Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một 2nd, 2012

“Trở về phương Đông” lời giải hay câu hỏi?

Gần đây, có ý niệm cho rằng cần phải cảnh giác trước các lý thuyết phương Tây, các lý thuyết phương Tây đã phá sản, nên quay trở về phương Đông, thậm chí quay trở về Việt Nam trong việc vận dụng các lý thuyết văn học và quan điểm triết học.

Mối quan tâm này trở nên nhiệt thành hơn khi đây đó xuất hiện một vài bài dịch, vài cuốn sách dịch có tính phản tư của các lý thuyết gia phương Tây về sự lâm nguy, hay sự không chắc chắn của lý thuyết (mà ở đây là lý thuyết phương Tây), về minh triết phương Đông và triết học phương Tây, về triết học và lý luận văn học hậu hiện đại…

Mối quan tâm này nhìn chung không có gì mới. Ở vào mỗi cuộc tiếp xúc giữa một nước phương Đông và văn minh phương Tây, đều có một mệnh đề phản-tiếp xúc như vậy. Chẳng hạn như vào giai đoạn đầu của sự tiếp xúc Đông – Tây đầu thế kỷ XX tại Việt Nam, bên cạnh quan niệm cổ vũ cho hiện đại hóa, tiếp xúc và hội nhập phương Tây, cũng có các ý kiến phê phán, cưỡng lại sự tiếp xúc đó. Thậm chí, sớm hơn, cuối thế kỷ XIX, ta đã thấy ý tưởng như vậy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

“Trời Đông mà gió Tây qua,

Hai hơi ấm mát chẳng hòa đau dân

Nhớ câu ‘vạn bệnh hồi xuân’

Đòi ngày luống đợi Đông quân cứu đời”

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Xét rộng hơn, đầu thế kỷ XX, đây là một nét chung có ở các nước thuộc địa, khi tiếp xúc với văn hóa, văn minh của các nước thực dân đế quốc.

Điều này được lặp lại trong bối cảnh vừa mới mở cửa trở lại của ta với các nước phương Tây. Hơn nữa, với ta, đó là sự mở cửa kép: phương Đông và phương Tây, thế giới các quốc gia xã hội chủ nghĩa và thế giới các quốc gia tư bản chủ nghĩa.

Tuy nhiên, đối với giai đoạn này của chúng ta, những ý niệm như vậy có hợp lý không, và nó cho thấy điều gì?

Trước hết, phải phân biệt sự phản tư của các lý thuyết gia phương Tây và việc bắt chước sự phản tư ấy nơi các nước đang phát triển. Một sự tự phê phán dĩ nhiên khác với sự phê phán. Cũng như một người đã trưởng thành phê phán lối học sách vở thì khác với một học sinh phê phán kiến thức sách vở, vì sự phê phán thứ nhất là một sự ngoái nhìn để tiến tới, còn sự phê phán thứ hai đơn thuần là sự phủ định, khước từ. Cũng như khi Rousseau phê phán văn hóa, văn minh, đề cao lối giáo dục tự nhiên, thì đó là phê phán trong tinh thần và thời đại Khai Minh, khuyên con người học làm người một cách tỉnh táo, chủ động, không phải là ý tưởng khuyên con người ta nên vào rừng mà sống như người nguyên thủy.

Cũng cần phải phân biệt sự từ chối tiếp xúc của những người yêu nước cuối thế kỷ XIX với sự từ chối tiếp thu của một số người ngày nay. Những người yêu nước cuối  thế kỷ XIX có một tấm lòng nhiệt thành đối với đất nước; vả chăng, đến đầu thế kỷ XX, tư tưởng yêu nước chủ đạo vẫn là tiếp thu, học tập nước ngoài để “về giúp đồng bào ta”. Và lịch sử đã chứng minh rằng họ thành công. Còn với chúng ta hôm nay, sự từ chối tiếp thu và học tập, cùng với khát vọng tạo ra cái gì đó riêng cho Việt Nam, riêng cho phương Đông vượt ngoài quy chuẩn chung, trong một nỗ lực hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay, dường như bắt nguồn từ tâm lý vừa ham muốn, vừa khước từ, và tâm lý muốn đi tắt, đón đầu, nhanh chóng xong hiện đại hóa. (Việc sử dụng chữ “hậu hiện đại” không phân biệt lĩnh vực và phạm vi khi xem xét các hiện tượng tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật tại Việt Nam cũng biểu hiện cho tâm lý này).

Hoài Thanh khi phân tích quá trình hình thành thơ Mới và cuộc kháng cự của nền thơ cũ có thuật lại sự việc rằng:

“Cô Bích Ngọc đề tựa tập thơ cũ Những bông hoa trái mùa khuyên làng thơ nên bỏ “ao ngoài” về tắm “ao nhà”. Lê Ta thuật lời  khuyên của cô chỉ thêm mấy chữ: “…dù ao nhà ấy đầy những bùn, những bẩn. Tôi buồn rằng người thục nữ có duyên đến thế lại kém vệ sinh”!

Do đó, câu hỏi đặt ra với chúng ta không phải là có nên hay có thể quay trở về phương Đông? Mà là, quay trở về phương Đông bằng cái gì? Và quay về để đi đến đâu?

Hoàng Phong Tuấn.

Advertisements

Read Full Post »