Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 27th, 2012

THÔNG DIỄN HỌC

(Dịch từ: Alexander Ulfig, 1997, Lexikon: Der Philosophischen Begriffe, Fourier Verlag, tr 173-175.)

(từ tiếng Hy lạp hermeneutike (techne), “nghệ thuật lý giải”):

Theo nghĩa truyền thống, thông diễn học là nghệ thuật của sự lý giải và phiên dịch các văn bản; trong thuật ngữ hiện đại, thông diễn học có nghĩa là nghệ thuật HIỂU và sự suy nghĩ có phương pháp về các tiền giả định của việc hiểu (với tư cách là khoa học hay lý thuyết về việc hiểu). Trong truyền thống, thông diễn học bao gồm sự lý giải cũng như việc hiểu các văn bản, và các phát biểu thành văn. Tuy nhiên, khái niệm thông diễn học cũng như khái niệm hiểu có thể được mở rộng cho mọi loại văn bản cũng như ký hiệu. Ngược lại với mọi nỗ lực muốn xem thông diễn học là “lý thuyết nghệ thuật thuần túy” (kỹ năng), Gadamer yêu cầu mở rộng vấn đề hiểu từ một lĩnh vực ứng dụng đặc thù sang một kích thước rộng hơn nhiều của việc tra hỏi triết học. Kinh nghiệm thông diễn tạo nên môi trường cho việc hiểu thế giới và hiểu chính mình.

Các mô hình thông diễn học đầu tiên có đặc điểm ứng dụng-cụ thể trực tiếp cho từng trường hợp; chúng được quan niệm như là sự hỗ trợ để hiểu các văn bản khó. Ở đâu văn bản cần được hiểu, ở đó bắt đầu hình thành sự phản tư về tiến trình hiểu. Sự phản tư về tiến trình hiểu xuất hiện trước tiên trong thần học, khi có nhu cầu lý giải thánh điển (ở đây, thông diễn học không chỉ là một môn học về kỹ năng lý giải, mà còn là một môn học về tín điều). Sau đó là trong luật học, nơi văn bản và các lời nói thành văn phải được giải thích một cách phù hợp, và cuối cùng trong các ngành ngôn ngữ học khác nhau – cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa nhân văn và sự tái phát hiện những ngôn ngữ cổ. Ngay trong thời cổ đại đã có những tiền đề ban đầu cho nghệ thuật lý giải. Thời này, các biện sĩ đã có những thành tựu đáng chú ý; họ là những người đầu tiên quan tâm đến việc lý giải các thi phẩm. Ở đây, thông diễn học quan hệ mật thiết với TU TỪ HỌC. Tuy nhiên, giai đoạn khai sinh và thịnh vượng thực sự của thông diễn học diễn ra trong thời cận đại. Một khi có khoảng cách thời gian với truyền thống và khi một ý thức lịch sử xung đột với truyền thống, thì bấy giờ nhu cầu về thông diễn trở nên nổi bật.

Hoạt động dạy học của Melanchon[1] đóng một vai trò đặc biệt cho việc ra đời thông diễn học.  Dưới sự hướng dẫn của ông, việc giải thích văn bản truyền thống là bộ phận của việc đào luyện nhà hùng biện.  Sự chuyển dịch từ khoa sư phạm về hoạt động diễn thuyết (Redehaltens) sang khoa sư phạm về hoạt động giải thích các văn bản đặt dấu mốc lịch sử cho vai trò nổi bật của thông diễn học. Vào giai đoạn 1700, lý thuyết cảm xúc (từ thời Aristoteles là bộ phận của Tu từ học) đã được A.H.Francke [2] tiếp thu vào trong nghị luận về thông diễn học. Lý giải tâm lý nơi Schleiermacher [3]lý thuyết đồng cảm của J.J.Rambach [4] đều có nguồn gốc trong lý thuyết cảm xúc [của Aristoteles]. Trong chú giải Thánh kinh, câu hỏi về việc hiểu cái xa lạ được đặt ra, và trước hết trong việc phiên dịch một ngôn ngữ xa lạ, thứ nữa là trong việc lý giải và hiểu bản thân nội dung của Thánh kinh. Thông diễn học phục vụ cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều của giáo hội; vì người ta cho rằng ai ai cũng có năng lực tiềm tàng để hiểu Thánh kinh từ sức lực của chính mình. Ngay ở đây, thông diễn học đã được quan niêm như là năng lực phổ biến của con người. Trong thời kỳ này, các mô hình nổi tiếng, chẳng hạn như mô hình về mối quan hệ giữa các bộ phận với cái toàn bộ trải qua bước quá độ từ tu từ học sang thông diễn học. Khi J.Dannhauer [5] từ bỏ “sự lý giải có tính chất tu từ của người diễn thuyết” nhằm vào “sự sử dụng và sự hữu ích” của các văn bản, ông đã nỗ lực đưa thông diễn học đến gần với logic học (phân tích). Từ thời điểm ấy, logic học phân tích tỏ ra là kiểu mẫu cho một logic mới của việc hiểu. Sau đó, “Môn học về kỹ năng hiểu” của Schleiermacher đánh dấu một bước tiến xa hơn nữa trong sự phát triển của thông diễn học. Thông diễn học của ông không chỉ bao hàm việc lý giải các văn bản, mà còn lý giải và hiểu các lời phát biểu nói chung. Ông chủ trương sự lý giải tâm lý; việc hiểu được diễn ra do một nguyên tắc tâm lý chung của những người đọc và tác giả. Dù vậy, quan trọng là phương pháp đặt mình vào bên trong tác giả (“hiểu có tính dự đoán”). Nhiều tư tưởng gia của trường phái lịch sử (J. Droysen, W. Dilthey) hiểu thông diễn học như là khoa học nền tảng của KHOA HỌC TINH THẦN; ở đây, thông diễn học được hiểu theo nghĩa một PHƯƠNG PHÁP LUẬN của khoa học tinh thần. Đối với Dilthey, thông diễn học là “môn học kỹ năng hiểu các phát ngôn đời sống thành văn”. Việc hiểu xảy ra trong khung cảnh các quan hệ đời sống làm trung gian lịch sử. (xem thêm TÍNH LỊCH SỬ, TRIẾT HỌC ĐỜI SỐNG, CHỦ NGHĨA DUY SỬ). Các mô hình thông diễn học (như là mô hình đặt mình vào bên trong một người khác hay trong một tình thế, và mô hình hiểu cái bộ phận từ cái toàn bộ và cái toàn bộ từ các bộ phận) vẫn được tiếp tục thực hiện công phu từ Dilthey và sau đó là các tư tưởng gia kế tục ông. Thông diễn học không chỉ được quan niệm như là phương pháp luận của khoa học tinh thần, mà còn được quan niệm như là môi trường của kinh nghiệm về thế giới và kinh nghiệm về bản thân; thông diễn học trở thành sự lý giải phổ biến về thế giới, đời sống và bản thân; nói chung, nó trở thành cách tiếp cận có tính triết học. Đối với Heidegger, thông diễn học cũng như việc hiểu không phải là phương pháp của khoa học tinh thần; việc hiểu là phương thức tồn tại của Dasein; nó là một PHỔ SINH (xem PHÂN TÍCH DASEIN, BẢN THỂ HỌC NỀN TẢNG); việc hiểu được quan niệm như là sự lý giải bản ngã có tính chất dự phóng của Dasein; trong việc hiểu, Dasein đạt được một sự hiểu chính mình và một sự hiểu tồn tại. Chính trong mối quan hệ này, Heidegger nói đến thông diễn học về Dasein. Việc hiểu được đặc trưng bởi tính tuần hoàn (xem VÒNG TUẦN HOÀN THÔNG DIỄN). Sau đó, Heidegger đặt cơ sở cho việc hiểu thông qua “sự khai quang của tồn tại”. Một quan niệm thông diễn học quan trọng là quan niệm thông diễn học của H.-G. Gadamer. Thông diễn học triết học của ông được xem như là nền tảng thông diễn học cho việc hiểu thế giới và hiểu chính mình của ta. Việc hiểu có một đặc trưng phổ biến; trong tính dễ hiểu ta vận động và tính dễ hiểu này mang tất cả mọi sự biến về ngôn ngữ. Theo Gadamer, việc hiểu cũng như kinh nghiệm thông diễn thể hiện ra qua một số đặc trưng nhất định. Một việc hiểu trước đặt cơ sở cho việc hiểu, việc hiểu được cấu trúc trong một cách thức nhất định (chẳng hạn như là thông qua một cấu trúc tiên kiến của việc hiểu). Gadamer nghiên cứu tác động qua lại của việc hiểu và việc hiểu trước. Việc hiểu nổi bật qua tính tuần hoàn; từ việc hiểu trước, ta quay lại vượt ra khỏi ta để hiểu thế giới; việc tiếp cận giải thích thế giới có thể làm biến đổi những việc hiểu cũng như là việc hiểu trước của ta; cùng với việc hiểu trước cũng như việc hiểu mới này, ta trở về với ta để hiểu lại thế giới và cứ tiếp tục như vậy. Khi hai chủ đề hiểu này tương thông với nhau, thì nó trở thành “sự hòa trộn chân trời”. Việc hiểu của ta được bao hàm trong một “quan hệ tác động” trực tiếp về mặt lịch sử; Gadamer nói về “lịch sử tác động” và cho rằng nó đóng vai trò như là nền tảng về mặt lịch sử cho việc hiểu của ta (xem THẾ GIỚI ĐỜI SỐNG).

Thông diễn học đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết khoa học hiện đại. Con người đặt câu hỏi cho nghiên cứu khoa học cũng như là việc hiểu về các sự kiện khoa học và thực hành thực nghiệm, chẳng hạn như là đặt câu hỏi về tầm quan trọng của nhận thức nền tảng thuộc về thế giới đời sống có tính lịch sử (trong các ý nghĩa của việc hiểu trước). Ngược lại, mối liên hệ giữa quá trình vận dụng sự giải thích trong hầu hết các khoa học tự nhiên và quá trình vận dụng việc hiểu trong hầu hết các khoa học tinh thần đã được bàn luận. Khi có nỗ lực mở rộng thông diễn học, nỗ lực nhằm kết nối thông diễn học với các lĩnh vực phong phú khác nhau, thì nó kết nối thông diễn học với, chẳng hạn như TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ, CHỦ NGHĨA DỤNG HÀNH, CHỦ NGHĨA CẤU TRÚC, DỤNG HÀNH PHỔ QUÁT và DỤNG HÀNH SIÊU NGHIỆM.


[1] [Còn được viết là] Philipp Melanchthon (1497 – 1560), tên khai sinh là Philipp Schwartzerdt, là nhà thần học và chú giải học. Theo ông, việc lý giải thần học đòi hỏi trước hết người lý giải phải là nhà ngữ pháp và là nhà biện chứng pháp, và cuối cùng là việc lý giải này cần các bằng chứng (ND).

[2] August Hermann Francke (1663 – 1727) người Đức, theo đạo Tin lành. Ông trình bày những bài giảng chú giải và bình luận về Tân ước và Cựu ước tại University of Halle (ND).

[3] Friedrich Daniel Ernst Schleiermacher (1768 – 1834) nhà thần học, triết gia Đức. Ông là một trong những bậc tiền bối của thông diễn học. Thông diễn học được ông quan niệm như là “nghệ thuật hiểu cụ thể diễn ngôn thành văn của người khác một cách chính xác” (Thông diễn học và phê bình). Theo ông, việc lý giải văn bản nhằm tái cấu tạo chủ ý của tác giả để hiểu tác giả hơn tác giả (ND).

[4] Johann Jacob Rambach (1693 – 1735), giáo sư thần học tại University of Halle. (ND)

[5] Johann Konrad Dannhauer nhà thần học, năm 1654, ông xuất bản quyển “Hermeneutica sacra sive methodus exponendarum sacrarum litterarum” và khai sinh ra thuật ngữ “hermeneutics” (ND).

Advertisements

Read Full Post »