Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Hai, 2016

MẶT NẠ

 

Ngày….

Rồi mình sẽ viết một quyển tiểu thuyết về cái nghề này.

Anh nghĩ như thế mỗi lần cảm thấy mình không qua nổi, cảm thấy mình quá chán chường, cảm thấy những mảnh vỡ găm nát lồng ngực đã rệu rã. Thỉnh thoảng trong lúc nào đó khi cơn nhói đau buốt lên trong óc, anh lại tự hỏi tại sao mình lại rơi vào tình trạng này nhỉ, tình trạng mà có nhà văn đã từng miêu tả trong một tác phẩm nổi tiếng viết về bi kịch của con người không thể chịu nổi chính mình.

 

Ngày…

Nỗi đau đớn là gì? Phải chăng là lúc ta cảm nhận được bản thân chỉ là những mảnh vụn rệu rã đang cố dính dáng vào nhau trong khoảnh khắc hiện tại. Mảnh vụn này cố bám víu lấy mảnh kia, như sợ chính nó trôi tuột vào hư vô. Anh nhiều lần đã cảm nhận điều ấy. Như một lần anh đi lang thang ngoài đường, đau buốt lên trong óc. Cảm thấy cái nhìn này không phải của mình, lắng nghe này không phải của mình, đôi tay này không phải của mình, tất cả là trống không. Nhưng anh lại cảm thấy mình đang đi. Sao lại có thể như thế.

 

Ngày…

Rồi mình sẽ viết một quyển tiểu thuyết về cái nghề này. Một lần, khi kể với người bạn về những việc đang làm trong nỗi chán chường, anh đã nghĩ thế. Thú thực lúc ấy, anh cảm thấy căm ghét cái nghề này, cái nghề làm cho con người anh phân ra làm hai mảnh, một mảnh đóng khung anh trong cái hộp bằng thiếc. Một mảnh cháy rực lên muốn thiêu đốt tất cả. Anh không được sống là mình vì cái nghề này, nhưng anh phải sống, vì cái nửa bên kia, cái nửa cháy lên ấy, nghịch lí thay. Có một lúc nào đó anh chợt nhận ra rằng mình không được chuẩn bị cho cái nghề này. Cần một người xứng đáng hơn anh ở vị trí của anh, đó không phải là anh. Rồi anh, đứng ở nửa bên kia, bên ngoài cái hộp, tự nhìn lại nửa bên này. Anh thấy mình co ro đi đi lại lại trong cái hộp thiếc ấy. Nó thật chật chội. Anh không biết mình đang làm gì. Nhưng anh cảm thấy mình không thuộc về cái nghề này.

 

Ngày…

Mình sẽ viết về cái nghề này, mình sẽ viết. Anh tìm đọc hết các tác phẩm văn học viết về nghề này. Anh thấy tất cả chúng mới hời hợt làm sao. Chúng không nói được sự giả dối của nghề, tất nhiên, mà ngay cả sự đúng đắn của nghề cũng không thể nốt. Không nói được sự giả dối thì cũng không nói được sự đúng đắn, lương thiện. Cái nghề thật lạ. Cái nghề mà sự lương thiện của nó chính là sự giả dối của nó. Khi càng tỏ ra lương thiện thì lại càng giả dối. Anh cố tỏ ra lương thiện, anh cố làm cho mọi người của mình hài lòng, từ người này đến người khác, đó là lúc anh cay đắng nghĩ rằng thực ra mình đang dối họ. Có cái nghề nào chán chường và thê thảm như thế không? Cái nghề làm cho anh đau đớn khi còn không biết điều nào là thực sự đúng. Mà có điều nào là thực sự đúng trên đời này?

Một lần, vì muốn thoát khỏi sự chán chường, anh chuẩn bị một cốt truyện xoay quanh nhân vật có lòng tốt trong nghề. Mẫu hình nhân vật sẽ là một đồng nghiệp của anh, một người vô cùng tốt. Tấm lòng anh ta lương thiện, hành động anh ta cao cả, anh ta luôn nghĩ về mọi người, luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong nghề một cách tốt nhất. Nhưng rồi anh chợt nhận ra cuộc sống như thế là cuộc sống quá chật hẹp, quá tẻ nhạt. Hành động tốt ư? Hành động tốt thì có nghĩa gì khi những hành động ấy cứ lặp đi lặp lại. Còn gì vô nghĩa hơn một hành động tốt cứ lặp đi lặp lại. Đến một lúc nào đó ta sẽ thấy rằng lặp đi lặp lại hành động nào đó thì thực là ngu xuẩn. Ngu xuẩn thì có thực sự tốt không?

Hay anh sẽ miêu tả một nhân vật vô tích sự nhưng theo anh nghĩ đó chính là người tốt? Có lần anh nghe câu chuyện về một người rất chán chường trong nghề. Một người không làm gì cả. Anh ta không làm gì cả, hay việc đáng làm cho nghề anh ta lại không làm. Anh ta tuyên bố rằng mình chẳng cần phải làm gì. Một người mà, dù chưa từng gặp mặt, nhưng anh tưởng tượng ngay được một giọng nói chậm, ngập ngừng và gằn nhẹ từng tiếng, với đôi mắt đanh lên luôn chực chờ bộc lộ sự phẫn nộ. Sự tự kiềm chế quá lâu làm cho anh ta không biết cách bộc lộ mình như thế nào. Con người anh ta không phải là của anh ta nữa, nó là khối đúc của những gì đã làm cho anh ta trở nên như thế này. Anh ta là một kẻ chán chường bậc nhất. Rồi đột nhiên anh cảm thấy người ấy thực đáng ngưỡng mộ, ít ra là anh ta hơn hẳn mình. Anh ta không thèm làm việc phải làm, hay ít nhất anh ta cũng làm với thái độ khinh bỉ.

 

Ngày…

Mình phải viết một cái gì đó. Anh thường tự nhủ như thế sau những lần tỉnh dậy khi cơn choáng đã qua. Anh mắc chứng choáng ngất không biết tự bao giờ. Thỉnh thoảng đang làm việc gì đó bỗng dưng tất cả thành đổ sụp xuống, tan rã đi, anh tỉnh lại thì thấy mình đang nằm gục, khi thì trên bãi nước tiểu của chính mình, khi thì dưới chân ghế, hoặc bên vệ đường. Một cơn đau buốt xuyên từ dưới cạnh hàm lên đỉnh đầu, hoặc từ hốc mắt xuyên qua sau ót, như ai đó vặn con ốc vít to xoáy trôn ốc vào đầu anh. Những cơn đau buốt ấy xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, không còn chỉ sau những lần choáng ngất nữa. Một lúc nào đấy bất chợt dòng chảy suy tư trong anh ngừng lại, và cái đau buốt lại xuyên từ cạnh hàm qua óc lên đến đỉnh đầu, hoặc từ hốc mắt xuyên qua phía sau ót.

 

Ngày…

Mình phải viết một tác phẩm về cái nghề này. Có lần anh sẵn sàng ngồi viết, nhưng rốt cục chỉ được mấy câu thơ. Bài thơ ấy giờ đã thất lạc, nhưng anh còn nhớ, cuối bài thơ là hình ảnh đôi mắt. Một đôi mắt to tròn khác thường như hai lỗ đen sâu hoác ngơ ngác nhìn anh từ phía xa, cuối góc phòng. Đôi mắt như con ốc vít vặn xoáy trôn ốc xuyên qua óc anh. Đó có lẽ là lần duy nhất anh có thể viết và đã viết được cái gì đó khả dĩ, dù anh luôn đau đáu nghĩ về việc phải viết một cái gì đó lớn lao hơn, sâu thẳm hơn hay khốc liệt hơn. Một lần khác anh định viết một truyện ngắn, nhưng rồi anh lại viết lan man, rất lan man, về tương lai. Anh chợt nhận ra rằng mình không thể viết về tương lai. Nhất là tương lai của cái nghề này. Đơn giản là vì nó không có tương lai, những hành động lặp đi lặp lại thì không bao giờ có tương lai, cũng không có quá khứ, và hiện tại cũng không. Nó đơn giản là những hành động biểu thị một sự tồn tại trần trụi nào đó. Thế thôi.

 

Ngày…

Một lần khác, anh nghĩ, hay mình sẽ kể về chính mình? Nhưng ngay lập tức anh vô cùng xấu hổ khi nghĩ đến việc mình sẽ miêu tả chính mình. Anh có dám đối diện với mình khi miêu tả về chính mình không? Anh nghĩ là mình không thể. Chỉ nghĩ về việc ấy thôi là đầu anh lại đau buốt lên, từng nơron thần kinh đứt lìa ra trong óc não. Thậm chí có lúc anh nghĩ mình thực sự đã bị loạn thần kinh, rồi anh lại nghĩ mình có lẽ sẽ tìm được một cách thức gì đấy để chữa được căn bệnh này, như đọc các sách tâm lí chẳng hạn. Nhưng anh phì cười, một người loạn thần kinh đang suy nghĩ cách chữa chứng bệnh loạn thần kinh của mình, thì suy nghĩ ấy có phải là loạn thần kinh không? Một kẻ loạn thần kinh thì sẽ viết về nghề của mình như thế nào?

 

Ngày…

Anh không nhớ rõ lí do gì làm anh chọn cái nghề này. Có lẽ lí do ấy đã luôn lẩn tránh sự hồi tưởng của anh. Mỗi lần anh cố nhớ về nó, thì góc bên trong của mắt trái anh lại đau buốt lên, cũng là mũi khoan ấy, nhưng lần này nó quay mũi hướng lên phía trên, lan tỏa khắp đỉnh đầu, rồi lại vòng xuống phía dưới ót và cuối cùng xuyên ra phía trước. Cứ mỗi lần anh cố nhớ thì kí ức lại bỏng buốt lên, rồi não như không hoạt động nữa, như thể từng tế bào bị nung chảy ra. Vậy mà lần nào kể về nghề, anh lại tỏ ra rất hào hứng, anh nói về một lí do cao cả nào đó, mỗi lần là một lí do khác nhau. Và sau khi nói xong, thì anh mờ mắt đi vì luồng tê buốt chạy qua não.

 

Ngày….

Anh bắt đầu xoay sở để có một giải pháp trị liệu cho những cơn đau buốt của mình. Anh thử cố gắng căng các giác quan của mình ra, căng sự nhạy cảm âm thanh, căng sự nhạy cảm của mắt nhìn, căng sự nhạy cảm của cơ thể. Kéo giãn nó ra tối đa, chừng như thể các nơron thần kinh tự trương nở ra hết mức, các cảm nhận của óc não tiêu tan đi, không còn cảm xúc, không còn suy nghĩ, chỉ còn hoạt động thuần túy cơ học của các tế bào. Giải pháp này có vẻ khá khả thi. Cơn đau buốt bắt đầu rã ra, ngấm khắp cơ thể, trì nặng các tế bào. Rồi chúng chìm dần đi, tan dần đi. Sau mỗi lần như thế anh kiệt sức, đổ gục xuống, chìm trong một trạng thái trống rỗng và mệt mỏi.

 

Ngày…. tiếp

Giới hạn của sự chấp nhận hoàn cảnh là gì? Có lần anh bất chợt đặt câu hỏi đó cho mình khi nghĩ về mình. Phải chăng ta vẫn còn chấp nhận hoàn cảnh vì đôi khi trong giây lát nào đó ta cảm thấy mình vẫn còn bình yên trong thể xác này? Hay giữa những cơn đau buốt kéo dài triền miên, một đôi lúc nào đó, khi các tế bào thần kinh đã rỗng toác, tan chảy ra, hay đơn giản là chúng tê dại đi, ta cảm thấy trong mình một sự trống không tận cùng, ngay khoảnh khắc ấy, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa, kể cả hoàn cảnh, kể cả sự tê dại này. Tất cả đều không là gì cả. Lúc ấy, không còn gì là sự chấp nhận nữa.

 

Ngày….

Nhưng rồi những cơn đau buốt lại bùng lên dữ dội hơn. Giải pháp tự làm đầu óc mình tê dại không còn tác dụng với nó nữa. Anh thử tìm một giải pháp khác. Một lần anh thử va đầu mình thật mạnh vào cạnh tường. Một cảm giác bùng bật choáng mạnh nơi nửa phần đầu phía trái đúng lúc mũi khoan tê buốt đi về hướng đó. Anh choáng váng ngồi xuống ôm đầu và cảm nhận cơn đau buốt chỉ còn là những cảm giác nhói lên từng vết trong một cơn đau chấn động đang loang dần mạnh mẽ khắp cơ thể. Cánh này tỏ ra hiệu nghiệm hơn hẳn. Đầu anh như rã ra, xương sọ chấn động và tê đi trong từng vết nứt toác của nó.

 

Ngày….

Anh đang nhìn thẳng vào những đôi mắt to đen sâu hoác và nói. Anh phải nói say sưa hào hứng về những điều mà trong thâm tâm anh hiểu rõ hơn ai hết đó là liều thuốc độc. Nhưng anh cũng hiểu rất rõ rằng mình không thể làm khác. Mình phải nói như thế, với điệu bộ như thế, với sự nhấn nhá như thế, với ánh mắt như thế. Nhưng rồi anh cảm thấy da mặt mình tê sần đi. Cảm giác gắng gượng hết mức tuột ra theo lớp da mặt chảy dài xuống dưới cằm, nhầy nhụa và quánh lại. Đột nhiên anh nói một câu gì đó ngoài dự tính và cười sằng sặc. Anh phải cố gắng cúi gằm mặt xuống để che đi những lớp cuộn trên da của một điệu cười mà anh biết là nó rất dễ sợ. Anh cảm thấy lớp da mặt bắt đầu bệu ra. Anh cố gắng giữ cho môi mình thôi trễ ra theo điệu cười. Nhưng anh không thể dừng được nữa, những lớp da chùn xuống và đang tuột dần tuột dần khỏi ngạnh xương hàm. Anh đột ngột chạy ra ngoài, đầu óc tê dại đi trong khi tiếng cười vẫn còn vang vọng khắp căn phòng.

 

An Thảo

 

Advertisements

Read Full Post »

LỜI NÓI ĐẦU

 

 Về cơ bản, đổi mới nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay là đổi mới những quy ước và chiến lược diễn giải văn học đang tồn tại. Trong góc nhìn này, nghiên cứu tiếp nhận có vai trò quan trọng, vì nó là sự ý thức về lịch sử tác động của các quy ước và chiến lược diễn giải đang chi phối và phổ biến, qua đó, đặt cơ sở cho việc chất vấn và đổi mới chúng từ góc nhìn hiện tại. Nghiên cứu tiếp nhận hiểu từ góc độ này không chỉ là việc tái hiện những hiện tượng tiếp nhận trong lịch sử văn học, mà còn là sự bóc tách và phân tích những điều kiện đã kiến tạo nên chủ thể đọc và các chiến lược diễn giải được sử dụng trong thực hành đọc. Qua đó, nó làm hiện ra những sự điều kiện hóa đối với sự đọc, đồng thời cho phép nhìn sự đọc trong một mạng lưới phức hợp của các thực hành diễn ngôn trong đời sống xã hội.

Từ nhận thức trên, tôi chọn hướng nghiên cứu tiếp nhận thể hiện trong những khái niệm ở nhan đề sách: văn học, người đọc, định chế. Theo tôi, các định chế xã hội kiến tạo nên người đọc và sự đọc của họ trong đời sống văn học; mặt khác, người đọc luôn giằng co giữa chiều văn học và chiều định chế xã hội định hình ngữ cảnh đọc của họ. Hướng này hình thành trong quá trình làm luận văn tiến sĩ, khi tôi triển khai một gợi ý của Hans Robert Jauss về mối liên hệ giữa khái niệm “chân trời” (horizon) trong thông diễn học và khái niệm “các trò chơi ngôn ngữ” (language-games) trong triết học Wittgenstein hậu kì. Nhưng chủ yếu nó được củng cố bằng trải nghiệm của cá nhân tôi về thực tiễn tiếp nhận văn học ở Việt Nam, một thực tiễn định hình từ những chuyển đổi sâu sắc của văn hóa, xã hội, gây ra những vết nứt rạn, sự chồng lấn và áp lực định chế trong việc sử dụng các quy ước và chiến lược diễn giải.

Tôi tìm thấy sự hỗ trợ cho hướng nghiên cứu của mình từ nền tảng thông diễn học, triết học ngôn ngữ và lí thuyết tiếp nhận đương đại. Sự trở về với Hans-Georg Gadamer trong đường hướng của Hans Robert Jauss cho phép tôi nhìn sâu hơn vào mối quan hệ đối thoại giữa người đọc và văn bản, từ đó thấy rõ được lịch sử tác động đối với mối quan hệ này qua các trường hợp tiếp nhận cụ thể; ý niệm về “trò chơi ngôn ngữ” của Ludwig Wittgenstein cung cấp cho tôi phương pháp để bóc tách mối quan hệ ấy. Trên bình diện lí thuyết tiếp nhận, từ đường hướng Post-marxism, tôi tiếp thu quan niệm của Tony Bennett về vai trò của điều kiện vật chất và định chế xã hội đối với sự đọc, và quan niệm của Michel de Certeau về cách thức người đọc đại chúng dùng chiến thuật để tồn tại trong không gian của định chế.

Quyển sách này tập hợp một số bài viết thể hiện hướng nghiên cứu tiếp nhận trên của tôi. Phần một của sách là những bài giới thiệu lí thuyết tiếp nhận đương đại. Trong bài đầu tiên, Chuyển hướng văn hóa của nghiên cứu tiếp nhận: khái lược và gợi mở, tôi khái lược những chuyển hướng trong lịch sử lí thuyết tiếp nhận, từ đầu thế kỷ XX đến những năm 90, ở góc độ cách đặt vấn đề của mỗi sự chuyển hướng, qua đó nhấn mạnh đến sự chuyển hướng văn hóa và gợi ra những hướng nghiên cứu tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ hướng chuyển này. Bài Một số khuynh hướng mới của nghiên cứu tiếp nhận đầu thế kỷ XXI giới thiệu ba khuynh hướng nổi bật của lí thuyết tiếp nhận trong các nghiên cứu Anh, Mỹ mấy năm gần đây. Hai bài Một số điểm chính trong lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang IserNhững điểm chính trong hành trình lí thuyết của Hans Robert Jauss bao quát những nét chính và khái niệm chính do Iser và Jauss đề xuất. Trong bài cuối của phần này, Sự kế thừa và vận dụng của Hans Robert Jauss về quan niệm “lịch sử tác động”, tôi làm rõ sự rẽ hướng của Jauss so với Gadamer trong quan niệm về lịch sử tác động.

Nhìn chung những giới thiệu này chỉ khái lược hay điểm qua một số khuynh hướng chính của lí thuyết tiếp nhận từ đầu thế kỉ XX đến nay. Còn đó các nhánh rẽ cần giới thiệu kĩ hơn, như lí thuyết tiếp nhận từ góc độ phân tâm học, nữ quyền luận, hay nhánh mới gần đây liên quan đến chiều hướng tôn giáo của sự tiếp nhận,  tôi hi vọng sẽ có dịp trình bày chúng trong thời gian tới.

Phần hai của sách là những bài nghiên cứu về lí thuyết tiếp nhận và thực tiễn tiếp nhận văn học ở Việt Nam. Bài Tiếp cận lịch sử tiếp nhận từ góc độ khái niệm “chân trời” và “trò chơi ngôn ngữ”, rút ra từ luận văn tiến sĩ, có tính chất định hướng lí thuyết cho những nghiên cứu về sau của tôi. Trong bài này, tôi tìm thấy một gợi ý của Hans Robert Jauss có thể trả lời cho những băn khoăn của tôi về phương pháp nghiên cứu thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam đương đại. Trong bốn bài Xung đột và biến đổi quy chuẩn trong phê bình văn học (nhìn lại cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế về Truyện Kiều), Trò chơi ngôn ngữ và phê bình văn học: trường hợp phê bình thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Định chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc TưÝ hệ và diễn giải: trường hợp tiếp nhận bài thơ Phá đường của Tố Hữu, tôi sử dụng phương pháp trò chơi ngôn ngữ để bóc tách các chiến lược diễn giải của chủ thể tiếp nhận và đặt nó trong ngữ cảnh xã hội với các quy định diễn ngôn và liên văn bản.

Hai bài Kí ức và sự hòa giải: hiện tượng Nhật ký Đặng Thùy Trâm trong sự kiến tạo của truyền thông đại chúngSự đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình: trường hợp các fan page trên Facebook thể hiện mối quan tâm của tôi đối với vai trò của truyền thông đại chúng, một hình thức định chế xã hội đương đại đang phát triển mạnh mẽ, trong việc định hình ý nghĩa văn bản văn học và kiến tạo không gian tiếp nhận. Riêng bài Sự đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình: trường hợp các fan page trên facebook đề cập đến tầng lớp người đọc đại chúng, một biểu hiện đặc thù của đời sống văn học đương đại.

Trong bài Tính đại chúng của sự đọc và huyễn tưởng tinh thần của văn học trong một số tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, tôi vận dụng quan niệm về fantasy theo cơ chế vô thức trong các tác phẩm đại chúng để phân tích tác động thẩm mỹ của một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Nhật Ánh. Trong bài Phương pháp trò chơi ngôn ngữ trong nghiên cứu lịch sử tiếp nhận – đặt ở cuối sách, tôi trình bày phương pháp nghiên cứu tiếp nhận theo gợi ý của Hans Robert Jauss và đặt nó trong tương quan với các lí thuyết tiếp nhận đương đại.

Phần ba của sách là bài dịch tiểu luận tiêu biểu của Wolfgang Iser: Tiến trình đọc: một tiếp cận hiện tượng học.

Hầu hết những bài trong phần một và hai đã báo cáo tại các hội thảo, công bố trên các tạp chí hoặc in chung trong sách, khi được in lại ở đây đã có sự chỉnh sửa, chủ yếu là nhằm nhất quán chú thích và tài liệu tham khảo. Một số trường hợp chỉnh sửa và bổ sung sẽ được chú thích trong từng bài. Ngoài ra, do một số vấn đề lí thuyết được đề cập đến từ góc nhìn tương đối nhất quán, nên có những bài khó tránh khỏi đôi chỗ trùng lặp. Cuối cùng, trật tự các bài trong mỗi phần được sắp xếp theo nội dung, không theo thời gian.

Cuối sách, tôi cũng bước đầu soạn một thư mục các tác giả và công trình nghiên cứu tiếp nhận, hi vọng giúp ích cho sinh viên và các nhà nghiên cứu.

Trên con đường học tập và suy nghĩ của mình, tôi chịu ơn những người thầy đã hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và cho tôi những lời khuyên quý giá. Tôi biết ơn thầy Bùi Văn Nam Sơn, nếu không được học tập và làm việc chung với thầy, tôi sẽ không đủ nền tảng triết học, khái niệm lí thuyết, cũng như các chuẩn mực tư duy để suy nghĩ về những vấn đề lí thuyết văn học. Tôi biết ơn thầy Huỳnh Văn Vân, thầy Huỳnh Như Phương, thầy Hoàng Dũng, những người thầy mà tôi đã học hỏi được niềm đam mê, sự chuẩn mực và những thao tác nghiên cứu khoa học. Tôi cảm ơn anh Đinh Hồng Phúc, với những chỉ dẫn thiết thực, cụ thể và bài học về sự nghiêm cẩn trong tư duy, đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều so với những gì mà trường học có thể dạy cho tôi. Tôi đặc biệt cảm ơn cô Lê Thu Yến, người luôn quan tâm và động viên tôi trên hành trình học tập và cuộc đời. Cuối cùng, tôi cảm ơn đồng nghiệp Nguyễn Thị Minh đã đọc kĩ lưỡng và góp ý bản thảo.

Và còn rất nhiều thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và học trò, những người đã cho tôi lời gợi mở, động viên, góp ý và giúp tôi rất nhiều trên con đường đã qua, tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến tất cả.

 

Hoàng Phong Tuấn

Read Full Post »

“Mỗi người đọc nhóm hợp các chi tiết vào cho chủ đề mà họ nghĩ là quan trọng, và nếu người nào chọn nhấn mạnh vào một chủ đề có độ hội tụ cao, thì nó chắc chắn là cái gì đó hệ trọng đối với người ấy. Tuy vậy, hầu hết các nhà phê bình chuyên nghiệp đều cả quyết với chúng ta rằng có sự đọc đúng và sai, tốt hơn hoặc kém hơn, và họ cương quyết, thường với thái độ rất mạnh mẽ, rằng những chủ đề và những thực thể văn học khác mà họ khám phá ra là có một giá trị “khách quan”. Chắc chắn, những việc đọc tác phẩm văn học theo sự hợp nhất của họ có thể được đối chiếu theo cách thức định lượng cũng như cách thức xem họ đã cảm xúc như thế nào khi họ đem các chi tiết của vở kịch hội tụ xung quanh một số chủ đề chính. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là ta so sánh những việc đọc bằng cách mở rộng đến điều ta cảm thấy khi ta chia sẻ chúng. Tiếp đến, có một câu hỏi quan trọng ở đây là, liệu những sự hợp nhất văn học là “chủ quan” hay “khách quan”, hay đúng hơn, các phần chủ quan và phần khách quan của việc đọc tương quan với nhau như thế nào. Tôi nghĩ, phân tích của tôi về bốn thuật ngữ – hợp nhất, đồng nhất, văn bản, bản ngã – sẽ giúp trả lời câu hỏi đó”.Norman Holland

Read Full Post »

Bạn phải luôn bảo vệ não của mình.

Những âm thanh như tiếng khóc trẻ con, tiếng xe máy, tiếng còi xe cứu thương… là những thứ có thể làm hại não của bạn. Bạn không những có thể giật mình và dòng chảy suy nghĩ nào đó đang tuôn trào trong bạn đột nhiên tắt lịm, mà bạn còn có thể dễ bị phân tâm và chuyển hướng suy nghĩ của mình, ví dụ như bạn sẽ ngừng suy nghĩ và tự hỏi, tại sao trẻ con lại khóc to còn người lớn thì không, tại sao xe máy lại trở thành phương tiện giao thông dạo phố của thanh niên nam nữ yêu nhau chiều thứ bảy, hay người hôn mê thì có nghe tiếng trẻ con khóc hay không…v.v…

Tiếng thì thào hay tiếng thở của ai đó cũng có thể làm cho bạn bị điếc. Tai bạn tê dại, mắt bạn mờ đi và hai tay run rẩy khi nghe thấy tiếng thì thào của ai đó. Bạn cần biết rằng não bạn càng dễ bó chặt lại, hoặc giãn nở hết mức, hay đơn giản là nó càng dễ bị tê đi khi nghe những âm thanh càng nhẹ nhàng.

Ai đó xuất hiện trước mặt bạn cũng có thể làm não bạn mềm nhũn đi, các nơron mủn ra. Mà nếu người đó cất lên tiếng nói thì không những não mà ngực bạn cũng có thể bị co thắt lại, khó thở, ngột ngạt. Và bạn có thể bị chết. Ngực co thắt là dấu hiệu nguy hiểm và hầu như không liên quan gì mấy đến tim. Hay tim chỉ làm động tác cuối cùng của nó thôi. Ngực co thắt là cơn chấn động của não làm cho các dây thần kinh tê liệt đi, tim không còn đập nữa.

Đồ vật cũng có thể nguy hiểm đến não bạn. Một cuốn sách nào đó sẽ như một mũi khoan xuyên qua não bạn, rít lên, siết các bánh răng và làm chấn động sọ của bạn. Tôi có lần thấy một người đàn ông nhìn chiếc ghế và khóc, khuôn mặt hoảng hốt tuột bậc, đôi mắt đau đớn u ám, như muôn ngàn bàn tay bóp xoắn lấy não của anh ta. Có lần khi nhìn cái góc bàn mòn tưa ra những gỗ tôi đột ngột xây sẩm mặt mày. Mắt tôi hoa lên, chân loạng choạng, hai tay bấu vào gờ tường và suýt ngất. Sau này tôi mới biết triệu chứng xây sẩm ấy là liên quan đến não. Đại khái não tiết ra một chất gì đó làm các dây thần kinh giác quan bị tê liệt.

Bạn cũng cần cẩn thận hơn với các hoạt động của mình. Khi ngủ chẳng hạn. Những giấc mơ của bạn thực ra là liên quan đến não. Có những giấc mơ có thể làm bạn nghẹt thở. Có lần tôi mơ thấy mình ngồi trên một cái bàn, xung quanh là cánh đồng ngập bùn. Cái bàn từ từ lún xuống, mặt bàn chao đảo. Tôi hoảng hốt giữ thăng bằng nhưng cũng không giữ được, bàn từ từ chìm xuống. Bùn ngập đến chân tôi, chân tôi tê đi, người dần cứng đờ. Ngực tôi lạnh buốt. Khi tôi choàng tỉnh dậy thì thấy mồ hôi mình túa ra như tắm. Chân tay lạnh ngắt.

Suy nghĩ cũng gây nguy hại cho não. Những luồng suy nghĩ khi thì phả hơi lạnh buốt vào não, khi thì như con đỉa dai dẳng bám chặt vào não. Những hình ảnh kí ức như hình ảnh một khuôn mặt nào đó có thể lây lan như nấm mốc, não bạn sẽ dần dần mủn ra rồi thối đi.

Và cuối cùng, bạn cần cẩn thận với những con mối.

An Thảo

Read Full Post »

 

T.Segers đặt câu hỏi, Hans Robert Jauss trả lời, Timothy Bahti dịch [sang tiếng Anh], Tạp chí New Literary History, Vol. 11, No. 1, Johns Hopkins University Press, 1979.

I

Hỏi: Năm 1972 ông đi đến kết luận rằng mỹ học tiếp nhận giới thiệu một hệ hình mới cho nghiên cứu văn học. Ông có tiếp tục giữ quan điểm này không? René Wellek chẳng hạn, đã lưỡng lự trước điều ấy khi gợi ý rằng luôn có những nghiên cứu giống như mỹ học tiếp nhận; Manfred Nauman thì nói về một “sự dao động của con lắc” hơn là một sự chuyển đổi các hệ hình. Nói cách khác, xét về mặt “hệ hình”, mỹ học tiếp nhận đem đến điều gì mới cho nghiên cứu văn học?

Trả lời: Cũng như trong các ngành học khác, sự chuyển đổi các hệ hình học thuật trong nghiên cứu văn học không phải là sự kiện từ trên trời rơi xuống như sự cách tân thuần túy nào đó. Khi một hệ hình mới có hiệu lực, thì hiệu lực này được đánh giá bằng những câu hỏi mới có thể đặt ra cho những vấn đề cũ, bằng việc xem xét liệu nó có thể giải quyết được chúng theo những cách mới hay không, bằng việc những vấn đề [ta] chưa biết nhờ đó trở nên sáng tỏ, và bằng việc xem xét liệu rằng, trong toàn bộ những trường hợp nêu trên, các phương pháp có thể được phát triển để góp vào sự phong phú của truyền thống học thuật hay không. Lịch sử nghệ thuật đã luôn tự thể hiện vai trò như một quá trình giữa tác giả, tác phẩm, và công chúng; biện chứng của sáng tạo và tiếp nhận đã luôn được trung giới thông qua sự tương tác của cả hai, tức là, thông qua sự giao tiếp văn học [literary communication]. Theo nghĩa này, “mỹ học tiếp nhận” luôn luôn là có thể có, nhưng không theo cách nói của Réne Wellek là luôn có các nghiên cứu như mỹ học tiếp nhận. Trước khi bắt đầu thời đại huy hoàng của chủ nghĩa duy sử, ngay bước chuyển từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, tiếp nhận văn học đã được nhìn từ viễn tượng (perspective) của một mỹ học tác động (Wirkungsästhetik) vốn đứng trong truyền thống của tu từ học và truyền thống thi pháp học của Aristoteles, nhưng mỹ học ấy lại không quan tâm đến những điều kiện lịch sử cho tác động thẩm mỹ của những tác phẩm nghệ thuật. Mỹ học tác động vĩ đại cuối cùng là phê phán năng lực phán đoán thẩm mỹ của Kant. Sau đó các quan tâm nghiên cứu đã dao động trở lại phía sáng tạo, như chính Manfred Nauman đã chỉ ra (Poetica [1976], các trang từ 451): “cảm quan chung” và “sở thích” thẩm mỹ gắn với nó đã bị mang tiếng xấu, và mỹ học của tài năng thiên bẩm, “nghệ thuật vị nghệ thuật”, và littérature engagée [văn học dấn thân] đã xuất hiện thế chỗ chúng. Từ đó, và mãi cho đến thời đại của chúng ta, câu hỏi về sự tác động và tiếp nhận của nghệ thuật – và cùng với chúng là hiệu quả giao tiếp của kinh nghiệm thẩm mỹ – đã không còn chiếm địa vị nổi bật trong những mối quan tâm của chúng ta.

Chủ nghĩa khách quan của phương pháp ngữ văn học thế kỷ 19, mà René Wellek – với tư cách là một đại diện nổi bật nhất – vẫn còn nặng nợ, đã không thể nhận thức được một cách trọn vẹn vấn đề này, vì nó quan tâm hơn hết đến vấn đề giá trị thẩm mỹ phi thời gian. Những lĩnh vực học thuật khác, chẳng hạn như thần học hay luật học, đã đánh bại chủ nghĩa duy sử giáo điều và chủ nghĩa thực chứng sớm hơn ngữ văn học. [Bởi] Ở đó, vấn đề phương pháp luận của thông diễn học từ lâu đã được nhìn nhận trong sự thống nhất ba mặt của việc hiểu, sự lý giải và sự vận dụng. Vấn đề về sự vận dụng– hay nói cách khác, vấn đề về tính không đầy đủ của việc chỉ đơn thuần tái cấu tạo cái quá khứ ‘như nó thực sự đã là’, tính không đầy đủ của sự lý giải hay sự miêu tả một văn bản ‘vì chính nó’, và sự nỗ lực trung giới văn học quá khứ vào trong chân trời kinh nghiệm của thời hiện tại của chính ta – là một đòi hỏi đã bị lấp liếm đi và đây chính là nội dung thực sự của bước ngoặt hướng đến một mỹ học tiếp nhận diễn ra trong giữa những năm 60 và rõ ràng là nó đã thành công.

II

Hỏi: Nếu mỹ học tiếp nhận của những năm 60 phải xác lập một hệ hình mới, phải chăng nó không cần tiền giả định những công cụ mới – giống như những hệ hình của các ngành học thuật khác – nhằm đem đến một ý nghĩa mới cho khái niệm về sự lý giải? Nó có dẫn tới việc “vượt qua sự lý giải”, như tuyên bố của chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học không? Đối với mỹ học tiếp nhận, liệu ta có thể nói về một sự lý giải có tính cách khoa học riêng hay không? Và ông nói gì về sự phản đối thường xuyên rằng phân tích tiếp nhận các văn bản chỉ thuần túy là chủ nghĩa chủ quan, và việc nhận ra rằng có bao nhiêu người đọc thì cũng có bấy nhiêu sự lý giải?

 

Trả lời: Nếu đúng rằng chủ nghĩa cấu trúc văn học và kí hiệu học đưa ta ra khỏi và vượt qua những phương pháp lý giải truyền thống, thì ta có thể nói về mỹ học tiếp nhận và mỹ học tác động rằng, theo một cách nào đó, chúng dẫn ta về lại với sự lý giải. Nhưng hiển nhiên điều này không có nghĩa là chúng [đưa ta] trở về lại với điểm tương tự mà những lý thuyết trước đó đã vượt qua rồi. Nói một cách chính xác thì mỹ học tiếp nhận và tác động không còn xem mục đích [theo nghĩa là] việc lần theo một văn bản để về lại với “phát ngôn” của nó, [trở về lại] với ý nghĩa ẩn tàng đằng sau nó, hay với “ý nghĩa khách quan của nó” như là mục đích nữa. Đúng hơn, mỹ học tiếp nhận và mỹ học tác động xác định ý nghĩa của một văn bản như một sự hội tụ giữa cấu trúc tác phẩm và cấu trúc của sự lý giải vốn luôn luôn đổi mới. Công cụ của chúng không gì khác hơn là: sự phản tư thông diễn, được vận dụng một cách có ý thức và có giới hạn, vốn phải đồng hành cùng với toàn bộ sự lý giải. Do vậy, mỹ học tiếp nhận và mỹ học tác động cũng có thể vận dụng những thành tựu trong việc miêu tả các văn bản của chủ nghĩa cấu trúc, chẳng hạn như khi chúng vận dụng mô hình những tương đương của Jakobson để lý giải trên phương diện ngữ nghĩa các cấu trúc vốn có thể xác định trên phương diện ngôn ngữ học. Tuy vậy, các công cụ ngôn ngữ học [chỉ] được sử dụng ở đây khi và chỉ khi có [mối] liên hệ về mặt ngữ nghĩa. Các cấu trúc ngữ pháp mà vốn chỉ có nghĩa nào đó đối với các chuyên gia ngôn ngữ học, hay những nét tinh tế ngữ nghĩa mà chỉ có loại siêu người đọc toàn năng của Riffaterre mới có thể nhận thức ra được, [những cấu trúc ngữ pháp ấy] phải được đặt sang một bên [để] tập trung cho nhiệm vụ chính yếu là làm rõ sự tiếp nhận thẩm mỹ một văn bản từ bên ngoài những điều kiện tác động [Wirkungsbedingungen] của sự tiếp nhận này. Điều kiện trước tiên và bao quát chung cho một tác động thẩm mỹ đến từ văn bản là việc tiếp nhận nó [xảy ra] bằng việc hiểu, trong một sự kế tiếp nhau của văn bản những thể thơ, những tự sự, hay sự khai mở đầy kịch tính của nó. Thế thì, thông diễn học văn học phân biệt giữa việc hiểu, sự lý giải và sự vận dụng. Lý giải, xét như sự cụ thể hóa một ý nghĩa đặc thù (giữa những khả thể về nghĩa khác nhau mà người lý giải trước đã cụ thể hóa hay người lý giải sau này có thể sẽ tiếp tục cụ thể hóa), vẫn luôn hạn định trong chân trời của lần đọc thứ nhất, tức việc tri nhận thẩm mỹ và việc hiểu [đi cùng] với sự hài lòng (pleasure); tiếp theo nó có nhiệm vụ soi sáng những điều kiện ngôn từ và thi pháp mà, từ sự cấu tạo của văn bản, [những điều kiện này] định hướng cho hành vi hiểu ban đầu. Sự vận dụng bao gồm cả hành vi hiểu lẫn hành vi lý giải trong chừng mực nó thể hiện mối quan tâm đến việc chuyển dịch văn bản ra khỏi quá khứ hay tính xa lạ của nó và đưa [văn bản] vào thời hiện tại của người lý giải, trong việc tìm kiếm câu hỏi mà văn bản đã có một câu trả lời cho người lý giải, trong việc tạo thành một phán đoán thẩm mỹ về văn bản vốn có khả năng thuyết phục được những người lý giải khác.

Do vậy, sự trách cứ của chủ nghĩa chủ quan là định kiến ít được biện minh và khó xóa bỏ nhất nhằm chống lại mỹ học tiếp nhận. Nó làm ngơ sự kết nối trở lại một cách không thể thay đổi được của sự lý giải với cấu trúc tiếp nhận của văn bản, cũng như làm ngơ tính liên-chủ thể của phán đoán thẩm mỹ vốn phải được cổ vũ; nó thể hiện việc thiếu một sự thức nhận về sự thiên lệch tất yếu của mọi lý giải trong quá trình tiếp nhận nghệ thuật. Ngược lại, chủ nghĩa chủ quan, cư ngụ một cách xác thực dưới lý tưởng về tính khách quan, nghĩa là nó giành thắng lợi ngay ở nơi người lý giải phủ định chân trời bị giới hạn về mặt lịch sử của họ, tức đặt họ ra bên ngoài lịch sử tác động của văn bản, chỉ nhìn thấy “những sai lạc” nơi tiền bối của họ và tự cho là mình đã sở hữu một cách trực tiếp và toàn bộ ý nghĩa của văn bản. Ngược lại, giá trị của phương pháp mỹ học tiếp nhận chính là việc nó phản đối tham vọng của lý giải duy ngã luận, và nó ít quan tâm đến sự  kiểm sai có tính cách đảo ngược lại mà quan tâm hơn đến tính có thể hợp nhất của những lý giải khác nhau trong đó ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật – được mang lại cho ta và luôn được cụ thể hóa một cách bộ phận/ một cách thiên lệch – tự thể hiện ra theo cách thức riêng biệt.

Nếu bây giờ ông hỏi tôi rằng liệu đường hướng này có thể đưa ta đến sự lý giải có tính cách khoa học riêng hay không, thì rõ ràng câu hỏi trên có ý nói đến một khái niệm về khoa học rút ra từ khoa học tự nhiên, hay cụ thể hơn, từ vật lý học. Cái được gọi là khái niệm có tính định luật học về khoa học này, đã có lúc bị phản đối và bị phản đối trong vô số ngành học thuật khác nhau, bởi một khái niệm có tính đối thoại về khoa học mà chỉ có những người bảo vệ ý hệ [ideologue] mới có thể xem nó như là “ít [tính] khoa học”. Khái niệm có tính đối thoại về khoa học không loại trừ lập trường và hoạt động của chủ thể, mà đúng hơn, thâu gồm chủ thể như là điều kiện của nhận thức, và trong chừng mực ấy khái niệm này là khái niệm dùng để chỉ riêng cho toàn bộ những ngành khoa học muốn tìm hiểu nghĩa,  tức những khoa học tiến hành từ giả định rằng nghĩa là một chân lý được mang lại – chứ không phải là một chân lý có sẵn – được hiện thực hóa trong sự thảo luận và đồng thuận với những người khác. Mặt yếu kém của cái gọi là nghiên cứu thường nghiệm về sự tiếp nhận và nghiên cứu văn học là chúng vẫn chưa một lần đạt đến được những kết quả của cấu trúc đối thoại trong việc hiểu những đối tượng văn học.

III

Hỏi: Có hay không những điểm nối kết giữa ba phong trào: chủ nghĩa cấu trúc trường phái Prague, ký hiệu học và mỹ học tiếp nhận vốn là mối quan tâm của khoa học văn học nói chung?

Trả lời: Tôi thấy có những điểm kết nối giữa ba phong trào nói trên, [nhưng] trên hết là trong việc các phong trào ấy đã đặt những vấn đề về sự truyền thông giữa người với người (interhuman communication), với những đặc trưng khác nhau, vào tâm điểm của những quan tâm nghiên cứu của chúng. Trong ngữ cảnh này, hoạt động nghiên cứu do trường phái nghiên cứu văn học Constance ở Đức giới thiệu từ năm 1966 không phải là sự kiện biệt lập. Nơi đây, những nỗ lực hướng đến một lý thuyết về sự tiếp nhận và tác động của văn học, vốn thoạt đầu được đặt cơ sở trên một khoa học về văn bản, đã không ngừng được phát triển thành một lý thuyết truyền thông văn học nhằm đánh giá đúng chức năng sáng tạo, tiếp nhận và mối quan hệ tương tác của chúng. Sự phát triển lý thuyết-khoa học này của khoa học văn học có tính báo hiệu cho một quá trình bao quát vốn có những biểu hiện tương tự trong ngôn ngữ học, kí hiệu học, xã hội học, nhân học, triết học và thậm chí là sinh học. Vào giữa những năm sáu mươi, một sự tách ra khỏi chủ nghĩa cấu trúc có tính khoa học đã xảy ra dưới sự phê phán về những hệ hình của vũ trụ ngôn ngữ học không-qui chiếu và do đó là phi-thế giới (nonworldly), tức việc phê phán hệ thống ký hiệu khép kín trong chính nó và không có chủ thể, phê phán việc bản thể hóa của khái niệm về cấu trúc, và phê phán logic bị hình thức hóa, phi truyền thông. Sự phục hồi [vai trò] của người đọc, người nghe, và công chúng khán thính giả (tức những “người nhận”) trong nghiên cứu văn học là tương ứng với : việc mở ra ngôn ngữ học-văn bản dựa trên một ngữ dụng học của những hành vi phát ngôn và hoàn cảnh giao tiếp; sự nghiên cứu kỹ lưỡng kí hiệu học trong một khái niệm văn hóa về văn bản; những câu hỏi được làm mới lại về chủ thể của vai trò và của “thế giới sống” trong nhân học xã hội, về động vật và môi trường trong sinh học; sự trở lại của xã hội học về nhận thức với những lý thuyết tương tác vốn đã trở nên thiết thực; và sự tách ra khỏi logic học hình thức hay logic học biểu đạt bằng một logic học dự bị hay logic học đối thoại. Trong sự biến đổi những hệ hình này (và chắc chắn là những hệ hình khác nữa) của những quan tâm nghiên cứu, vấn đề truyền thông được đề cập đến theo nhiều cách. Thêm vào đây là cuộc diễu hành thắng lợi của khoa học truyền thông toán học và khoa học lý thuyết thông tin, tuy vậy, trong đó tràn lan một góc nhìn ngây thơ quan niệm về một khoa học cứu rỗi đi tìm kiếm cách giải quyết những vấn đề phức tạp nhất về truyền thông của con người theo những cách thức đơn giản nhất. Vì truyền thông – ngược lại với khuynh hướng mở rộng nó vượt ra khỏi sự nhận thức, [chỉ] như là một khái niệm thời thượng và một cụm từ dùng đâu cũng được – giờ đây vẫn tiếp tục hiện diện trong sự hình thành khoa học của lý thuyết chỉ trong [phạm vi] những nỗ lực phương pháp luận, vì hầu hết các bộ phận của nó tách biệt khỏi các bộ phận khác, [nên] lý thuyết khái quát về truyền thông dù đã phát triển mạnh ngày nay vẫn còn xa mới thiết lập được một môn học nền tảng cho khoa học lịch sử, khoa học xã hội, và (với một sự mở rộng nào đó) khoa học tự nhiên. Để phát triển lý thuyết này theo một cách thức tương tác, dường như tôi – và không chỉ tôi – được giao một nhiệm vụ quan trọng nhất trong tương lai gần, và giải quyết một phần của nhiệm vụ này sẽ là một thời cơ của nghiên cứu văn học.

IV

Hỏi: Có hay không một sự tương ứng giữa mỹ học tiếp nhận với những phát triển gần đây trong văn học Đức đương đại – so sánh với sự tương ứng giữa chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa vị lai Nga?

Trả lời: Với câu hỏi này, ông đã chạm đến một trong những khía cạnh thú vị nhất và vẫn còn ít được bàn luận đến nhất trong hoàn cảnh hiện nay. Theo quan điểm của tôi, không có sự tương ứng nào trong thực tiễn văn học đối với sự hình thành lý thuyết của nghiên cứu văn học Đức vào những năm sáu mươi như trường hợp giữa chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa vị lai Nga vào những năm hai mươi. Ở Đức, cụ thể, mỹ học tiếp nhận thậm chí được xét trong thế đối trọng với lý thuyết mỹ học của tính phủ định (theo nghĩa của Adorno) và những biểu hiện của văn học và nghệ thuật tiền phong vốn phần lớn là theo cùng với nó. Lý thuyết tiếp nhận quan tâm đến việc tái chiếm lĩnh những chức năng truyền thông của văn học và nghệ thuật, trong khi lý luận mỹ học của Adorno – một hiện tượng nổi bật trong giai đoạn này – liên kết toàn bộ những hành vi giao tiếp hướng đến nghệ thuật với sự hài lòng thẩm mỹ bị ngăn cấm, và tuyên ngôn một chủ nghĩa tân Thanh giáo vốn được xem như là câu trả lời duy nhất cho cái gọi là công nghiệp văn hóa. Gần đây nhất, một sự phát triển đáng chú ý xuất hiện trong bối cảnh văn học Đức (và trên thực tế, ở cả hai bờ sông Elbe), trong đó ta có thể thấy một sự tương ứng với lý thuyết tiếp nhận và tác động. Tôi muốn nói đến sự tái chiếm lĩnh kì lạ – trong hình thức này – và độc nhất những văn bản cổ điển (chẳng hạn như là quyển The New Sorrows of Young Werther của Plenzdorf, hay quyển Mary Stuart của Hildesheimer) trong đó hình thức có tính toàn bộ của những phân mảnh gốc bất biến bị đập vỡ ra để phơi bày cho hiện tại một nội dung kinh nghiệm theo những cách mới và hầu hết là theo cách phê phán, trong một hình thức trùng phục thu hồi bằng những công cụ xa lạ hóa. Nước Anh cũng góp thêm một phần vào sự phát triển này với một làn sóng mới của việc tiếp nhận Shakespeare, trong khi ở Pháp quá trình tái chiếm lĩnh có tính phê phán về những văn bản cổ điển tiếp tục thiếu vắng trầm trọng.

V

Hỏi: Trong quan điểm của ông, những tranh luận khá gay gắt diễn ra giữa nghiên cứu văn học Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức vào những năm gần đây có góp phần nào vào một sự phát triển thực sự xa hơn của mỹ học tiếp nhận hay không?

Trả lời: Tranh luận này đã được tiến hành – dĩ nhiên là có tính điển hình – như một sự bất đồng trong nội bộ Đức giữa một lý thuyết nhìn bề ngoài là có vẻ duy tâm và một lý thuyết nhìn bề ngoài là có vẻ duy vật về văn học, trong đó cả hai phe đều cùng nỗ lực để vượt trội hơn phe kia trong [việc khẳng định] tính chính thống của họ. Hồi tưởng lại, chắc chắn là tôi không cần phải quay về xa hơn với [vấn đề] tính chính thống của những phe ngữ văn tư sản – mà từ đó trường phái Constance đã tự ngừng chiến. Nhưng mặt khác, trước hết phải xem cái gì vẫn được gọi là đặc trưng chính thống trong lý luận Marxist về văn học mười năm trước. Tính chính thống Marxist có thể được biểu thị ở ba điểm: lý luận phản ánh theo nghĩa của Georg Lukács; một việc hiểu không biện chứng về mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; và tính tiên nghiệm tuyệt đối của mặt sáng tạo trong mỹ học. Đối lập với điều này, khi ấy, cái được gọi là những nghiên cứu ngữ văn tư sản có thể được xem là chính thống theo cách của họ, trong chừng mực họ vẫn chấp nhận sự lý giải nội tại và chấp nhận sự khảo sát biệt lập về chuỗi những văn bản văn học, và không nghiêm túc đặt câu hỏi về chức năng xã hội của văn học. Từ viễn tượng của tôi – với việc tôi tự đặt mình ở giữa, không theo những người chủ chương của cánh tả lẫn những người chủ trương cánh hữu – thì đối thoại của mười năm đổ lại đây thành công một cách đặc biệt về mặt lập luận, tuy rằng nó được tiến hành một cách quyết liệt, vì cả hai bên đã vượt qua những điểm khởi đầu thuộc về tính chính thống và đã đặt ra được những vấn đề mới. Lý luận văn học Marxist tiên tiến ngày nay, cũng như lý luận văn học được tuyên bố là mới của phe “tư sản” đã bắt đầu hiểu mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, không trong thế đối lập nhau, mà như một quá trình trung giới biện chứng: nơi mà tác phẩm văn học vượt ra khỏi tính hữu dụng ý [thức] hệ thuần túy và chiếm giữ một chức năng xã hội tích cực, [thì nơi ấy] nó chứa đựng một hạt nhân của chủ nghĩa duy tâm – nói cách khác là sự siêu vượt-giai cấp – trong khi đó, ngược lại, ý nghĩa thẩm mỹ của một [tác phẩm] thậm chí là cổ điển, thoạt nhìn là phi thời gian và lý tưởng, chỉ có thể được nhận thức khi [ta] tái lập trở lại chân trời điều kiện hóa có tính duy vật của cái xã hội mà nó đã phản ứng. Ở trung tâm điểm của lý luận văn học như nó đang được tiến hành ngày nay bởi Manfred Naumann, Robert Weimann, và những người khác của Viện hàn lâm khoa học Berlin, không định vị trong hình thái phản ánh nữa, mà trong hình thái lưu thông [hàng hóa] của Marx có trong ‘Lời mở đầu phê phán chính trị kinh tế học’, nơi nó đòi hỏi và hợp thức hóa sự phân tích quá trình văn học như là một sự trung giới giữa sản xuất, tiêu dùng và phân phối hay trao đổi. Do vậy, các khuynh hướng tiên tiến của lý luận văn học trong cả hai phe ngày nay đều quy về nỗ lực thiết lập một sự tập trung của mối quan tâm về chức năng giao tiếp và do đó chức năng cấu tạo xã hội của văn học, vượt qua và vượt lên khỏi bình diện tiêu biểu của từng phe.

 

 

 

VI

Hỏi: Khi ông nghĩ về sự phát triển tiếp theo của mỹ học tiếp nhận, theo ông những nhiệm vụ nào hiện ra như là nhiệm vụ cấp bách? Một trong những nhiệm vụ tất yếu là viết lịch sử tiếp nhận. Vậy thì phương pháp nào có thể có được cho nhiệm vụ này? Một vấn đề quan trọng xuất hiện ở đây chắc chắn là vấn đề thiếu các phản hồi của người đọc từ một thời đại nào đó. Chính xác hơn, bằng cách nào ta có thể tái cấu tạo chân trời của những chờ đợi trong một thời đại từ một vài, hay một số, những phản hồi của người đọc được lưu truyền lại mà không rơi vào kiểu cũ của lịch sử tinh thần?

Trả lời: Tôi thấy việc cần kíp nhất của tình thế hiện nay là đề ra một thông diễn học văn học, tức là sẽ thiết lập những giả thiết thẩm mỹ của nó (xét như ngược lại với với thông diễn học thần học và thông diễn học luật học) và sẽ tìm cách xây dựng một nhịp cầu nối liền với các phương pháp cấu trúc, phương pháp ngôn ngữ học văn bản và phương pháp kí hiệu học. Dĩ nhiên cũng có những nhiệm vụ thú vị trong lĩnh vực lịch sử tiếp nhận, và có một số lượng lớn những lịch sử tiếp nhận phải được xử lý: lịch sử tiếp nhận các tác phẩm cá nhân, lịch sử tiếp nhận các tác gỉa, lịch sử tiếp nhận các thể loại và lịch sử tiếp nhận các thời đại tiêu biểu, nhưng chắc chắn là theo nhiều cách khác nhau hơn là theo phương pháp có tính chất bản thể luận cũ của “La fortune de…” hay “Sự ảnh hưởng của…”. Nhưng với điều này, một vấn đề lớn vẫn chưa được giải quyết, đó là, bằng cách nào các lịch sử tiếp nhận như vậy được hợp nhất vào trong một lịch sử văn học mới. Ở đây tôi muốn nhớ lại rằng ít nhất có một điều mà ta học được – hay có thể học – từ cuộc thảo luận của chủ nghĩa Marx: lịch sử của một loại hình nghệ thuật hay văn học không thể được viết như một lịch sử tự trị, mà chỉ như một bộ phận của quá trình xã hội. Trước khi ta có thể tham gia vào nhiệm vụ lớn này, một loạt những nghiên cứu dẫn nhập phải được thực hiện xong. Theo trình tự, điều này thuộc về việc nghiên cứu sự biến đổi chức năng của văn học, về hư cấu văn học và về sự tạo thành có tính tương quan của quy phạm văn học (chẳng hạn như sự chiếm hữu và sự loại bỏ văn học quá khứ trong các thể chế giáo dục) cũng như là một lịch sử về kinh nghiệm thẩm mỹ – như bản thân tôi đã bắt đầu trong quyển sách cuối cùng của mình, Kinh nghiệm thẩm mỹ và thông diễn học văn học. Nếu lịch sử văn học mới thực sự tồn tại thay vì chỉ đơn thuần là sự phản ánh lịch sử xã hội hay cuộc đối thoại mà thoạt nhìn là có tính tự trị giữa các tinh thần sáng tạo, thì sự dự phần của văn học theo các chức năng đa dạng của nó trước hết phải được xử lý một cách lịch sử và hệ thống.

Bước tiếp nối từ một lịch sử các tác phẩm và các thể loại nghệ thuật đến lịch sử kinh nghiệm thẩm mỹ, tức là hoạt động sáng tạo, tiếp nhận, giao tiếp thẩm mỹ của con người, cũng là nhiệm vụ tối cần thiết, vì nếu trình bày nó theo cách thông diễn, thì nó hiện ra một nhịp cầu giao tiếp với quá khứ xa lạ. Ngược lại với lịch sử có tính chất sử kí, cái lịch sử phải tái cấu tạo đời sống quá khứ từ một số lượng lớn những bằng chứng câm lặng hay từ những luận điểm xuyên tạc có tính ý hệ, lịch sử các nghệ thuật có sự thuận lợi của cái tồn tại (being) được định hình từ những tác phẩm vẫn tiếp tục đến được với chúng ta ngày nay – hay có thể xuất hiện trở lại [với ta] – trong khoái cảm thẩm mỹ và việc hiểu thẩm mỹ. Do đó, xét ở góc độ kinh nghiệm thẩm mỹ, nghệ thuật thúc đẩy sự chuyển động chân trời của các chờ đợi hiện thời từ sự chuyển động chân trời của các chờ đợi quá khứ, một sự chuyển động vô cùng cần thiết cho nghiên cứu lịch sử cũng như nghiên cứu lịch sử nghệ thuật. Bằng việc quay trở lại với các chức năng xã hội của kinh nghiệm thẩm mỹ, thì một chân trời của những chờ đợi có thể được tái cấu tạo một cách dè dặt (tentatively) ngay cả khi không có, hay vừa mới có những phản hồi của người đọc được lưu truyền lại. Vì chính chúng ta là và luôn vẫn có khả năng là những người đọc các văn bản quá khứ. Để tái cấu tạo không chỉ đặc điểm thẩm mỹ của nó, mà còn cả tính khác của nó, ta có những phương pháp tùy ý/tự chọn của ta. Ở nơi nào thông diễn học lịch sử không thể có được, ta có thể nỗ lực một hướng tiếp cận hệ thống với, chẳng hạn như, những công cụ của truyền thông, các hệ thống xét như là lý thuyết văn học và thể loại nghệ thuật chuẩn bị cho chúng. Trong quyển sách của tôi, Tính khác và tính hiện đại của văn học trung cổ, tôi đã cố gắng chỉ ra, ví dụ như, cách thức hệ thống giao tiếp của các thể loại văn học nhỏ, hay “các hình thức đơn giản” của diễn ngôn mẫu mực của một thời đại trong quá khứ có thể được tái cấu tạo, nhờ đó tôi chứng minh được tính thực tiễn của công cụ thông diễn của “câu hỏi và câu trả lời”.

Read Full Post »