Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín, 2013

…  Châm ngôn của Gadamer “Hiểu nghĩa là hiểu điều gì đó như là một câu trả lời”, cần phải được giới hạn lại trong việc xem xét văn bản thi ca. Ở đây nó chỉ có liên quan với hành vi thứ hai của việc hiểu lý giải trong chừng mực việc hiểu này cụ thể hóa một ý nghĩa cá biệt như một câu trả lời cho một câu hỏi; vì vậy, có lẽ nó không liên quan với hành vi đầu tiên của việc hiểu tri nhận, vốn trình bày và kiến tạo kinh nghiệm thẩm mỹ của văn bản thi ca. Thực sự là tri nhận thẩm mỹ cũng đã luôn bao hàm việc hiểu. Vì như đã biết, trong sự đối lập với tri nhận thẩm mỹ hằng ngày vốn dĩ quy thoái vào trong một quy tắc, văn bản thi ca như một đối tượng thẩm mỹ có khả năng tạo nên một dạng thức tri nhận vừa phức hợp vừa nhiều ý nghĩa, vốn dĩ như sự thích thú thẩm mỹ nhằm làm mới lại nhãn quan nhận thức hay là sự nhận thức lại có tính mỹ cảm. Tuy vậy sự hoàn tất này của mỹ cảm, [dù] có chiều hướng của việc hiểu nghĩa, [nhưng] chưa cần đến sự lý giải, và vì vậy nó cũng không cần thiết phải có đặc tính của câu trả lời cho một câu hỏi mặc nhiên hay minh nhiên. Nếu ta cần nhận thức sự tiếp nhận văn bản thi ca trong trường hợp này – như chính Gadamer, kế thừa Husserl, đã phát biểu – “sự lược quy có tính thị giác đạt được một cách tự nhiên trong kinh nghiệm thẩm mỹ”, thì việc hiểu trong hành vi tri nhận thẩm mỹ không thể được quy vào cho sự lý giải mà vốn dĩ – do thực tế là điều gì đó được hiểu như là câu trả lời – lược quy sự phong phú ý nghĩa của văn bản thi ca vào cho sự phong phú của những biểu tả có thể có của nó. Trong sự lược quy có tính thị giác của tri nhận thẩm mỹ, sự lược quy có tính phản tư gia nhập vào sự lý giải vốn dĩ sẽ hiểu văn bản như là câu trả lời cho một câu hỏi mặc nhiên, có thể do thời gian, vẫn bị trì hoãn, trong khi cùng lúc ấy, việc hiểu vẫn vận hành cho phép người đọc trải nghiệm ngôn ngữ trong sức mạnh của nó, và do đó, thế giới trở nên đầy ý nghĩa.

Dịch từ: Hans Robert Jauss (1991), Ästhetische Erfahrung und literarische Hermeneutik, Suhrkamp, Frankfurt am Main.


Advertisements

Read Full Post »

Những nội dung chính của Khoa học logic:
1.    “Logic khách quan’, bắt đầu với Lời nói đầu cho bản in lần thứ nhất. Phần này khái lược những đặc trưng chung của Khoa học logic, ngữ cảnh triết học và văn hóa trong đó nó được viết ra, và mối quan hệ của nó với Hiện tượng học tinh thần.
2.    Lời nói đầu cho bản in lần thứ hai xem xét mối quan hệ của NHỮNG SỰ QUY ĐỊNH TƯ TƯỞNG đối với NGÔN NGỮ, đối với cái tôi và đối với SỰ VẬT. Nó giải thích các thủ tục của Khoa học logic và bảo vệ chúng chống lại những quan niệm sai lầm.
3.    Phần dẫn nhập khái lược ‘quan niệm chung’ về logic, và mối quan hệ của nó với Hiện tượng học tinh thần, với ngôn ngữ, với logic hình thức, với các triết học thời kì đầu, đặc biệt là với triết học Kant. Sau đó nó giải tích sự phân chia logic thành logic tồn tại, logic bản chất và logic về khái niệm.
4.    Sách I, “Học thuyết về tồn tại”, bắt đầu với một tiết đoạn được đặt làm nhan đề: “KHOA HỌC phải bắt đầu với cái gì”. Tiết đoạn này xem xét [những] khó khăn trong việc khởi đầu logic học và triết học nói chung, đặc biệt là vì triết học không nên có CÁC TIỀN GIẢ ĐỊNH và cũng không nên tạo thành một sự [quy thoái] vòng tròn. Hegel giải thích tại sao ông đã không (giống như Fichte và Schelling thời kì đầu) bắt đầu với CÁI TÔI thuần túy (vì, chẳng hạn nó đặt cơ sở trên một dẫn nhập văn hóa và triết học một cách tiên nghiệm), mà với tồn tại. Yêu sách của Hegel rằng Khoa học logic là “sự phơi mở của THƯỢNG ĐẾ xét như ông ta trong bản chất nội tại có trước sự sáng tạo tự nhiên và tinh thần vô hạn” (Khoa học logic, Dẫn nhập) là [yêu sách] sai lầm trong lập luận của nó khi cho rằng logic tạo thành sự khởi đầu của HỆ THỐNG, vì hệ thống tạo thành một vòng tròn, nó cũng tương tự sự kết thúc (và trung gian).
5.    Khoa học logic, giống như toàn bộ hệ thống của Hegel, bao gồm CÁC NHỊP BA trong các nhịp ba. Một nhịp ba toàn bộ thường có nhan đề tương tự như hạn từ thứ nhất của nhịp ba, phần vì Hegel tin rằng CÁI PHỔ BIẾN (chung) tự chia tách thành cái phổ biến (đặc thù), một CÁI ĐẶC THÙ và một CÁI CÁ THỂ. Học thuyết về tồn tại tự nó chia làm ba phần. Phần I ( TÍNH QUY ĐỊNH hay CHẤT) khảo sát (a) tồn tại ( tồn tại, HƯ VÔ, SỰ TRỞ THÀNH); (b) TỔN TẠI ĐƯỢC QUY ĐỊNH (tồn tại được quy định, HỮU HẠN, vô hạn); và (c) TỒN TẠI CHO MÌNH (tồn tại cho mình, cái một và cái nhiều, việc đẩy và việc hút). Phần II (độ lớn hay LƯỢNG) (a) lượng (lượng thuần túy, độ lớn lien tục và gián đoạn, SỰ GIỚI HẠN của độ lớn); (b) đại lượng (con số, đại lượng ngoại tại và nội tại, vô hạn về lượng); và (c) QUAN HỆ về lượng hay tỉ lệ. Phần III (HẠN ĐỘ) bao gồm (i) lượng đặc thù; (ii) hạn độ thực; (iii) sự trở thành của bản chất.
(Dịch từ: A Hegel Dictionary, Michael Inwood, Blackwell, 1992, “Science of Logic”.)

Read Full Post »