Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy, 2012

Đôi giày, Van Gogh, 1886.

 Gadamer trình bày bài viết “Mỹ học và thông diễn học” lần đầu tiên vào năm 1964 như một báo cáo cho Hội thảo quốc tế lần thứ năm về mỹ học tổ chức tại Amsterdam, và tháng 12 năm đó nó được đăng trên một tạp chí Hà Lan. Hiện nay bài viết đã được dịch ra bảy thứ tiếng, bao gồm cả Nhật, Ba Lan, Nga và Trung Quốc. Trong bộ tuyển tập bằng tiếng Đức, bài viết xuất hiện ở vị trí thứ nhất của tập 8, một tuyển tập về mỹ học và thi học. Bản tiếng Anh của bài viết này được in năm 1976, trong quyển Philosophical Hermeneutics, một tuyển tập lần đầu in chung các tiểu luận và bài viết của Gadamer.

Trong tiểu luận này, trước hết Gadamer nhấn mạnh rằng “viễn tượng thông diễn là rất bao quát” [1], bao gồm cả nghệ thuật và tự nhiên, và đặc biệt là kinh nghiệm về tác phẩm nghệ thuật. Trên thực tế, ông nói rõ rằng phạm vi mỹ học mà ông quan tâm là “vấn đề về kinh nghiệm nghệ thuật”. Ông thừa nhận rằng thông diễn học luôn có mối liên quan đến sự lý giải những văn liệu lịch sử và những văn liệu văn học, nhưng ông nhận ra rằng kinh nghiệm gặp gỡ nghệ thuật đóng vai trò quan trọng đối với thế giới biểu đạt và đối với sự tự hiểu của con người có kinh nghiệm. Ông tạo ra sự phân biệt giữa những văn liệu lịch sử và những tác phẩm nghệ thuật bao gồm cả những tác phẩm phi ngôn từ. Những tác phẩm nghệ thuật được trải nghiệm và được lý giải, và cả những văn liệu lịch sử và những tác phẩm nghệ thuật đều có chung một loại nghĩa; quả thực là ta có thể nói về loại “ngôn ngữ của nghệ thuật”. Gadamer lưu ý rằng ngược lại với những văn liệu lịch sử, những tác phẩm nghệ thuật sở hữu tính đương thời (contemporaneity) cho phép chúng có thể nói trực tiếp một cách đặc thù với ta xuyên qua nhiều thế kỷ. Những yếu tố trong thông diễn học triết học của Gadamer giống như sự dự kiến về nghĩa (anticipation of meaning) vận dụng cho việc gặp gỡ với tác phẩm nghệ thuật, cũng như với văn bản ngôn từ. “Một loại dự kiến về nghĩa định hướng cho nỗ lực hiểu từ bất kỳ điểm khởi đầu nào,” và thực vậy, điều này đem lại hiệu quả “một cách xuất sắc” cho trải nghiệm về nghệ thuật. Tương tự sự gặp gỡ với văn bản thánh kinh hay văn bản văn học liên quan đến sự tự hiểu, như các nhà thần học đã chỉ ra, sự gặp gỡ với nghệ thuật cũng vậy, chẳng hạn như một sự gặp gỡ nghĩa với một tác phẩm nghệ thuật làm tăng thêm việc hiểu chính mình. Do vậy, thông diễn học hiện diện như một cách thức nhận thức thỏa đáng hơn về kinh nghiệm gặp gỡ một tác phẩm nghệ thuật, một kinh nghiệm gây sốc cho những chờ đợi của ta và thậm chí cho việc ta hiểu chính mình.

Cuối cùng, Gadamer kêu gọi người nghe thừa nhận “tính phổ quát của viễn tượng thông diễn”. Thông diễn học là quá trình hiểu, và toàn bộ việc hiểu, bất kể hiểu về tự nhiên, nghệ thuật, hay ngôn từ, đều định vị trong chân trời biểu đạt của con người lịch sử có những dự kiến về nghĩa. Đối với các tác phẩm nghệ thuật và văn liệu ngôn từ, sự gặp gỡ nghĩa tất yếu nằm trong ngôn ngữ, ngôn ngữ mà tác phẩm cũng như các hình thức khác của văn liệu sử dụng để biểu đạt. Nhưng với mọi loại văn liệu và tác phẩm nghệ thuật, sự gặp gỡ là một “cú sốc vui sướng và kinh hãi”, kiểu như một bài thơ xuất hiện và nói với người đọc “Bạn phải thay đổi đời mình!”, ở đây Gadamer dẫn chiếu đến dòng thơ trong bài thơ của thi sĩ Rilke nổi tiếng, bài “Pho tượng bán thân Apollo cổ xưa” (trong trường hợp này là về tác phẩm nghệ thuật). Gadamer đã đưa mỹ học ra ngoài địa hạt truyền thống về tính khách quan vô vị lợi và đặt nó vào địa hạt của sự gặp gỡ có tính thông diễn.

Richard E. Palmer, 2007, The Gadamer Reader: A Bouquet of the Later Writings, Northwestern University Press, Evanston, Illinois, trang 123-4.


[1] Nguyên văn câu này trong bản tiếng Đức: “Auf der anderen Seite hat der hermeneutische Aspek etwas so Umfassendes, daβ er notwendig auch die Erahrung des Schönen in Natur und Kunst einschlichen” (Ở phương diện khác, viễn tượng thông diễn là cái gì rất bao quát, nó cũng tất yếu bao gồm cả kinh nghiệm về cái đẹp trong tự nhiên và trong nghệ thuật). Hans-Georg Gadamer, 1993, Gesammelte Werke, band 8, Mohr Tübingen, tr 1. (ND)

Read Full Post »

Những ghi chú trên đây dường như có một trật tự. Trước hết, rõ ràng là với những loại khác nhau của những gì được gọi là ‘những trò chơi ngôn ngữ’, ta có thể thấy có một khoảng cách nào đó giữa ‘những hình thức ngôn ngữ với việc mà một đứa trẻ bắt đầu tập sử dụng những từ ngữ’, như là những trò chơi ngôn ngữ đã được định nghĩa trong cuốn Blue Book (BB 17). Điều này không còn đúng nữa khi sau đó Wittgenstein nói rằng ‘nghiên cứu về những trò chơi ngôn ngữ là nghiên cứu về những hình thức nguyên thủy của ngôn ngữ hay ngôn ngữ nguyên thủy’. Điều này có nghĩa [nghiên cứu trò chơi ngôn ngữ] là nghiên cứu bất kì hình thức sử dụng ngôn ngữ nào dựa trên một ngữ cảnh nền (a background context) của một hình thức đời sống.

Thứ nữa, dường như có một mâu thuẫn trong đoạn văn dẫn từ tiểu mục 23 của cuốn Philosophical Investigations. Wittgenstein nói rằng có những loại câu không đếm được: những loại không đếm được sử dụng trong những gì mà ta gọi là câu. Nửa thứ nhất của những tuyên bố này đề xuất hai sự sử dụng tạo nên hai loại câu khác nhau; nửa thứ hai thì lại đề xuất rằng một loại câu có thể có hơn một sự sử dụng. Đề xuất của nửa thứ hai có vẻ hợp lý hơn đề xuất của nửa thứ nhất. Không nghi ngờ gì về việc ta sử dụng câu ‘hãy đến đây’ để ra lệnh và để yêu cầu là hai sự sử dụng khác nhau: nhưng điều này cũng không phải là lý do đầy đủ để nói rằng hai loại sử dụng khác nhau của [một] câu thì được bao hàm/ liên đới với nhau. Có lẽ tốt hơn là cần nhận thức một cách rõ ràng và tất yếu rằng duy trì sự phân biệt giữa những loại câu để có những sự phân biệt rộng hơn giữa các cách sử dụng được biểu thị trong cú pháp của câu (chẳng hạn như sự phân biệt giữa thức mệnh lệnh và thức trần thuật).

Wittgenstein ắt sẽ đáp lại rằng điều này có liên quan đến việc ta chú ý quá nhiều đến ngữ pháp bề mặt, và không quan tâm đầy đủ đến ngữ pháp bề sâu như đã được phát hiện trong nghiên cứu về trò chơi ngôn ngữ. Tuy nhiên, dường như sự phân biệt truyền thống giữa loại câu khẳng định, câu hỏi và câu cầu khiến nằm ở một cấp độ khác với những sự phân biệt do Wittgenstein phác họa nên. Chẳng hạn như, rõ ràng rằng những loại câu khác nhau [nêu trên] có thể xuất hiện bên trong hay bên ngoài một truyện cười hay một truyện hư cấu cổ tích; thế nên sự phân biệt giữa chúng cắt ngang sự phân biệt giữa hư cấu và phi hư cấu. Wittgenstein rõ ràng là đã đúng khi cho rằng việc cố gắng đồng nhất những câu hỏi với lời phát biểu là vô ích (chẳng hạn như những phát biểu về sự không biết, hay những phát biểu thể hiện sự muốn biết thông tin) (PI, I, 24). Nhưng loại phân biệt này hoàn toàn khác với loại phân biệt đã được ông phác thảo khi ta nói về những trò chơi ngôn ngữ với một từ ngữ cụ thể (như từ ‘trò chơi’) hay về trò chơi ngôn ngữ của sự đo đạc. Vì rõ ràng rằng từ ‘trò chơi’, hay một tập hợp của những [kí hiệu] đo đạc, có thể xuất hiện trong một câu cầu khiến, một câu khẳng định hay một câu hỏi.

Wittgenstein lưu ý là ta sẽ sai lầm nếu gộp lại với nhau toàn bộ những câu trần thuật – chẳng hạn như ‘Xương ở trong chạn’, ‘Anh ta ngủ’, ‘Anh ta đang mơ’, ‘Tôi đau’, ‘Tôi đang nghĩ về cha tôi’ – vì nó tùy thuộc vào những loại khẳng định [khác nhau]. Ta phải chú ý đến những điểm khác nhau trong sự sử dụng những câu này – chẳng hạn như, chúng có thể liên quan đến những loại sai lầm hay nghi vấn nào, liệu ta có nên, hay bằng cách nào phát hiện ra chúng có đúng hay không – và đây là cái tạo lập nên trò chơi ngôn ngữ.

(còn tiếp)

dịch từ: Anthony Kenny, 2006, Wittgenstein, Revised Edition, Blackwell, USA, từ trang 126-

Read Full Post »