Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba, 2013

“… Để hiểu cách thức tạo lập và lí giải một văn bản, ta cần một tổng hợp các quy tắc ngữ nghĩa – ngữ dụng, được cấu tạo từ một sự trình bày ngữ nghĩa tựa như bách khoa thư, vốn thiết lập nên cách thức và trạng thái [để] quyết định quyền cộng tác của người nhận một văn bản cho trước nhằm hiện thực hóa những gì mà văn bản thực sự nói. Điều này đã được định đề hóa trong nghĩa vị (sememe), nghĩa vị mới chính là văn bản thực sự, văn bản là sự mở rộng của nghĩa vị. Theo nghĩa này mà Peirce viết rằng thuật ngữ là một mệnh đề sơ đẳng, và một mệnh đề là một lập luận sơ đẳng. Điều này có nghĩa là có thể thiết lập được không gian kí hiệu [semiosis] không giới hạn, như là một quá trình lý giải liên tục. […]

Đọc một văn bản nghĩa là [ta] vận hành thông tin ngữ nghĩa được mã hóa hay siêu mã hóa theo cách thức [ta] quyết định liệu có nên làm tăng lên hay đông cứng những nghĩa tố có sẵn được cấp bởi trò chơi tương tác giữa những nghĩa vị, và [quyết định] cách thức chúng tác động và hòa hợp lẫn nhau. […]

Có sự tương hợp lẫn nhau giữa một lý thuyết về việc sản sinh và lý giải văn bản và một lý thuyết phổ quát về kí hiệu. Người đọc đóng một vai trò chủ động trong [hoạt động] lý giải văn bản vì các kí hiệu được cấu trúc theo dạng thức phi quy chiếu (pↄq, không phải p≡q). Hoạt động lý giải văn bản có thể thực hiện được vì các kí hiệu ngôn ngữ không bị quyết định bởi tính tương đương tuyệt đối (đồng nghĩa hay định nghĩa); chúng cơ bản không dựa trên ý niệm về tính đồng nhất mà bị chi phối bởi một lược đồ phi quy chiếu, do đó chúng có vô số khả năng lý giải. Qủa thực, các văn bản có thể nói nhiều hơn ta tưởng, chúng luôn có thể nói cái gì đó mới, vì các kí hiệu khởi đầu quá trình lý giải mà quá trình này dẫn đến một dãy vô hạn những hậu quả lũy tiến….”

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Umberto Eco, 1981, “The Theory of Signs and the Role of Reader”, The Bulletin of Midwest Modern Language Association. Voll.14, No.1, trang 38.

Advertisements

Read Full Post »