Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Hai, 2016

MẶT NẠ

 

Ngày….

Rồi mình sẽ viết một quyển tiểu thuyết về cái nghề này.

Anh nghĩ như thế mỗi lần cảm thấy mình không qua nổi, cảm thấy mình quá chán chường, cảm thấy những mảnh vỡ găm nát lồng ngực đã rệu rã. Thỉnh thoảng trong lúc nào đó khi cơn nhói đau buốt lên trong óc, anh lại tự hỏi tại sao mình lại rơi vào tình trạng này nhỉ, tình trạng mà có nhà văn đã từng miêu tả trong một tác phẩm nổi tiếng viết về bi kịch của con người không thể chịu nổi chính mình.

 

Ngày…

Nỗi đau đớn là gì? Phải chăng là lúc ta cảm nhận được bản thân chỉ là những mảnh vụn rệu rã đang cố dính dáng vào nhau trong khoảnh khắc hiện tại. Mảnh vụn này cố bám víu lấy mảnh kia, như sợ chính nó trôi tuột vào hư vô. Anh nhiều lần đã cảm nhận điều ấy. Như một lần anh đi lang thang ngoài đường, đau buốt lên trong óc. Cảm thấy cái nhìn này không phải của mình, lắng nghe này không phải của mình, đôi tay này không phải của mình, tất cả là trống không. Nhưng anh lại cảm thấy mình đang đi. Sao lại có thể như thế.

 

Ngày…

Rồi mình sẽ viết một quyển tiểu thuyết về cái nghề này. Một lần, khi kể với người bạn về những việc đang làm trong nỗi chán chường, anh đã nghĩ thế. Thú thực lúc ấy, anh cảm thấy căm ghét cái nghề này, cái nghề làm cho con người anh phân ra làm hai mảnh, một mảnh đóng khung anh trong cái hộp bằng thiếc. Một mảnh cháy rực lên muốn thiêu đốt tất cả. Anh không được sống là mình vì cái nghề này, nhưng anh phải sống, vì cái nửa bên kia, cái nửa cháy lên ấy, nghịch lí thay. Có một lúc nào đó anh chợt nhận ra rằng mình không được chuẩn bị cho cái nghề này. Cần một người xứng đáng hơn anh ở vị trí của anh, đó không phải là anh. Rồi anh, đứng ở nửa bên kia, bên ngoài cái hộp, tự nhìn lại nửa bên này. Anh thấy mình co ro đi đi lại lại trong cái hộp thiếc ấy. Nó thật chật chội. Anh không biết mình đang làm gì. Nhưng anh cảm thấy mình không thuộc về cái nghề này.

 

Ngày…

Mình sẽ viết về cái nghề này, mình sẽ viết. Anh tìm đọc hết các tác phẩm văn học viết về nghề này. Anh thấy tất cả chúng mới hời hợt làm sao. Chúng không nói được sự giả dối của nghề, tất nhiên, mà ngay cả sự đúng đắn của nghề cũng không thể nốt. Không nói được sự giả dối thì cũng không nói được sự đúng đắn, lương thiện. Cái nghề thật lạ. Cái nghề mà sự lương thiện của nó chính là sự giả dối của nó. Khi càng tỏ ra lương thiện thì lại càng giả dối. Anh cố tỏ ra lương thiện, anh cố làm cho mọi người của mình hài lòng, từ người này đến người khác, đó là lúc anh cay đắng nghĩ rằng thực ra mình đang dối họ. Có cái nghề nào chán chường và thê thảm như thế không? Cái nghề làm cho anh đau đớn khi còn không biết điều nào là thực sự đúng. Mà có điều nào là thực sự đúng trên đời này?

Một lần, vì muốn thoát khỏi sự chán chường, anh chuẩn bị một cốt truyện xoay quanh nhân vật có lòng tốt trong nghề. Mẫu hình nhân vật sẽ là một đồng nghiệp của anh, một người vô cùng tốt. Tấm lòng anh ta lương thiện, hành động anh ta cao cả, anh ta luôn nghĩ về mọi người, luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong nghề một cách tốt nhất. Nhưng rồi anh chợt nhận ra cuộc sống như thế là cuộc sống quá chật hẹp, quá tẻ nhạt. Hành động tốt ư? Hành động tốt thì có nghĩa gì khi những hành động ấy cứ lặp đi lặp lại. Còn gì vô nghĩa hơn một hành động tốt cứ lặp đi lặp lại. Đến một lúc nào đó ta sẽ thấy rằng lặp đi lặp lại hành động nào đó thì thực là ngu xuẩn. Ngu xuẩn thì có thực sự tốt không?

Hay anh sẽ miêu tả một nhân vật vô tích sự nhưng theo anh nghĩ đó chính là người tốt? Có lần anh nghe câu chuyện về một người rất chán chường trong nghề. Một người không làm gì cả. Anh ta không làm gì cả, hay việc đáng làm cho nghề anh ta lại không làm. Anh ta tuyên bố rằng mình chẳng cần phải làm gì. Một người mà, dù chưa từng gặp mặt, nhưng anh tưởng tượng ngay được một giọng nói chậm, ngập ngừng và gằn nhẹ từng tiếng, với đôi mắt đanh lên luôn chực chờ bộc lộ sự phẫn nộ. Sự tự kiềm chế quá lâu làm cho anh ta không biết cách bộc lộ mình như thế nào. Con người anh ta không phải là của anh ta nữa, nó là khối đúc của những gì đã làm cho anh ta trở nên như thế này. Anh ta là một kẻ chán chường bậc nhất. Rồi đột nhiên anh cảm thấy người ấy thực đáng ngưỡng mộ, ít ra là anh ta hơn hẳn mình. Anh ta không thèm làm việc phải làm, hay ít nhất anh ta cũng làm với thái độ khinh bỉ.

 

Ngày…

Mình phải viết một cái gì đó. Anh thường tự nhủ như thế sau những lần tỉnh dậy khi cơn choáng đã qua. Anh mắc chứng choáng ngất không biết tự bao giờ. Thỉnh thoảng đang làm việc gì đó bỗng dưng tất cả thành đổ sụp xuống, tan rã đi, anh tỉnh lại thì thấy mình đang nằm gục, khi thì trên bãi nước tiểu của chính mình, khi thì dưới chân ghế, hoặc bên vệ đường. Một cơn đau buốt xuyên từ dưới cạnh hàm lên đỉnh đầu, hoặc từ hốc mắt xuyên qua sau ót, như ai đó vặn con ốc vít to xoáy trôn ốc vào đầu anh. Những cơn đau buốt ấy xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, không còn chỉ sau những lần choáng ngất nữa. Một lúc nào đấy bất chợt dòng chảy suy tư trong anh ngừng lại, và cái đau buốt lại xuyên từ cạnh hàm qua óc lên đến đỉnh đầu, hoặc từ hốc mắt xuyên qua phía sau ót.

 

Ngày…

Mình phải viết một tác phẩm về cái nghề này. Có lần anh sẵn sàng ngồi viết, nhưng rốt cục chỉ được mấy câu thơ. Bài thơ ấy giờ đã thất lạc, nhưng anh còn nhớ, cuối bài thơ là hình ảnh đôi mắt. Một đôi mắt to tròn khác thường như hai lỗ đen sâu hoác ngơ ngác nhìn anh từ phía xa, cuối góc phòng. Đôi mắt như con ốc vít vặn xoáy trôn ốc xuyên qua óc anh. Đó có lẽ là lần duy nhất anh có thể viết và đã viết được cái gì đó khả dĩ, dù anh luôn đau đáu nghĩ về việc phải viết một cái gì đó lớn lao hơn, sâu thẳm hơn hay khốc liệt hơn. Một lần khác anh định viết một truyện ngắn, nhưng rồi anh lại viết lan man, rất lan man, về tương lai. Anh chợt nhận ra rằng mình không thể viết về tương lai. Nhất là tương lai của cái nghề này. Đơn giản là vì nó không có tương lai, những hành động lặp đi lặp lại thì không bao giờ có tương lai, cũng không có quá khứ, và hiện tại cũng không. Nó đơn giản là những hành động biểu thị một sự tồn tại trần trụi nào đó. Thế thôi.

 

Ngày…

Một lần khác, anh nghĩ, hay mình sẽ kể về chính mình? Nhưng ngay lập tức anh vô cùng xấu hổ khi nghĩ đến việc mình sẽ miêu tả chính mình. Anh có dám đối diện với mình khi miêu tả về chính mình không? Anh nghĩ là mình không thể. Chỉ nghĩ về việc ấy thôi là đầu anh lại đau buốt lên, từng nơron thần kinh đứt lìa ra trong óc não. Thậm chí có lúc anh nghĩ mình thực sự đã bị loạn thần kinh, rồi anh lại nghĩ mình có lẽ sẽ tìm được một cách thức gì đấy để chữa được căn bệnh này, như đọc các sách tâm lí chẳng hạn. Nhưng anh phì cười, một người loạn thần kinh đang suy nghĩ cách chữa chứng bệnh loạn thần kinh của mình, thì suy nghĩ ấy có phải là loạn thần kinh không? Một kẻ loạn thần kinh thì sẽ viết về nghề của mình như thế nào?

 

Ngày…

Anh không nhớ rõ lí do gì làm anh chọn cái nghề này. Có lẽ lí do ấy đã luôn lẩn tránh sự hồi tưởng của anh. Mỗi lần anh cố nhớ về nó, thì góc bên trong của mắt trái anh lại đau buốt lên, cũng là mũi khoan ấy, nhưng lần này nó quay mũi hướng lên phía trên, lan tỏa khắp đỉnh đầu, rồi lại vòng xuống phía dưới ót và cuối cùng xuyên ra phía trước. Cứ mỗi lần anh cố nhớ thì kí ức lại bỏng buốt lên, rồi não như không hoạt động nữa, như thể từng tế bào bị nung chảy ra. Vậy mà lần nào kể về nghề, anh lại tỏ ra rất hào hứng, anh nói về một lí do cao cả nào đó, mỗi lần là một lí do khác nhau. Và sau khi nói xong, thì anh mờ mắt đi vì luồng tê buốt chạy qua não.

 

Ngày….

Anh bắt đầu xoay sở để có một giải pháp trị liệu cho những cơn đau buốt của mình. Anh thử cố gắng căng các giác quan của mình ra, căng sự nhạy cảm âm thanh, căng sự nhạy cảm của mắt nhìn, căng sự nhạy cảm của cơ thể. Kéo giãn nó ra tối đa, chừng như thể các nơron thần kinh tự trương nở ra hết mức, các cảm nhận của óc não tiêu tan đi, không còn cảm xúc, không còn suy nghĩ, chỉ còn hoạt động thuần túy cơ học của các tế bào. Giải pháp này có vẻ khá khả thi. Cơn đau buốt bắt đầu rã ra, ngấm khắp cơ thể, trì nặng các tế bào. Rồi chúng chìm dần đi, tan dần đi. Sau mỗi lần như thế anh kiệt sức, đổ gục xuống, chìm trong một trạng thái trống rỗng và mệt mỏi.

 

Ngày…. tiếp

Giới hạn của sự chấp nhận hoàn cảnh là gì? Có lần anh bất chợt đặt câu hỏi đó cho mình khi nghĩ về mình. Phải chăng ta vẫn còn chấp nhận hoàn cảnh vì đôi khi trong giây lát nào đó ta cảm thấy mình vẫn còn bình yên trong thể xác này? Hay giữa những cơn đau buốt kéo dài triền miên, một đôi lúc nào đó, khi các tế bào thần kinh đã rỗng toác, tan chảy ra, hay đơn giản là chúng tê dại đi, ta cảm thấy trong mình một sự trống không tận cùng, ngay khoảnh khắc ấy, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa, kể cả hoàn cảnh, kể cả sự tê dại này. Tất cả đều không là gì cả. Lúc ấy, không còn gì là sự chấp nhận nữa.

 

Ngày….

Nhưng rồi những cơn đau buốt lại bùng lên dữ dội hơn. Giải pháp tự làm đầu óc mình tê dại không còn tác dụng với nó nữa. Anh thử tìm một giải pháp khác. Một lần anh thử va đầu mình thật mạnh vào cạnh tường. Một cảm giác bùng bật choáng mạnh nơi nửa phần đầu phía trái đúng lúc mũi khoan tê buốt đi về hướng đó. Anh choáng váng ngồi xuống ôm đầu và cảm nhận cơn đau buốt chỉ còn là những cảm giác nhói lên từng vết trong một cơn đau chấn động đang loang dần mạnh mẽ khắp cơ thể. Cánh này tỏ ra hiệu nghiệm hơn hẳn. Đầu anh như rã ra, xương sọ chấn động và tê đi trong từng vết nứt toác của nó.

 

Ngày….

Anh đang nhìn thẳng vào những đôi mắt to đen sâu hoác và nói. Anh phải nói say sưa hào hứng về những điều mà trong thâm tâm anh hiểu rõ hơn ai hết đó là liều thuốc độc. Nhưng anh cũng hiểu rất rõ rằng mình không thể làm khác. Mình phải nói như thế, với điệu bộ như thế, với sự nhấn nhá như thế, với ánh mắt như thế. Nhưng rồi anh cảm thấy da mặt mình tê sần đi. Cảm giác gắng gượng hết mức tuột ra theo lớp da mặt chảy dài xuống dưới cằm, nhầy nhụa và quánh lại. Đột nhiên anh nói một câu gì đó ngoài dự tính và cười sằng sặc. Anh phải cố gắng cúi gằm mặt xuống để che đi những lớp cuộn trên da của một điệu cười mà anh biết là nó rất dễ sợ. Anh cảm thấy lớp da mặt bắt đầu bệu ra. Anh cố gắng giữ cho môi mình thôi trễ ra theo điệu cười. Nhưng anh không thể dừng được nữa, những lớp da chùn xuống và đang tuột dần tuột dần khỏi ngạnh xương hàm. Anh đột ngột chạy ra ngoài, đầu óc tê dại đi trong khi tiếng cười vẫn còn vang vọng khắp căn phòng.

 

An Thảo

 

Advertisements

Read Full Post »

LỜI NÓI ĐẦU

 

 Về cơ bản, đổi mới nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay là đổi mới những quy ước và chiến lược diễn giải văn học đang tồn tại. Trong góc nhìn này, nghiên cứu tiếp nhận có vai trò quan trọng, vì nó là sự ý thức về lịch sử tác động của các quy ước và chiến lược diễn giải đang chi phối và phổ biến, qua đó, đặt cơ sở cho việc chất vấn và đổi mới chúng từ góc nhìn hiện tại. Nghiên cứu tiếp nhận hiểu từ góc độ này không chỉ là việc tái hiện những hiện tượng tiếp nhận trong lịch sử văn học, mà còn là sự bóc tách và phân tích những điều kiện đã kiến tạo nên chủ thể đọc và các chiến lược diễn giải được sử dụng trong thực hành đọc. Qua đó, nó làm hiện ra những sự điều kiện hóa đối với sự đọc, đồng thời cho phép nhìn sự đọc trong một mạng lưới phức hợp của các thực hành diễn ngôn trong đời sống xã hội.

Từ nhận thức trên, tôi chọn hướng nghiên cứu tiếp nhận thể hiện trong những khái niệm ở nhan đề sách: văn học, người đọc, định chế. Theo tôi, các định chế xã hội kiến tạo nên người đọc và sự đọc của họ trong đời sống văn học; mặt khác, người đọc luôn giằng co giữa chiều văn học và chiều định chế xã hội định hình ngữ cảnh đọc của họ. Hướng này hình thành trong quá trình làm luận văn tiến sĩ, khi tôi triển khai một gợi ý của Hans Robert Jauss về mối liên hệ giữa khái niệm “chân trời” (horizon) trong thông diễn học và khái niệm “các trò chơi ngôn ngữ” (language-games) trong triết học Wittgenstein hậu kì. Nhưng chủ yếu nó được củng cố bằng trải nghiệm của cá nhân tôi về thực tiễn tiếp nhận văn học ở Việt Nam, một thực tiễn định hình từ những chuyển đổi sâu sắc của văn hóa, xã hội, gây ra những vết nứt rạn, sự chồng lấn và áp lực định chế trong việc sử dụng các quy ước và chiến lược diễn giải.

Tôi tìm thấy sự hỗ trợ cho hướng nghiên cứu của mình từ nền tảng thông diễn học, triết học ngôn ngữ và lí thuyết tiếp nhận đương đại. Sự trở về với Hans-Georg Gadamer trong đường hướng của Hans Robert Jauss cho phép tôi nhìn sâu hơn vào mối quan hệ đối thoại giữa người đọc và văn bản, từ đó thấy rõ được lịch sử tác động đối với mối quan hệ này qua các trường hợp tiếp nhận cụ thể; ý niệm về “trò chơi ngôn ngữ” của Ludwig Wittgenstein cung cấp cho tôi phương pháp để bóc tách mối quan hệ ấy. Trên bình diện lí thuyết tiếp nhận, từ đường hướng Post-marxism, tôi tiếp thu quan niệm của Tony Bennett về vai trò của điều kiện vật chất và định chế xã hội đối với sự đọc, và quan niệm của Michel de Certeau về cách thức người đọc đại chúng dùng chiến thuật để tồn tại trong không gian của định chế.

Quyển sách này tập hợp một số bài viết thể hiện hướng nghiên cứu tiếp nhận trên của tôi. Phần một của sách là những bài giới thiệu lí thuyết tiếp nhận đương đại. Trong bài đầu tiên, Chuyển hướng văn hóa của nghiên cứu tiếp nhận: khái lược và gợi mở, tôi khái lược những chuyển hướng trong lịch sử lí thuyết tiếp nhận, từ đầu thế kỷ XX đến những năm 90, ở góc độ cách đặt vấn đề của mỗi sự chuyển hướng, qua đó nhấn mạnh đến sự chuyển hướng văn hóa và gợi ra những hướng nghiên cứu tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ hướng chuyển này. Bài Một số khuynh hướng mới của nghiên cứu tiếp nhận đầu thế kỷ XXI giới thiệu ba khuynh hướng nổi bật của lí thuyết tiếp nhận trong các nghiên cứu Anh, Mỹ mấy năm gần đây. Hai bài Một số điểm chính trong lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang IserNhững điểm chính trong hành trình lí thuyết của Hans Robert Jauss bao quát những nét chính và khái niệm chính do Iser và Jauss đề xuất. Trong bài cuối của phần này, Sự kế thừa và vận dụng của Hans Robert Jauss về quan niệm “lịch sử tác động”, tôi làm rõ sự rẽ hướng của Jauss so với Gadamer trong quan niệm về lịch sử tác động.

Nhìn chung những giới thiệu này chỉ khái lược hay điểm qua một số khuynh hướng chính của lí thuyết tiếp nhận từ đầu thế kỉ XX đến nay. Còn đó các nhánh rẽ cần giới thiệu kĩ hơn, như lí thuyết tiếp nhận từ góc độ phân tâm học, nữ quyền luận, hay nhánh mới gần đây liên quan đến chiều hướng tôn giáo của sự tiếp nhận,  tôi hi vọng sẽ có dịp trình bày chúng trong thời gian tới.

Phần hai của sách là những bài nghiên cứu về lí thuyết tiếp nhận và thực tiễn tiếp nhận văn học ở Việt Nam. Bài Tiếp cận lịch sử tiếp nhận từ góc độ khái niệm “chân trời” và “trò chơi ngôn ngữ”, rút ra từ luận văn tiến sĩ, có tính chất định hướng lí thuyết cho những nghiên cứu về sau của tôi. Trong bài này, tôi tìm thấy một gợi ý của Hans Robert Jauss có thể trả lời cho những băn khoăn của tôi về phương pháp nghiên cứu thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam đương đại. Trong bốn bài Xung đột và biến đổi quy chuẩn trong phê bình văn học (nhìn lại cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế về Truyện Kiều), Trò chơi ngôn ngữ và phê bình văn học: trường hợp phê bình thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Định chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc TưÝ hệ và diễn giải: trường hợp tiếp nhận bài thơ Phá đường của Tố Hữu, tôi sử dụng phương pháp trò chơi ngôn ngữ để bóc tách các chiến lược diễn giải của chủ thể tiếp nhận và đặt nó trong ngữ cảnh xã hội với các quy định diễn ngôn và liên văn bản.

Hai bài Kí ức và sự hòa giải: hiện tượng Nhật ký Đặng Thùy Trâm trong sự kiến tạo của truyền thông đại chúngSự đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình: trường hợp các fan page trên Facebook thể hiện mối quan tâm của tôi đối với vai trò của truyền thông đại chúng, một hình thức định chế xã hội đương đại đang phát triển mạnh mẽ, trong việc định hình ý nghĩa văn bản văn học và kiến tạo không gian tiếp nhận. Riêng bài Sự đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình: trường hợp các fan page trên facebook đề cập đến tầng lớp người đọc đại chúng, một biểu hiện đặc thù của đời sống văn học đương đại.

Trong bài Tính đại chúng của sự đọc và huyễn tưởng tinh thần của văn học trong một số tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, tôi vận dụng quan niệm về fantasy theo cơ chế vô thức trong các tác phẩm đại chúng để phân tích tác động thẩm mỹ của một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Nhật Ánh. Trong bài Phương pháp trò chơi ngôn ngữ trong nghiên cứu lịch sử tiếp nhận – đặt ở cuối sách, tôi trình bày phương pháp nghiên cứu tiếp nhận theo gợi ý của Hans Robert Jauss và đặt nó trong tương quan với các lí thuyết tiếp nhận đương đại.

Phần ba của sách là bài dịch tiểu luận tiêu biểu của Wolfgang Iser: Tiến trình đọc: một tiếp cận hiện tượng học.

Hầu hết những bài trong phần một và hai đã báo cáo tại các hội thảo, công bố trên các tạp chí hoặc in chung trong sách, khi được in lại ở đây đã có sự chỉnh sửa, chủ yếu là nhằm nhất quán chú thích và tài liệu tham khảo. Một số trường hợp chỉnh sửa và bổ sung sẽ được chú thích trong từng bài. Ngoài ra, do một số vấn đề lí thuyết được đề cập đến từ góc nhìn tương đối nhất quán, nên có những bài khó tránh khỏi đôi chỗ trùng lặp. Cuối cùng, trật tự các bài trong mỗi phần được sắp xếp theo nội dung, không theo thời gian.

Cuối sách, tôi cũng bước đầu soạn một thư mục các tác giả và công trình nghiên cứu tiếp nhận, hi vọng giúp ích cho sinh viên và các nhà nghiên cứu.

Trên con đường học tập và suy nghĩ của mình, tôi chịu ơn những người thầy đã hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và cho tôi những lời khuyên quý giá. Tôi biết ơn thầy Bùi Văn Nam Sơn, nếu không được học tập và làm việc chung với thầy, tôi sẽ không đủ nền tảng triết học, khái niệm lí thuyết, cũng như các chuẩn mực tư duy để suy nghĩ về những vấn đề lí thuyết văn học. Tôi biết ơn thầy Huỳnh Văn Vân, thầy Huỳnh Như Phương, thầy Hoàng Dũng, những người thầy mà tôi đã học hỏi được niềm đam mê, sự chuẩn mực và những thao tác nghiên cứu khoa học. Tôi cảm ơn anh Đinh Hồng Phúc, với những chỉ dẫn thiết thực, cụ thể và bài học về sự nghiêm cẩn trong tư duy, đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều so với những gì mà trường học có thể dạy cho tôi. Tôi đặc biệt cảm ơn cô Lê Thu Yến, người luôn quan tâm và động viên tôi trên hành trình học tập và cuộc đời. Cuối cùng, tôi cảm ơn đồng nghiệp Nguyễn Thị Minh đã đọc kĩ lưỡng và góp ý bản thảo.

Và còn rất nhiều thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và học trò, những người đã cho tôi lời gợi mở, động viên, góp ý và giúp tôi rất nhiều trên con đường đã qua, tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến tất cả.

 

Hoàng Phong Tuấn

Read Full Post »

“Mỗi người đọc nhóm hợp các chi tiết vào cho chủ đề mà họ nghĩ là quan trọng, và nếu người nào chọn nhấn mạnh vào một chủ đề có độ hội tụ cao, thì nó chắc chắn là cái gì đó hệ trọng đối với người ấy. Tuy vậy, hầu hết các nhà phê bình chuyên nghiệp đều cả quyết với chúng ta rằng có sự đọc đúng và sai, tốt hơn hoặc kém hơn, và họ cương quyết, thường với thái độ rất mạnh mẽ, rằng những chủ đề và những thực thể văn học khác mà họ khám phá ra là có một giá trị “khách quan”. Chắc chắn, những việc đọc tác phẩm văn học theo sự hợp nhất của họ có thể được đối chiếu theo cách thức định lượng cũng như cách thức xem họ đã cảm xúc như thế nào khi họ đem các chi tiết của vở kịch hội tụ xung quanh một số chủ đề chính. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là ta so sánh những việc đọc bằng cách mở rộng đến điều ta cảm thấy khi ta chia sẻ chúng. Tiếp đến, có một câu hỏi quan trọng ở đây là, liệu những sự hợp nhất văn học là “chủ quan” hay “khách quan”, hay đúng hơn, các phần chủ quan và phần khách quan của việc đọc tương quan với nhau như thế nào. Tôi nghĩ, phân tích của tôi về bốn thuật ngữ – hợp nhất, đồng nhất, văn bản, bản ngã – sẽ giúp trả lời câu hỏi đó”.Norman Holland

Read Full Post »

Bạn phải luôn bảo vệ não của mình.

Những âm thanh như tiếng khóc trẻ con, tiếng xe máy, tiếng còi xe cứu thương… là những thứ có thể làm hại não của bạn. Bạn không những có thể giật mình và dòng chảy suy nghĩ nào đó đang tuôn trào trong bạn đột nhiên tắt lịm, mà bạn còn có thể dễ bị phân tâm và chuyển hướng suy nghĩ của mình, ví dụ như bạn sẽ ngừng suy nghĩ và tự hỏi, tại sao trẻ con lại khóc to còn người lớn thì không, tại sao xe máy lại trở thành phương tiện giao thông dạo phố của thanh niên nam nữ yêu nhau chiều thứ bảy, hay người hôn mê thì có nghe tiếng trẻ con khóc hay không…v.v…

Tiếng thì thào hay tiếng thở của ai đó cũng có thể làm cho bạn bị điếc. Tai bạn tê dại, mắt bạn mờ đi và hai tay run rẩy khi nghe thấy tiếng thì thào của ai đó. Bạn cần biết rằng não bạn càng dễ bó chặt lại, hoặc giãn nở hết mức, hay đơn giản là nó càng dễ bị tê đi khi nghe những âm thanh càng nhẹ nhàng.

Ai đó xuất hiện trước mặt bạn cũng có thể làm não bạn mềm nhũn đi, các nơron mủn ra. Mà nếu người đó cất lên tiếng nói thì không những não mà ngực bạn cũng có thể bị co thắt lại, khó thở, ngột ngạt. Và bạn có thể bị chết. Ngực co thắt là dấu hiệu nguy hiểm và hầu như không liên quan gì mấy đến tim. Hay tim chỉ làm động tác cuối cùng của nó thôi. Ngực co thắt là cơn chấn động của não làm cho các dây thần kinh tê liệt đi, tim không còn đập nữa.

Đồ vật cũng có thể nguy hiểm đến não bạn. Một cuốn sách nào đó sẽ như một mũi khoan xuyên qua não bạn, rít lên, siết các bánh răng và làm chấn động sọ của bạn. Tôi có lần thấy một người đàn ông nhìn chiếc ghế và khóc, khuôn mặt hoảng hốt tuột bậc, đôi mắt đau đớn u ám, như muôn ngàn bàn tay bóp xoắn lấy não của anh ta. Có lần khi nhìn cái góc bàn mòn tưa ra những gỗ tôi đột ngột xây sẩm mặt mày. Mắt tôi hoa lên, chân loạng choạng, hai tay bấu vào gờ tường và suýt ngất. Sau này tôi mới biết triệu chứng xây sẩm ấy là liên quan đến não. Đại khái não tiết ra một chất gì đó làm các dây thần kinh giác quan bị tê liệt.

Bạn cũng cần cẩn thận hơn với các hoạt động của mình. Khi ngủ chẳng hạn. Những giấc mơ của bạn thực ra là liên quan đến não. Có những giấc mơ có thể làm bạn nghẹt thở. Có lần tôi mơ thấy mình ngồi trên một cái bàn, xung quanh là cánh đồng ngập bùn. Cái bàn từ từ lún xuống, mặt bàn chao đảo. Tôi hoảng hốt giữ thăng bằng nhưng cũng không giữ được, bàn từ từ chìm xuống. Bùn ngập đến chân tôi, chân tôi tê đi, người dần cứng đờ. Ngực tôi lạnh buốt. Khi tôi choàng tỉnh dậy thì thấy mồ hôi mình túa ra như tắm. Chân tay lạnh ngắt.

Suy nghĩ cũng gây nguy hại cho não. Những luồng suy nghĩ khi thì phả hơi lạnh buốt vào não, khi thì như con đỉa dai dẳng bám chặt vào não. Những hình ảnh kí ức như hình ảnh một khuôn mặt nào đó có thể lây lan như nấm mốc, não bạn sẽ dần dần mủn ra rồi thối đi.

Và cuối cùng, bạn cần cẩn thận với những con mối.

An Thảo

Read Full Post »