Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2015

“Schleiermacher xem mình như là người đề xuất một thông diễn học chung hay một thông diễn học phổ quát mới, tức là hợp nhất và tôn tạo các quy tắc cụ thể của thông diễn học luật học, thông diễn học thánh điển và thông diễn học ngữ văn. Ông đã phê bình và chỉnh sửa các tiền bối của ông, Friedrich Ast và Friedrich A. Wolf, về việc đã giới hạn thông diễn học vào việc nghiên cứu các ngôn ngữ cổ. Ngay cả giờ đây khi ta nghĩ rằng Schleiermacher không phải là người đầu tiên phát triển một lý thuyết phổ quát, thì chính Schleiermacher và truyền thống [thông diễn học] mà ta kế thừa đã từng xem thông diễn học của ông như là một lý thuyết phổ quát đầu tiên. Schleiermacher cho rằng “thông diễn học với tính cách như một nghệ thuật hiểu không còn tồn tại theo dạng thức chung nữa, thay vào đó chỉ còn những hình thức khác nhau của thông diễn học đặc thù” (HC: 5). Các quy tắc cụ thể của sự lý giải vận dụng vào trong các lý thuyết thông diễn học đặc thù khác biệt cần đến một sự biện luận trong một lý thuyết phổ quát của sự lý giải.

NGHỆ THUẬT HIỂU

Thông diễn học là nghệ thuật hiểu. Với chữ “nghệ thuật”, Schleiermacher không có ý muốn nói rằng thông diễn học là thuần túy chủ quan, thuần túy là một quá trình sáng tạo. Mà ngược lại, vào thời đó, chữ “nghệ thuật” bao gồm một nghĩa được hiểu chung là cách thức để làm cái gì, tức là có liên quan đến nghĩa của các chữ “các nghệ thuật có tính chất kĩ thuật” và “các nghệ thuật hoàn hảo”. Với tính cách như là một nghệ thuật, thông diễn học bao gồm các quy tắc phương pháp luận nhưng sự vận dụng của chúng không phải là vị quy tắc, như thể là một trường hợp trong một phương sách có tính chất kỹ thuật. Schleiermacher cho rằng “Mọi ngôn ngữ cá biệt có lẽ là có thể được hiểu bằng những quy tắc, và cái gì được hiểu theo cách này là chủ nghĩa kỹ thuật. Phải thừa nhận rằng nghệ thuật là cái gì có các quy tắc nhưng sự vận dụng kết hợp các quy tắc này không thể trở thành vị quy tắc”. (HC: 229). Schleiermacher đối lập thông diễn học xét như nghệ thuật hiểu với nghệ thuật nói, tức là tu từ học và nghệ thuật xử lý sự ngoại hiện hóa tư tưởng. Việc nói chuyển đổi tư tưởng bên trong thành sự biểu hiện ngoại hiện của nó qua ngôn ngữ, trong khi đó thông diễn học chuyển đổi sự biểu hiện ngoại hiện trở về tư tưởng với tính cách là ý nghĩa của sự biểu hiện đó. “Không ai có thể suy tư mà không có từ ngữ. Không có từ ngữ thì tư tưởng không thể hoàn tất và rõ ràng”. (HC: 8).
Thông diễn học là nghệ thuật hiểu nên mục đích của thực hành thông diễn là nhằm hiểu chính xác những gì người nói phát biểu, đặc biệt là qua hình thức viết. “Mỗi lời nói có một quan hệ kép, quan hệ với tính toàn thể của ngôn ngữ và quan hệ với toàn bộ tư tưởng của người sáng tạo ra nó” (nt). Nói hoặc viết một điều gì đó đặt cơ sở trong một ngôn ngữ cụ thể. Các tư tưởng rõ ràng chỉ diễn ra, như Schleiermacher nói, khi các từ ngữ chính xác được tìm thấy. Vì ngôn ngữ truyền thông phải trở thành dễ hiểu đối với cả người nói lẫn người nghe. Từ ngữ chỉ có nghĩa của chúng trong quan hệ với từ ngữ khác của ngôn ngữ đó. Một từ không chỉ có một nghĩa, tức là không chỉ biểu hiện một đối tượng. “Ngôn ngữ là không hạn định vì mỗi yếu tố được xác định một cách cụ thể bằng những yếu tố khác” (HC:11). Vì tính liên hệ này mà mỗi lời nói ít nhất liên hệ một cách gián tiếp đến toàn bộ những từ ngữ khác, và vì thế liên hệ đến tính toàn thể của ngôn ngữ này vào thời điểm nói. Dù cho ngôn ngữ của người nói được ấn định trước khi tư tưởng của anh ta sinh thành, thì những tư tưởng mới vẫn có thể được phát biểu bằng một cách thức duy nhất trong đó người nói sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu đã được đặt định trước. Vì một số lí do khác nhau, người nói cố gắng truyền đạt tư tưởng cụ thể, vốn dĩ liên quan đến các tư tưởng khác của anh ta. Hoạt động nói này xảy ra trong đời sống của người nói, và do đó, nó quan hệ một cách gián tiếp tới đời sống cá nhân riêng tư, vốn tự nó là một phần của xã hội trong một thời điểm cụ thể. “Mỗi ngôn ngữ được sử dụng chỉ có thể được hiểu thông qua dân tộc và vùng lãnh thổ của chúng” (HC:9).
Thông diễn học với tính cách như việc hiểu các phát biểu bằng ngôn ngữ có thể hiểu được thì bao gồm toàn bộ các chuẩn tắc, nhưng Schleiermacher giới hạn lĩnh vực của thông diễn học. Ta đã từng lưu ý rằng tu từ học liên quan đến việc phát biểu các tư tưởng bằng ngôn ngữ, do đó thông diễn học là quá trình đảo ngược thông qua việc khám phá các tư tưởng hàm ẩn trong phát biểu. Phê bình, vốn cũng đã được Schleiermacher bàn đến, được kết nối với các phán đoán về tính xác thực của một phần hoặc toàn bộ văn bản. Rõ ràng là thông diễn học và phê bình đặt cơ sở trong nhau, do đó ta phải có văn bản chính xác để hiểu và phân tích một cách trọn vẹn những gì tác giả biểu đạt, nhưng để phán đoán tính xác thực của một văn bản, trước tiên ta phải hiểu nó. Schleiermacher quy tính tiên nghiệm cho nỗ lực thông diễn vì một số hoạt động hiểu một văn bản phải được diễn ra trước khi có thể thực hiện bất kì một phán đoán nào liên quan đến tính xác thực của văn bản. Sự vận dụng, có vai trò là sự trình bày và chứng minh về việc hiểu của ta, chỉ là việc phát biểu về cái mà ta đã hiểu theo hình thức thông diễn.
Thông diễn học với tính cách là nghệ thuật hiểu các lời nói trong các mặt kép của chúng, vì thế nó có hai phần: phần ngữ pháp, tức là lý giải lời nói như nó xuất phát từ ngôn ngữ, và phần kỹ thuật hay tâm lý học, tức là lý giải lời nói “như là một sự kiện trong con người tư duy” (HC:8). Schleiermacher gán phần thứ hai này cho cả hai thuật ngữ, “kỹ thuật” và “tâm lý”, nhưng xem ra cuối cùng ông đã lựa chọn từ “tâm lý”, cũng là từ sẽ được ta sử dụng ở đây. Thông diễn học yêu cầu cả lý giải ngữ pháp lẫn lý giải tâm lý. Schleiermacher cho rằng nhìn chung sẽ sai lầm nếu thiết lập sự lý giải tâm lý vượt qua sự lý giải ngữ pháp; ngược lại tính tiên nghiệm đặt cơ sở trong mục đích của sự lý giải. Nếu ta chủ yếu quan tâm đến ngôn ngữ như thể nó là phương tiện cho sự truyền đạt cá nhân các tư tưởng của người nói, thì lý giải tâm lý sẽ trở nên quan trọng hơn. Ngược lại, nếu ta xem ngôn ngữ ở vai trò nó thiết định việc suy tưởng của cá nhân trong một thời điểm cụ thể, thì mặt ngữ pháp sẽ chiếm ưu thế. Tuy vậy, cả lý giải ngữ pháp lẫn lý giải tâm lý đều luôn yêu cầu một trình độ nào đó; đối với việc chỉ sử dụng lý giải ngữ pháp, ngầm ý rằng ta hiểu biết trọn vẹn về ngôn ngữ, trong khi chỉ sử dụng lý giải tâm lý ngầm ý rằng ta hiểu biết trọn vẹn về con người. Tuy nhiên, cả hai điều này đều không thể xảy ra. Do đó, “ta phải di chuyển từ cái này đến cái kia, và không có quy tắc nào đem lại cho ta cách thức để tiến hành điều này” (HC: 11). Đó là lý do tại sao thông diễn học còn là một nghệ thuật.

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Lawrence K. Schmidt, 2006, Understanding Hermeneutics.

Read Full Post »