Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm, 2012

Quyển Bemerkungen không nói gì về những trò chơi ngôn ngữ, nhưng trong quyển Philosophische Grammatik có cả một chương sách dành cho việc tìm tòi những điểm tương tự giữa số học và trò chơi cờ, cụ thể là nó giải thích vai trò của chân lý và sai lầm trong số học, việc thắng và thua trong trò chơi (Philosophische Grammatik, 289-95). Sự xem xét này tuy nhiều công phu nhưng lại không gây ấn tượng bằng sự xem xét trong những trao đổi với Waismann (như trên 295). Nhưng mối quan tâm được phát triển rõ hơn trong quyển Philosophische Grammatik là việc ứng dụng tính tương tự-trò chơi vào cho những sự sử dụng ngôn ngữ phi-toán học.

Thực tại hóa đa dạng giữa các trò chơi đem lại cho quan niệm về trò chơi một sự hữu dụng đặc biệt, và Wittgenstein dùng nó để diễn đạt nhận thức mới của ông về tính đa dạng của những sự sử dụng ngôn ngữ. Việc so sánh giữa ngôn ngữ và trò chơi cờ được sử dụng cho nhiều mục đích (Philosophische Grammatik, 49f), nhưng giờ đây Wittgenstein ý thức rất rõ rằng trò chơi cờ, với những quy tắc chính xác của nó, không phải là điển hình cho tất cả các trò chơi, và những trò chơi khác có giới hạn quy tắc ít hơn, có thể đáp ứng yêu cầu như là những đối tượng so sánh với ngôn ngữ.

 

“Tôi đã nói rằng nghĩa của một từ là vai trò mà nó chiếm giữ trong phép tính (calculus) của ngôn ngữ. (Tôi đã so sánh nó với một quân cờ trên bàn cờ). Bây giờ ta hãy nghĩ về cách thức trong đó sự tính toán vận hành với một từ, từ “đỏ” chẳng hạn. [Khi] vị trí của màu được xác định, hình thức và kích cỡ đặc trưng cho điểm hay bộ phận của đối tượng có màu, [thì] ta nói được đó là màu thuần túy hay pha trộn với những màu khác, nhạt hay đậm, bất biến hay biến đổi, và vân vân. Những kết luận được phác họa từ những mệnh đề, chúng được chuyển dịch thành những minh họa và ứng xử (behavior); có việc phác họa, [theo] khuôn khổ và ước tính. Nhưng ta hãy nghĩ tương tự như vậy về nghĩa của từ ‘haizz…!’ Nếu được hỏi về nó, ta hầu như sẽ nói rằng ‘haizz…!’ là một tiếng thở dài; ta nói, chẳng hạn “haizz…, lại mưa nữa rồi”, kiểu như thế. Trong cách đó ta đã mô tả sự sử dụng từ. Nhưng bây giờ thì cái gì tương ứng với phép tính, với trò chơi phức tạp mà ta chơi với những từ khác? [Đó là] không [thể] có sự so sánh với nhau sự sử dụng các từ ‘ơ’, ‘hoan hô’, ‘ừm’” (Philosophische Grammatik, 67).

Trong đoạn văn này, ta có thể thấy Wittgenstein chuyển từ một sự biểu tả ‘phép tính’ vốn được ông ưa chuộng sang sự biểu tả về ‘trò chơi’ vừa mới được ông quan tâm. Từ ngữ mới mẻ ‘trò chơi ngôn ngữ’ được sử dụng sớm nhất ở trang 62 của quyển Philosophische Grammatik trong phần bàn về định nghĩa bằng việc chỉ trỏ (ostensive definion). Ông hoài nghi rằng liệu ta gọi việc trẻ con học tập nghĩa của các từ bằng việc chỉ vào các đối tượng và nghe phát âm tên gọi của chúng là “sự giải thích” thì có hợp lý hay không.

“Trò chơi ngôn ngữ (Sprachspiel) còn rất đơn giản và sự giải thích bằng cách chỉ trỏ đóng vai trò khác với trò chơi ngôn ngữ, vì một sự giải thích bằng cách chỉ trỏ như thế giữ vai trò trong những trò chơi ngôn ngữ được phát triển hơn nữa. (Chẳng hạn, đứa trẻ không thể hỏi [mà không chỉ trỏ] ‘Cái đó là gì?’) Nhưng không có ranh giới rõ ràng giữa những hình thức tiên khởi và những hình thức phức tạp hơn [của trò chơi ngôn ngữ]. Tôi ắt sẽ không biết rằng cái gì tôi có thể tiếp tục gọi là ‘giải thích’ và cái gì thì không thể. Tôi chỉ có thể miêu tả những trò chơi ngôn ngữ hay những phép tính. Liệu rằng việc chúng có thể tiếp tục vẫn được gọi là những phép tính thì có bình thường hay không, trong chừng mực ta không cho phép mình chệch hướng bằng việc sử dụng một hạn từ chung dựa trên bất kỳ trường hợp hoàn toàn cá biệt nào mà ta muốn xác định” (PG 67).

Việc nhấn mạnh vào sự giải thích trường hợp cá biệt được Wittgenstein làm mới lại khi ông khẳng định rằng ‘trò chơi’ – hay thậm chí rộng hơn, từ ‘Spiel’ trong tiếng Đức – là một hạn từ tương tự (analogous term) [1]. Không có gì đặc trưng chung cho mọi thứ mà ta gọi là những trò chơi; nhưng ta không thể nói theo kiểu khác rằng từ ‘trò chơi’ có một vài nghĩa độc lập giống như từ ‘ngân hàng’. Nó là một hạn từ tương tự (PG 75, 118). Nghĩ về riêng những trò chơi với banh: một số trò chơi, giống như tennis chẳng hạn, có một hệ thống những quy tắc phức tạp; nhưng [cũng] có một trò chơi chỉ bao gồm việc một người ném quả banh cao nhất có thể, hay trò chơi trẻ con ném một quả banh và chạy theo sau nó. Một số trò chơi có cạnh tranh, một số khác thì không (PG 68). Tư tưởng này được phát triển trong một đoạn văn nổi tiếng của quyển Philosophical Investigations, trong đó Wittgenstein phủ nhận rằng có bất kỳ một đặc trưng nào – kiểu như giải trí, tính cạnh tranh, tính tuân theo quy tắc, sự khéo léo – tạo thành một yếu tố phổ biến trong toàn bộ các trò chơi; thay vào đó ta thấy một mạng lưới phức tạp của những đặc điểm tương tự và những mối quan hệ chồng chéo và đan chéo vào nhau. Quan niệm về trò chơi được mở rộng như khi bện dây ta xoắn sợi này vào sợi kia. “Cái cột con tàu vào cầu tàu là dây chão, và dây chão bao gồm những sợi dây [nhỏ hơn], nhưng sức mạnh của dây chão không có được từ bất kỳ sợi dây [nhỏ hơn] nào vốn chạy xuyên qua nó hết sợi này đến sợi khác, mà có được từ một kiện là có một số lượng rất lớn những sợi dây [nhỏ hơn] chồng chéo lên nhau”. (PI, I, 65-67; BB 87).

Đặc trưng này của ‘trò chơi’ là đặc trưng mà Wittgenstein tin rằng nó có thể có chung với ‘ngôn ngữ’, và điều này đặc biệt thích hợp để gọi những ngôn ngữ mini cụ thể là ‘những trò chơi ngôn ngữ’. Chúng là những trò chơi ngôn ngữ khác. Điều quan trọng nhất, thậm chí không phải là toàn bộ những trò chơi ngôn ngữ đều có các quy tắc, [mà chính là] chức năng của các quy tắc trong những trò chơi ngôn ngữ có những sự tương tự với chức năng của các quy tắc trong ngôn ngữ (PG 63, 77). Những trò chơi ngôn ngữ, giống như những trò chơi, không cần có mục đích ngoại tại; chúng có thể là những hoạt động tự trị (PG 184; Z 320). Nhưng sự so sánh ngôn ngữ với một trò chơi không có nghĩa là Wittgenstein đề nghị xem ngôn ngữ như một trò giải trí tiêu khiển, hay là một cái gì tầm thường: ngược lại, so sánh như thế có nghĩa là đem lại sự kết nối giữa việc nói ngôn ngữ và những hoạt động phi ngôn ngữ. Thật vậy, việc nói ngôn ngữ là một phần của hoạt động chung, là một cách thế sống trong xã hội mà Wittgenstein gọi là một “hình thức cuộc sống” (PI, I, 23). Thông qua sự chia sẻ trong việc chơi những trò chơi ngôn ngữ mà ngôn ngữ được kết nối với cuộc sống của ta (PG 65).

 

(còn tiếp)

dịch từ: Anthony Kenny, 2006, Wittgenstein, Revised Edition, Blackwell, USA, từ trang 126-


[1] Hạn từ tương tự (analogous term): thuật ngữ trong logic học, chỉ một danh từ đồng cấp với một danh từ khác nhưng là thuộc cấp của danh từ khái quát hơn. Ví dụ “chó” là hạn từ tương tự với “mèo”, nhưng tất cả chúng đều là “động vật” (ND).

 

Read Full Post »

NHỮNG TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ

Lý thuyết về nghĩa (meaning) xét như sự sử dụng được kết nối chặt chẽ với quan niệm về một trò chơi ngôn ngữ. Tuy trong Tractatus [Wittgenstein] không đề cập đến những trò chơi ngôn ngữ, nhưng đã tạo ra mối liên kết giữa nghĩa và sự sử dụng. Ở mục 3.32, Wittgenstein phân biệt giữa kí hiệu (sign) và biểu trưng (symbol). Kí hiệu là cái mặt nhận biết được một cách hợp lý trong biểu trưng, và hai biểu trưng khác nhau có thể có chung kí hiệu (âm thanh được nói hay được viết). Nơi đó chúng biểu thị theo những cách khác nhau. Để nhận thức biểu trưng trong kí hiệu, ta phải xem xét sự sử dụng ý nghĩa (significance) (Tractatus 3.327). Nếu một kí hiệu không có sự sử dụng thì nó vô nghĩa; mặt khác nếu mọi cái gì [được] xét như thể một kí hiệu có nghĩa, thì nó có nghĩa. Phạm vi sử dụng của nó, [khi] nó hiện diện, là cú pháp logic (logical syntax) của nó (Tractatus 3.328). Ta đã nói ‘một kí hiệu không xác định một hình thức logic trừ phi nó được vận dụng cùng với sự vận hành cú pháp logic của nó’: nhưng sự vận hành phải liên quan đến cái gì thêm vào cho hình thức logic, vì sự sử dụng là đầy đủ và thiết yếu đối với nghĩa, ngược lại, trong cú pháp logic, nghĩa (Bedeutung) của một kí hiệu không phải đóng một vai trò nào cả (Tractatus, 3.33). Điều thiếu vắng ở đây là mối tương liên giữa các kí hiệu, với những thuộc tính cú pháp-logic của chúng, và sự quy chiếu của các kí hiệu. Sau đó Wittgenstein tin rằng sự tương liên này là một sự kiện tâm lý: nó không có vị trí trong nhiệm vụ của triết gia, lý thuyết gia về ký hiệu học sẽ tìm hiểu nó (Notebooks 1914 – 1916, 129).

Nói cụ thể, sự sử dụng của một mệnh đề là sự vận dụng (application) của nó. Sự vận hành của nó như một bức tranh, bằng sự tương liên của những yếu tố trong nó với những yếu tố của một sự tình (state of affairs) có thể có. Một tư tưởng, tức một mệnh đề có nghĩa, là một kí hiệu có tính mệnh đề (một câu) được vận dụng vào cho một tư tưởng về thế giới (Tractatus 3.5, 4).

Sau bước ngoặt triết học của ông, như ta đã thấy, Wittgenstein bắt đầu nghĩ rằng mình đã sai trong việc xem mối tương liên của những cái tên với những đối tượng được đặt tên như là vấn đề ngoại tại và không có giá trị triết học. Cùng lúc đó, ông bắt đầu xét mối tương liên này như là một sự tối giản hóa cho sự kết nối giữa ngôn ngữ và thực tại bao gồm chỉ hai yếu tố, mối quan hệ-tên và bản tính bức tranh của mệnh đề. Cùng với những vấn đề khác, vấn đề này dẫn đến sự phát triển lý thuyết về nghĩa như sự sử dụng và sự khám phá ý niệm về những trò chơi ngôn ngữ. Như ta đã đề cập, ông tin rằng một cái tên thực hiện chức năng như một cái tên chỉ trong ngữ cảnh của một hệ thống những hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; để giải thích rõ hơn cách thức tồn tại của nó ta buộc phải rời khỏi nhiệm vụ của nhà tâm lý học; sự diễn tả về những trò chơi ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ chính yếu của triết gia.

Trong Tractatus, Wittgenstein đã trích dẫn lời Frege: chỉ trong ngữ cảnh của một mệnh đề mới làm cho một cái tên có quy chiếu (Tractatus 3.3). Trong Bemerkungen, điều này được giải thích trong một mối quan tâm khác: ông nói, giống như khi ta nói rằng chỉ trong sự sử dụng thì một cái cây mới là cái đòn bẩy (BM, 140). Đây là một trong những lần xuất hiện sớm nhất của sự so sánh giữa các từ và các công cụ, như ta sẽ thấy là nó đóng một vai trò như là một phần quan trọng trong tư tưởng của Wittgenstein hậu kỳ. Sự vận dụng đầu tiên của Wittgenstien về ẩn dụ trò chơi xuất hiện trong cuộc đối thoại ở nhà Schick vào tháng sáu năm 1930, khi bàn luận về chủ nghĩa hình thức trong toán học. Đoạn văn sau đây đáng chú ý và đáng được trích ra đầy đủ:

“Chủ nghĩa hình thức có cả chân lý lẫn sự sai lầm. Chân lý nơi chủ nghĩa hình thức là mỗi cú pháp có thể được xem như là một hệ thống của các quy tắc cho một trò chơi. Tôi đã từng suy nghĩ về việc Weyl có ý gì khi ông ta nói rằng một nhà chủ nghĩa hình thức xem những tiên đề của toán học như là các quy tắc của trò chơi cờ. Tôi muốn nói rằng: không chỉ các tiên đề của toán học, mà toàn bộ cú pháp là có tính võ đoán (arbitrary).

Ở Cambridge, tôi đã được hỏi liệu tôi có nghĩ rằng toán học liên quan đến những vết mực trên giấy hay không. Tôi trả lời: chỉ trong nghĩa đó thì trò chơi cờ liên quan đến những miếng gỗ. Tôi nghĩ trò chơi cờ không cốt ở việc ta đẩy những miếng gỗ dọc ngang trên miếng ván. Nếu tôi nói “Nào bây giờ tôi sẽ tự mình làm quân hậu có đôi mắt dễ sợ, bà ta sẽ xua đuổi mọi thứ ra khỏi bàn cờ”, bạn sẽ cười tôi. Vấn đề không phải là quân tốt trông giống cái gì. Vấn đề quan trọng hơn là trường hợp tính toàn bộ của những quy tắc của trò chơi thiết định không gian logic của quân tốt. Một quân tốt là một biến số (variable), giống như ‘x’ trong logic…

Nếu bạn hỏi tôi rằng: sự khác biệt giữa trò chơi cờ và cú pháp của ngôn ngữ nằm ở đâu, tôi sẽ trả lời: chỉ trong sự ứng dụng của nó… Nếu người trên sao Hỏa gây ra chiến tranh giống như đi những quân cờ của trò chơi cờ, thì các vị tướng sẽ dùng quy tắc của trò chơi cờ để tiên đoán các nước đi. Thì sẽ có một vấn đề khoa học là liệu quân vua có thể bị chiếu bằng một sự vận hành các quân cờ nào đó trong ba nước đi hay không, và vân vân…” (Ludwig Wittgenstein und der Wiener Kreis, 104).

So sánh giữa một hệ thống tiên đề và một trò chơi cờ được lặp lại và phát triển nhiều lần trong những đối đoại với Waismann (Ludwig Wittgenstein und der Wiener Kreis, 163, 170) và cũng có lưu ý rằng nó đã được định trước trong quyển Grundgesetze der Arthmetik của Frege (Ludwig Wittgenstein und der Wiener Kreis, 150-1). Nhưng không có một ý niệm chung nào về trò chơi ngôn ngữ; và quả thực, [ở đây] nghiên cứu về những trò chơi ngôn ngữ không [xuất hiện] nhiều như nghiên cứu về phép tính giống như trò chơi, là một loại nghiên cứu về những cách thức trong đó một phép tính có thể được vận dụng. Hơn nữa, cũng không có bất kỳ suy nghĩ nào về những khác biệt giữa những trò chơi khác nhau: trò chơi cờ, với những quy tắc hình thức chặt chẽ của nó, luôn được dùng như là ví dụ.

(còn tiếp)

dịch từ: Anthony Kenny, 2006, Wittgenstein, Revised Edition, Blackwell, USA, từ trang 126-


Read Full Post »

Năm 1929, Wittgenstein trở về lại đại học Cambridge. Trước đó, Keynes đã khuyên Wittgenstein trở về, giờ thì Keynes viết cho vợ mình rằng: “Vậy là, Chúa đã trở lại. Anh gặp ngài trên xe lửa chuyến 5.15”.

Nhưng Wittgenstein không có tiền và cũng chẳng có bằng cấp. Nên ông quyết định trình quyển Tractatus để lấy bằng tiến sĩ. Bạn cũ của ông là Moore, giờ đã là giáo sư triết, và Russell, một triết gia đại giáo sư, cùng ngồi hội đồng. Buổi bảo vệ diễn ra thật hài. Và kết thúc bằng cảnh Wittgenstein vỗ vai hai đại giáo sư an ủi:

“Yên tâm, tôi biết rằng các ông không bao giờ hiểu nổi nó!”.

Và tất nhiên, cuốn sách ngắn gọn kỳ quặc được đưa ra để bảo vệ ấy trở thành cuốn sách lừng lẫy chốn giang hồ.

Read Full Post »

NHỮNG NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC

Quyển sách nổi tiếng nhất của Wittgenstein là Những nghiên cứu triết học, in sau khi ông mất hai năm. Trong phần một, chiếm khoảng hai phần ba cuốn sách, những nhận xét được ông chọn lựa và sắp đặt theo trật tự. Cuốn sách được viết một cách kỹ lưỡng và chăm chút, liên quan đến nhiều chủ đề: “những quan niệm về ý nghĩa, về việc hiểu, về một mệnh đề, về logic, về những cơ sở của toán học, về các trạng thái của ý thức và về những điều khác”.

Cũng giống như Tractatus, quyển sách được viết theo hình thức những dãy ghi chú, nhưng những ghi chú này có chiều hướng dài hơn và ít giống hình thức châm ngôn hơn là cuốn Tractatus.

Cũng có một số ghi chú viết theo hình thức đối thoại với một người thế vai nói từ những địa vị khác nhau.

Nó cũng có vài hình ảnh, một ít châm biếm, và vài chỉ dẫn.

Nó dễ đọc hơn quyển Tractatus, vì không có các biểu trưng logic, nhưng coi chừng bị cái vẻ dễ đọc này đánh lừa!

TRIẾT HỌC LÀ GÌ?

Wittgenstein luôn luôn bận tâm đến vấn đề bản tính của triết học, và từ những năm 1930 thì ông bắt đầu nhận thức rõ rằng triết học là một SỰ TRỊ LIỆU (THERAPY). Đây là một góc nhìn có từ thời cổ đại, chẳng hạn như Socrates và một số triết gia Hy Lạp cổ đại đã làm triết học theo cách này.

“Mục đích của triết học là: những tư tưởng đạt đến sự thanh thản”.

Ta không sống thanh thản với chính mình hay với người khác vì ta bị bó buộc trong những lề lối tư duy (habits of thought) vốn gắn bó chặt chẽ với “cách thế sống của con người”.

Wittgenstein đã chỉ ra rằng có một mối liên hệ hiển nhiên giữa ngôn ngữ và những cách thế sống ở đời.

“Cách thế ta sống ở đời được phản chiếu vào trong ngôn ngữ” (Wittgenstein).

“Con người thực sự bị vướng víu vào triết học –  nghĩa là vướng vào những sự nhầm lẫn thuộc về ngữ pháp. Họ không thể được tự do nếu không trước tiên phải thoát khỏi những liên kết bất thường đã giam giữ họ như những tù nhân. Anh sẽ giải phóng họ nếu anh tái tạo lại ngôn ngữ thuần túy của họ. – Nhưng ngôn ngữ này đã trưởng thành như nó đã là, vì con người đã có – và có – xu hướng nghĩ theo cách đó” (Wittgenstein).

TRỊ LIỆU BẰNG NGHIÊN CỨU

Một rắc rối của Tractatus là nó đã nỗ lực để thấu suốt sự vật. Làm như thể là bản chất của sự vật đã bị che dấu khỏi ta, và bằng sự phân tích, ta khai quật lên những gì có ở trong nó. Vì vậy nó yêu sách phải tìm thấy những chân lý “tối hậu và không thể nghi ngờ” và “giải pháp chung quyết cho các vấn đề”.

“Sự trị liệu mới của tôi đơn giản là đặt mọi thứ ra trước mắt, và không giải thích lẫn không suy luận bất cứ cái gì”.

Công trình của triết gia chủ yếu tập hợp những nhắc nhở (remineders) cho một mục đích cụ thể. Triết học đơn giản là những âu lo cá nhân cụ thể được gọi là “những vấn đề triết học” – nhưng chúng không phải là những âu lo thường xuyên được triết học hàn lâm nhận thức.

“Khía cạnh của những sự vật quan trọng nhất đối với ta thì bị che giấu vì TÍNH ĐƠN GIẢN và TÍNH THÂN THUỘC của chúng” (Wittgenstein).

XEM LÀ HIỂN NHIÊN

Triết học hậu kì của Wittgenstein chẳng dè dặt thăm dò theo cách thức cần có của một nhà khoa học trong việc trình bày những kết quả nghiên cứu của mình. Ngược lại, Wittgenstein tư duy về cách thức của ông ấy bằng những hình thức đã được xem là hiển nhiên của ngôn ngữ hằng ngày.

“Tôi làm điều này để đắm mình trong dòng sông hoài nghi nhằm làm mới lại năng lực tư duy của tôi” Wittgenstein.

Sự chìm đắm này có thể giải thoát ta khỏi những lề lối tư duy đã trở thành thâm căn cố đế trong ta. Ông muốn có một sự xem xét rõ ràng về những rắc rối của ta.

Vấn đề triết học có hình thức: “Tôi hầu như không biết con đường của tôi” Wittgenstein.

Ông hành động theo kiểu chỉ dẫn, để ta nhìn thấy mảnh đất thực sự mà ta đang đi qua, thay vì để ta vùi đầu vào cái bản đồ. Đó là lý do tại sao khi ta thực sự nhìn thấy, thì ta phải đồng ý với ông ấy.

PHƯƠNG PHÁP

Thế thì phương pháp của Wittgenstein là gì?

Ông chẳng quan tâm gì đến những lập luận để thiết lập luận điểm, theo cách của hầu hết giới triết học truyền thống.

Thay vào đó, ông dạy cho ta kĩ năng phê phán và lay chuyển, nghĩa là tìm cách làm rạn vỡ những tính đồng nhất giả tạo cấu tạo nên tâm trí của ta, để ta có thể nhìn thấy những sự khác nhau.

“Tôi muốn dùng một phương châm rút ra từ vở kịch KING LEAR: “Tôi sẽ dạy cho ngài những khác biệt trong cách ứng xử” [1].

“Không có một phương pháp triết học, mà có các phương pháp, giống như những cách trị liệu khác nhau”. (NHỮNG NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC, 133).


[1] “I’ll teach you differences” – King Lear, Hồi I, Cảnh IV. Thế Lữ dịch là “Tôi sẽ giảng cho ngài biết giữ lễ, nghe không”.

dịch từ Introducing Wittgenstein

Read Full Post »

CON RUỒI

Vấn đề triết học có hình thức: “Tôi hầu như không biết con đường của tôi” (Wittgenstein).

Câu này liên quan đến câu của Wittgenstein mà tôi đã từng hiểu sai: “Làm triết học là chỉ cho con ruồi lối ra khỏi cái lọ bẫy ruồi”.

Thế mới biết đọc kĩ thì thấy mình đang ở trong cái lọ bẫy ruồi!

Read Full Post »

NHỮNG SỰ THẬT KHÔNG TỒN TẠI

Wittgenstein đã có những hiểu biết thấu đáo về bản tính của ngôn ngữ và bản tính của thế giới từ rất sớm. Trong khóa học đầu tiên khi ông còn là một sinh viên, theo lời kể của Russell: “Lúc ấy anh ta đã khăng khăng cho rằng, chẳng hạn như, các mệnh đề tồn tại là không có nghĩa”.

Lúc này ở lớp học, và Russell đề nghị Wittgenstein xem xét một mệnh đề:

“Không có một con hà mã trong phòng lúc này, tôi đã nhìn khắp và tôi không thấy nó”.

Wittgenstein thì nói: “Có một con hà mã trong phòng”.

Wittgenstein đã có một sự lập thức từ sớm về điều mà ông sẽ nhận thức rõ hơn trong quyển Tractatus – đó là ta có thể nói về tồn tại chỉ khi ta xác nhận sự thật của một mệnh đề nào đó vốn không tự -tồn tại.

Trong cái ảnh trên thì Em Ngọc Trinh có mặc quần áo hay không? Có thể có hoặc có thể không. Nhưng sự thật là “em Ngọc Trinh” và “áo quần” là hai đối tượng có thể kết hợp được với nhau! Sự thật này có thể tồn tại trong thực tế và có thể không. Nhiệm vụ của các phóng viên là đi tìm hiểu đều này, chẳng hạn bằng cách đếm số lượng và xác định vị trí nốt ruồi của em nó!

Còn tôi, tôi chỉ ngồi suy nghĩ xem sự thật là điều này có thể xảy ra hay không?

NHỮNG CÁI TÊN, NHỮNG ĐỐI TƯỢNG VÀ NHỮNG QUAN HỆ KHÁI NIỆM

Bây giờ thì cái gì trong ngôn ngữ tương ứng với những sự vật đơn lẻ kết nối với nhau tạo thành bản thể của thế giới?

Những yếu tố trong các mệnh đề là những cái tên (names) hay những kí hiệu (signs) đơn lẻ kết hợp lại với nhau nhằm xác định những cách thức trình bày thể cách tồn tại của sự vật.

“Những cái tên” này không giống với những tên thông thường chẳng hạn như Ngọc Trinh hay Đinh La Thăng!

Nhưng những yếu tố hay “những cái tên” trong mệnh đề chỉ có thể được giải thích trong sự sử dụng thực tiễn của ngôn ngữ để miêu tả mà thôi.

“Vấn đề là tôi không thể cho bất kì ví dụ nào về những cái tên như thế, và bạn sẽ nhận ra lý do ngay sau đây” (Wittgenstein).

Ta hiểu những cái tên thông thường từ bên trong ngôn ngữ nhờ vào những định nghĩa hay những lời mô tả.

Theo đó ta chỉ có thể lĩnh hội được các quan hệ khái niệm bằng việc phân tích logic về những câu thông thường trình hiện cho ta cách thức chúng được thiết định bằng những sự kết hợp có căn nguyên từ những đối tượng đơn lẻ.

HAI MÔ-MEN ĐỘC LẬP

Nhưng ở bề sâu nhất thì có hai mô-men độc lập – sự kiện về sự kết hợp và sự kiện là có những đối tượng được kết hợp như thế. Toàn bộ những điều này đem lại cho ta một nhận thức đại cương về cách thức ngôn ngữ có thể được hiểu mà không có sự giải thích cho ta về việc tồn tại của nó.

“Hãy nhớ – ta chỉ NÓI cho trẻ con, và chúng học. Ta không phải trước tiên giải thích cho chúng ngôn ngữ là gì” (Wittgenstein).

Nhiệm vụ của triết học là phê phán, biện biệt. Nó làm rõ những giới hạn của ngôn ngữ có nghĩa. Khoa học, mặt khác, bao gồm toàn bộ những mệnh đề đúng. Nó nghiên cứu sự tồn tại hay không tồn tại của sự tình.

Khoa học làm việc trong ý nghĩa và ngôn ngữ. Do vậy, nếu ta hỏi một nhà hóa học là cái gì tạo ra nước, ông ta sẽ trả lời là oxygen và hydrogen, và ông ta có thể chứng minh điều này.

Trong hình học, ta có thể nói rằng một đường thẳng được tạo nên từ một số lượng vô hạn các điểm và nhiều suy luận có thể được rút ra từ điều này.

Những phân tích của Wittgenstein không giống như của nhà khoa học. Ông chú trọng vào những giới hạn của ý nghĩa và ngôn ngữ.

“Đó là lý do tại sao tôi không thể đưa ra cho bạn ví dụ về “những đối tượng hay những cái tên đơn lẻ”. Những cái tên chỉ xuất hiện trong VĂN CẢNH CỦA MỘT MỆNH ĐỀ”.

Một cái tên theo nghĩa này không phải là một cái nhãn dán vào một đối tượng, mà là cái thuộc về những quy tắc cho sự kết hợp với những cái tên khác. Ta không thể chỉ ra những đối tượng đơn lẻ, vì không gian và thời gian là những kiểu hình (forms) của đối tượng. Những đối tượng tạo nên bản thể của thế giới – chúng chứa tính khả thể của toàn bộ các tình huống.

Do vậy ta thậm chí không thể nói rằng những đối tượng tồn tại hay không tồn tại, vì chúng không là những sự kiện hay những sự vật. Chúng chỉ hữu dụng trong chừng mực chúng giúp ta giải thích bản tính của các mệnh đề. Và những mệnh đề là quan trọng chỉ khi chúng rọi ánh sáng vào tư tưởng.

Tóm lại:

Ngọc Trinh ngoài đời khác với Ngọc Trinh là một đối tượng để ta xem xét có thể có sự kết hợp với đối tượng quần áo được không.

Một phóng viên sẽ đi theo Ngọc Trinh ngoài đời để tìm cách chụp hình cô khi mặc và không mặc quần áo (có sự đồng ý của cô thông thì là chuyện khác).

Một người như Wittgenstein sẽ không làm chuyện đó, ông sẽ hình dung các khả năng kết hợp của hai đối tượng này. Các khả năng chẳng hạn như: Có Ngọc Trinh nhưng không có quần áo, Có quần áo nhưng không có Ngọc Trinh, có quần áo và có Ngọc Trinh, không có quần áo và không có Ngọc Trinh….

Các khả năng này là những kiểu hình: Ngọc Trinh thì có thể kết hợp với quần áo, giày, dép, nón, mũ… ; còn quần áo thì có thể kết hợp với Ngọc Trinh, Đinh La Thăng, và Wittgenstein…

Một thế giới của những đối tượng và những kiểu hình như vậy là đúng sự thật, được nhìn như một không gian logic.

(Không biết tôi hiểu vậy có đúng không nữa!)

nguồn: dịch từ Introducing Wittgenstein

Read Full Post »

Nhìn khái quát,

Quyển sách được cấu trúc như một tổng thể hữu cơ. Wittgenstein phê bình tư tưởng hệ thống trong triết học, vốn được xây nên từ những nền tảng. Nói một cách nghiêm ngặt thì không có khởi đầu hay kết thúc cho quyển Tractatus. Ta bắt đầu ở chính giữa! Ông cho thấy điều này bằng việc tạo ra câu đầu và câu cuối độc lập với nhau.

Câu đầu tiên đây:

THẾ GIỚI LÀ TOÀN BỘ NHỮNG GÌ LÀ ĐÚNG SỰ THẬT.

Và câu cuối cùng: CÁI GÌ TA KHÔNG NÓI ĐƯỢC, TA PHẢI LÀM THINH.

Câu cuối cùng cho rằng chỉ những mệnh đề về sự kiện là có nghĩa, nên thế giới chỉ bao gồm những sự kiện. Nhưng câu thứ nhất, khi phát biểu rằng thế giới là toàn bộ những gì đúng sự thật, đã tiền giả định rằng thế giới , thì câu thứ nhất này cũng không thể nói ra được, nếu hiểu nó theo nghĩa của câu cuối cùng. Quá dữ. hehe.

Tư tưởng duy nhất đang được cuốn sách triển khai một cách hữu cơ là tư tưởng về sự phân biệt giữa cái gì có thể nói ra được và cái gì có thể chỉ xuất hiện ra.

Về mặt hình thức,

Quyển sách được phân chia thành nhiều phần dựa trên hệ thống số đếm. Chúng được sắp đặt theo một hệ thống những ma trận phức tạp cấu trúc xung quanh số 7. Điều này chỉ ra cách thức mỗi nhận xét chứng minh và được chứng minh bằng cái còn lại.

Về mặt cảm hứng,

Wittgenstein đã trải nghiệm những hậu quả phi nhân hóa của thời hiện đại, trong một cuộc chiến tranh cơ khí, một chiến lược lớn của cuộc chiến tranh tổng thể. Chúng đã gây ra những cuộc tàn sát hằng triệu con người trong một hoàn cảnh kinh khủng không thể tưởng tượng nổi. Tác động nào, chẳng hạn như một trải nghiệm về sự điên loạn của quần chúng, đã xảy đến với một người vô cùng nhạy cảm và có một đầu óc logic của một kỹ sư như Wittgenstein?

Sự chính xác đến mức nghiêm ngặt của Tractatus, hầu hết đều mang ý nghĩa huyền bí về trật tự, đã được triển khai như kiểu hình của một nghĩa trang mênh mông với những dãy hầm công sự. Đó phần nào là thái độ phản ứng theo kiểu làm sạch tinh thần của Wittgenstein nhằm chống lại sự hỗn độn và buồn thảm.

(giải trí cho đỡ căng thẳng!)

NHỮNG SỰ KIỆN KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG SỰ VẬT

Cuốn sách bắt đầu bằng việc nói rõ cách thức tồn tại của thế giới.

Thế giới là tính toàn bộ của những sự kiện, không phải là tính toàn bộ của những sự vật, và nó được phân tách thành những sự kiện độc lập chia cắt thế giới.

Bằng một ngôn ngữ bí ẩn, ông không quy chiếu cái thế giới mà ông đang nói vào thế giới mà ta đang trải nghiệm trong không gian và thời gian, mà quy chiếu nó vào một không gian logic.

Những sự vật, giống như cái ghế này hoặc cái cây kia, là không độc lập với môi trường xung quanh nó, và như thế chúng không phải là những sự kiện.

Còn những sự kiện thì tồn tại trong không gian logic và độc lập với sự kiện khác và có thể chỉ được tuyên bố hoặc được xác nhận.

Sự kiện là có một cái ghế trong căn phòng này.

sự kiện là không có một con hà mã.

Nơi nào những sự vật tồn tại, thì chúng tồn tại trong không gian và thời gian và có những thuộc tính chẳng hạn như độ cứng, màu sắc, vân vân…

Hehe, nghĩa là cha này nhìn cô gái bằng tổng thể những cái ô vuông!

“Ngọc Trinh không có áo quần” không có nghĩa là cô trưng bày vẻ đẹp thân thể ra cho bàn dân thiên hạ xem, mà nghĩa là chỉ có hai sự kiện là có “Ngọc Trinh” và “không có áo quần”.

Tôi phản đối cách nhìn này! Báo chí sẽ không còn mấy tin “lộ hàng” nữa, và tôi sẽ không hứng thú gì hết!

NHỮNG SỰ KIỆN, NHỮNG BỨC TRANH VÀ NHỮNG SỰ TÌNH

Bây giờ sự kiện có thể tồn tại theo cách khác – một con hà mã có thể có trong phòng – do vậy ta phải lĩnh hội những khả thể độc lập của việc thực tại hóa chúng.

“Ta có thể hình dung những sự kiện cho chính ta” (Wittgensten)

Những bức tranh về sự kiện này được phản chiếu vào ngôn ngữ nhằm đem lại cho ta ý nghĩa, do vậy ta có thể nói sự thật là một con hà mã không có trong phòng.

Như vậy điều này cho thấy khả năng là thế giới phải được bao gồm những đối tượng đơn lẻ khớp nối với đối tượng khác giống như những mắt xích trong một chuỗi định hình cho những sự tình (states of affairs).

Thực tại là sự tồn tại hay không tồn tại của những sự tình này.

Ông này nhìn thế giới như một thầy tu. Chán quá!

nguồn: vừa dịch vừa tán nhảm từ cuốn “Introducing Wittgenstein”.

Read Full Post »

Older Posts »