiếp nhận có thấu cảm được hay không thì khác với việc thấu cảm có cần thiết không; tạm gọi là bình diện cái đang là của hiện thực và bình diện cái phải là của điều nên có. Theo tôi được biết, khuynh hướng chiếm đa số hiện nay, trong bối cảnh cần sẻ chia những tiếng nói khác biệt, những kí ức và tiếng nói bị làm cho câm lặng, thì các lí thuyết gia đang nhấn mạnh đến yêu cầu thấu cảm trong đọc và tiếp nhận văn chương. Thấu cảm, như thế, là sự lắng nghe mà không phán xét, thấu hiểu và chia sẻ mà không ngăn chặn những tiếng nói khác mình. Có lẽ anh cũng thuộc về những người có thể hiểu rõ điều đó.

 

Cuối cùng, về vấn đề này và những vấn đề khác liên quan, còn có rất nhiều điều tôi chưa biết, chưa đọc, tôi không dám bàn. Hơn nữa, đáng lí ra tôi cần phải viết lại vấn đề này thành một bài có lớp lang thứ tự, có cấu trúc các vấn đề nhất quán và phân tích, trích dẫn một cách kĩ lưỡng hơn. Nhưng đó là việc cần thời gian và công phu. Tạm thời tôi chỉ trao đổi được rất sơ sài như thế. Rất xin lỗi anh và quý độc giả về điều này.
(Bài này rút từ một trao đổi đăng facebook của tôi, bài đăng ở đây có chỉnh sửa và bổ sung cho phù hợp. Bản này từ đây được xem như bản công bố chính thức của trao đổi này)

bài đã đăng Văn hoá Nghệ An.

Read Full Post »