Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba, 2014

FISH VS ISER

Cuộc chiến kinh điển diễn ra giữa Fish và Iser đánh dấu bước chuyển của lí thuyết tiếp nhận, từ chú trọng mối quan hệ giữa văn bản và người đọc sang chú trọng vai trò của ngữ cảnh.

Fish, kẻ hậu sinh mới nổi, sở hữu một vũ khí chết người: chiến lược lí giải. Giờ là lúc ông khẳng định uy lực của nó bằng cách chống lại bậc tiền bối đang thống lĩnh giang hồ: Iser.

“Rõ ràng rằng bản thân sự phân biệt là một giả định, đó là, khi thông tin một hoạt động miêu tả văn học, thì sẽ tạo ra một hiện tượng hỗ trợ cho sự miêu tả đó. Nghĩa là, mỗi thành tố trong cuộc khảo sát như thế – những cái xác định hay những phân mảnh của văn bản, những cái không xác định hay những khoảng trống, và những chuyến du hành của “điểm nhìn lưu chuyển” của người đọc – ắt sẽ là sản phẩm của của một chiến lược lý giải cần đến chúng, và do vậy không có cái nào trong số những thành tố ấy có thể cấu thành cái có sẵn độc lập vốn dĩ đặt cơ sở cho quá trình lý giải”.

Đại khái là nếu ta cho rằng quá trình lý giải văn bản có đặc điểm này nọ, thực ra là ta đang nằm trong chiến lược lý giải văn bản. Vì mỗi cái trong số đặc điểm ấy không liên quan gì đến văn bản, vốn dĩ có trước và độc lập khỏi các phán xét về nó. Đây là quan niệm thấp thoáng bóng dáng “vật tự thân” của cụ Kant, sau này sẽ được Tony Bennett làm rõ hơn bằng khái niệm “văn bản tự thân”.

Nhưng trụ cột chính trong lập luận này của Fish là một quan niệm về mối liên hệ giữa “sự kiện” và “sự lý giải”. Fish cho rằng khi Iser nói văn bản là cấu trúc không xác định, hay ngược lại, thì đều vừa đúng, vừa không đúng. Vì, chẳng hạn, làm sao người đọc có thể thoát khỏi cái thế giới thực tại vật chất xác định mà trong đó có bản thân họ và văn bản của họ? Cơ sở và bản chất của quá trình đọc, do đó, là xác định.

Thứ nữa là Fish phê phán tính chất trung dung trong hệ lập luận của Iser về quá trình đọc và mối quan hệ tương tác giữa văn bản và người đọc. Iser cho rằng văn bản vừa xác định, vừa không xác định; người đọc vừa tự do vừa chịu sự dẫn dắt của văn bản. Fish mỉa mai điều này khi cho rằng mỗi trong số đặc điểm nêu trên tự nó không liên quan gì đến văn bản như là sự kiện, vì thế cho nên chúng phải dựa vào nhau, vừa này, vừa nọ.

Hehe…

Tất nhiên là Iser không đời nào chịu thua một gã hậu sinh như Fish.

Trước hết ông phê bình Fish là đã bộp chộp khi cho rằng ông phân biệt cái xác định là cái cho sẵn, còn cái không xác định là cái thêm vào. Ông giải thích lại rằng những từ ngữ của một văn bản là cái cho sẵn, sự lý giải các từ ngữ là cái xác định. Trong khi đó khoảng trống giữa những yếu tố cho sẵn và/ hoặc giữa những sự lý giải là những cái không xác định.

Tỉ số là 1-1.

Tiếp đến ông cho rằng dù văn bản mang đặc điểm gì đi nữa, dù xác định hay không xác định, hay cả hai thứ, thì nó cũng có một bản chất tiên nghiệm, là nó sinh ra là để làm trung gian cho sự chuyển biến của bản ngã người đọc. Cái bản chất tiên nghiệm này có trước sự lý giải lẫn sự chỉ dẫn của văn bản, và nó làm cho văn bản có sẵn được lý giải và làm cho giả định của người đọc thay đổi khi đọc văn bản.

Lập luận rắc rối này được trình bày một cách… vô cùng rắc rối, như sau:

“Cái gì đó’ vốn là để được trung giới thì có trước sự lý giải, [và] những hoạt động xét như là sự kiềm chế việc lý giải, nó tác động đến những dự kiến vận hành sự lý giải, và do vậy tham gia vào quá trình thông diễn, kết quả của điều này là hai việc, cái có sẵn thì được trung giới và những giả định ban đầu thì được sửa đổi”.

Rõ ràng là Iser vẫn kiên trì với luận điểm mà ông khai triển từ Ingarden, thầy ông, rằng sở dĩ hành vi đọc có thể có được là do nó vận hành trên văn bản cho sẵn là hệ thống ký hiệu, vì vậy, văn bản cho sẵn này TỰ NÓ là điều kiện cho hành vi đọc, hay, nó là “người đọc mặc nhiên” (implied reader), một loại khả năng đọc có sẵn trong văn bản.

Iser đã không chú ý đến tiền đề cơ sở về mối quan hệ giữa “sự kiện” và “sự lý giải” mà Fish lấy làm điểm tựa cho toàn bộ hệ lập luận của mình. Vì Fish không nói rằng có hay không có loại khả năng đọc có sẵn trong văn bản, hay “người đọc mặc nhiên” như Iser nói; mà ông cho rằng khi Iser kết luận rằng văn bản có đặc điểm là nó tồn tại sẵn khả năng đọc, thì kết luận ấy cũng chính là một hệ quả của chiến lược lý giải mà thôi.

Vì vậy, lập luận phản bác của Iser không đạt đến mức độ trừu tượng hóa như lập luận của Fish, nói cách khác, nó không đồng đẳng phạm trù với lập luận của Fish, mà là lập luận nằm trong hệ lập luận của Fish. Nghĩa là, Iser quay mòng mòng trong cái lồng “chiến lược lý giải” của Fish.

Tỉ số là 2-1. Iser tự thua. Fish thắng!

Có thể nói rằng Fish rất thông minh và khôn ngoan khi ông một mặt dựa trên tiên đề thông diễn học được xác lập từ Nietzsche, mặt khác, lại khéo léo xử lý tiên đề ấy thành một thứ như một cái lồng gà, mọi cái không phải là cái cho sẵn, thì là chiến lược lý giải. Vấn đề là dù anh có kết luận gì đi nữa, thì cái kết luận ấy cũng có một tiền giả định: nó là hệ quả của chiến lược lý giải.hehe.

Đó là lý do mà trong sự phát triển lý thuyết cuối cùng, Fish cho rằng không tồn tại cả văn bản lẫn người đọc, mà tất cả chỉ là những chiến lược lý giải giao thoa lẫn nhau.

Iser không đáp lời trực tiếp với Fish trong vụ đó nữa, ông chuyển hướng sang bàn về khía cạnh triết học của hư cấu. Đáng chú ý là ông cũng lấy một luận điểm của Nietzsche, để cho thấy rằng hư cấu văn học là một loại hư cấu đặc biệt, như một tấm gương nằm trong hiện thực nhưng không là hiện thực trong hiện thực, mà là một đối ngẫu của hiện thực, làm cho con người soi vào hiện thực để thấy mình trong đó.

Thấp thoáng ở đây là lập luận phản bác nằm cùng cấp độ với tiên đề thông diễn của Fish.

Nhưng đó là chuyện còn kinh  khủng hơn. Chờ nhé.

 

 

Read Full Post »

“Mỗi hành vi đọc là một sự kiện, một sự tương hỗ bao gồm một người đọc cụ thể và sự tượng hình cụ thể của những vết mực trên trang giấy, và xảy ra trong một thời gian cụ thể ở một ngữ cảnh cụ thể. Những trạng thái cơ thể nào đó, những loại cảm xúc nào đó, những sự liên kết ngôn từ và biểu trưng nào đó, được khơi dậy từ nơi trữ lượng ngôn từ (linguistic reservoir). Từ những vùng năng động này, đến những cụm từ, nói theo cách đơn giản nhất, sự định hướng lựa chọn – được điều kiện hóa từ những nhân tố cá nhân và xã hội phức tạp tham gia vào tình huống – tuyển ra những yếu tố tổng hợp hay hòa phối thành cái tạo nên “ý nghĩa”. Ý nghĩa không phải là cái đã tạo rồi sẵn có trong văn bản hay nơi người đọc, mà là điều xảy ra trong suốt sự tương hỗ giữa người đọc và văn bản.

Khi ta nhìn thấy một tập hợp những vết mực trên trang in mà ta tin rằng chúng có thể được chuyển thành các kí hiệu ngôn từ (nghĩa là có thể được xem như một văn bản), ta cho rằng nó ắt sinh ra một số loại ý nghĩa ít nhiều mạch lạc. Ta sử dụng kinh nghiệm dự trữ của ta. Những khả năng lựa chọn phức tạp bên trong vang vọng đến những từ ngữ khi chúng được đặt vào trong các cụm từ và các câu. Từ mỗi khởi đầu, và thậm chí thường là trước đó, một số những chờ đợi, một vài những cảm xúc, hay quy tắc hay mục đích sơ khởi, chẳng quan trọng là chúng mơ hồ như thế nào, sẽ dẫn dắt sự lựa chọn và tổng hợp. Khi đôi mắt ta chạm đến văn bản đang mở ngỏ, ta tìm kiếm những dấu hiệu dựa trên những chờ đợi về điều gì sắp đến, dưới sự soi sáng của trải nghiệm ngữ pháp và ngữ nghĩa trong quá khứ. Văn bản xét như một kiểu hình ngôn ngữ là bộ phận của cái gì đang được cấu tạo. Những khả năng mở ra cho các quy ước từ vựng, ngữ pháp, ngôn ngữ và văn học, các ý tưởng, các chủ đề, những kiểu mẫu chung của ý nghĩa vốn có thể được tiếp tục triển khai”. Louise Rosenblatt, 1988, Writing and Reading: The Transactional Theory, University of Illinois, trang 4.

Read Full Post »