Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2012

LÝ THUYẾT HẬU THUỘC ĐỊA CỦA SPIVAK

TRONG TIỂU LUẬN “HẠ ĐẲNG CÓ THỂ NÓI ĐƯỢC KHÔNG?”

 

Hoàng Phong Tuấn dịch

“Phê phán của Spivak đối với các mô hình phương tây về ý thức giai cấp và tính chủ thể được triển khai sâu rộng hơn trong tiểu luận “Hạ đẳng có thể nói được không?”, một tiểu luận in lần đầu trên tạp chí Wedge (1985) và sau đó in lại trong một tập hợp những tiểu luận, có nhan đề là Marxism and the Interpretation of Culture (1988). Trong tiểu luận này, Spivak đặt cạnh nhau những yêu sách cấp tiến của các trí thức Pháp thế kỷ XX như Michel Foucault và Gilles Deleuze. Những yêu sách này biện bạch cho yêu cầu đầy cao ngạo và đã bị bác bỏ của chủ nghĩa thực dân Anh [nhằm] cứu vớt những phụ nữ bản địa khỏi sự thực thi nghi lễ hiến tế quả phụ của đạo Hindu vào thế kỷ XIX ở Ấn Độ. Điểm chính của vị trí tương cận này nhấn mạnh cách thức mà tầng lớp trí thức phương tây cấp tiến và nhân từ có thể làm câm lặng một cách đầy nghịch lý [tầng lớp] hạ đẳng bằng việc yêu cầu [được] đại biểu và phát ngôn cho những trải nghiệm của họ, [và] trong cách thức đó mà những nhà thực dân nhân từ đã làm câm lặng tiếng nói của người quả phụ, người đã ‘chọn’ cách chết theo chồng họ trên giàn hỏa thiêu. Như tôi sẽ trình bày, trong cả hai ví dụ trên, sự bốc đồng nhân từ [muốn] đại biểu cho những nhóm hạ đẳng đã cưỡng đoạt một cách đầy hiệu nghiệm tiếng nói của [tầng lớp] hạ đẳng và do đó, làm họ lặng câm.

Sự đại biểu chính trị dường như có mục đích rõ ràng là nhằm giải thoát những nhóm hạ đẳng khỏi sự bóc lột. Tuy nhiên, như tiểu luận “Hạ đẳng có thể nói được không?” cho thấy, những điều kiện có tính cấu trúc và tính lịch sử của sự đại biểu chính trị không bảo đảm rằng những lợi ích của các nhóm hạ đẳng cụ thể sẽ được nhận ra hay tiếng nói của họ sẽ được lắng nghe.

Phê phán của Spivak về Deleuze và Foucault khởi đầu từ giả thiết của bà cho rằng những cấu trúc gia cố cho sự biểu trưng thẩm mỹ (trong mỹ thuật, văn học hay các văn bản điện ảnh) [thì] cũng gia cố cho sự đại biểu chính trị. Khác biệt chung giữa cấu trúc [có tính] thẩm mỹ và cấu trúc [có tính] chính trị của sự biểu trưng/ đại biểu là ở chỗ sự biểu trưng thẩm mỹ tiến tới đặt nền cho vị thế của nó như là một sự tái-biểu hiện thực tại, trong khi đó sự đại biểu chính trị phủ nhận cấu trúc biểu trưng [thẩm mỹ] này.

Theo Spivak, vấn đề đối với Foucault và Deleuze là họ lánh đi vai trò của họ như là những trí thức trong việc [họ] đại biểu cho những nhóm bị tước quyền mà họ đã mô tả. Spivak so sánh sự lánh mặt này như một lễ hội giả trang trong đó trí thức như một “người không đại biểu cho người vắng mặt … [lại] cho phép người bị áp bức nói về bản thân họ”. Đối lập lại với toàn bộ hoạt động tích cực của trí thức [như của] Foucault và Deleuze [vốn đã] nỗ lực trình bày cách thức những chủ thể được kiến tạo bằng những diễn ngôn và những sự đại biểu như thế nào, Spivak cho rằng khi bàn luận những ví dụ có tính lịch sử, [và tính] hiện thực về cuộc đấu tranh chính trị và xã hội, Foucault và Deleuze đã phải viện đến một hình mẫu trong suốt của sự đại biểu, trong đó “những chủ thể bị áp bức [có thể] nói, hoạt động và nhận biết” về những điều kiện của họ.

Đáng ngạc nhiên là, Spivak tiến đến làm rõ sự phê phán này thông qua một bàn luận của Marx về sự đại biểu chính trị trong sách Ngày 18 tháng sương mù của Louis Bonaparte. Sự di chuyển này thật bất ngờ vì lẽ nó dường như chỉ ra rằng Marx đã đặt ra một vấn đề quan trọng về tính văn bản.

Trong sách Ngày 18 tháng sương mù của Louis Bonaparte, Marx đưa ra một mô tả nhỏ, [về] những người tiểu nông trong xã hội nông nghiệp Pháp thế kỷ mười chín. Theo Marx, những người này không đại biểu chung thành một liên minh giai cấp; hơn nữa, những điều kiện kinh tế và đời sống xã hội của họ ngăn cản việc họ có được một ý thức giai cấp. Vì lý do này, ‘ý thức (chung [và] có tính khiếm diện) của những người tiểu nông” được miêu tả theo cách biểu trưng bằng một sự đại biểu hay ủy nhiệm chính trị từ tầng lớp trung gian, những người phát ngôn nhân danh lợi ích của họ.

Đối với Marx, sự trình bày về những người tiểu nông có một nghĩa kép, vốn được phân biệt trong tiếng Đức giữa thuật ngữ darstellen (sự biểu trưng như một bức chân dung nghệ thuật) và vertreten (sự đại biểu từ một sự ủy nhiệm chính trị). Trong cuộc đối thoại với Foucault – Deleuze, Spivak cho rằng hai nghĩa này của sự đại biểu được nhập lại thành một; vì trong kết cấu của những nhóm bị tước quyền như là những chủ thể chính trị liên minh, quá trình biểu trưng (thẩm mỹ) được bổ sung vào tiếng nói của người ủy nhiệm chính trị vốn dĩ phát ngôn thay cho lợi ích của họ. Như là một hậu quả của sự nhập nghĩa này, bức chân dung nghệ thuật – việc đại biểu theo cách biểu trưng những người bị tước quyền như là những chủ thể chính trị liên minh – thường được nắm bắt như là sự biểu tả trong suốt về yêu sách và những quyền lợi chính trị của họ.

Quan trọng hơn, Spivak cho rằng hành vi nhập nghĩa có tính tu từ này có thể gây ra những hậu quả tổn thương tiềm tàng lên những nhóm bị áp bức mà những trí thức cánh tả nào đó yêu sách nói về họ. Trong trường hợp Foucault và Deleuze, những nhóm này bao gồm những công nhân nhà máy và những người bị giam giữ trong những nhà tù hay trong thiết chế bệnh viện tâm thần ở phương Tây.

Khi hình mẫu của sự đại biểu chính trị này được sắp đặt lên “Thế giới thứ ba”, khoảng cách giữa sự đại biểu chính trị và sự biểu trưng thẩm mỹ thậm chí còn khó nói ra hơn nữa. Theo Spivak, khoảng cách này được minh họa bằng khuynh hướng nữ quyền phương Tây nhằm phát ngôn cho quyền lợi của người phụ nữ trong “thế giới thứ ba”. Lưu ý đến sự bất khả của một chính trị học dựa trên khối liên minh bình đẳng giữa những trí thức nữ quyền phương Tây và phụ nữ “thế giới thứ ba”, Spivak khẳng định rằng:

Ở mặt khác của sự phân chia có tính quốc tế về lao động, chủ thể bóc lột không thể biết và nói lên [bằng] văn bản về sự bóc lột người phụ nữ, mặc dù có sự vô lý của việc người trí thức [tuy] không đại biểu [cho người phụ nữ vắng mặt, nhưng lại] tạo ra không gian cho người phụ nữ nói.

Những bàn luận của Spivak về người phụ nữ hạ đẳng bị tước quyền nhằm làm nổi rõ những giới hạn của việc vận dụng những lý thuyết châu âu về sự đại biểu vào cho cuộc sống và lịch sử của người phụ nữ bị tước quyền trong thế giới thứ ba. Trừ phi các trí thức phương tây chiếu cố đến chiều kích thẩm mỹ của sự đại biểu chính trị, Spivak cho rằng những trí thức này vẫn tiếp tục làm câm lặng tiếng nói của người phụ nữ hạ đẳng.

“Hạ đẳng có thể nói được không?” được đọc như sự minh họa cho vị thế riêng của Spivak là một trí thức hậu thuộc địa quan tâm khai quật những tiếng nói quá khứ đã bị tước quyền và bị làm câm lặng từ ngữ cảnh vật chất và chính trị hiện tại. Ngoại trừ việc đọc của Spivak về những công trình lịch sử của nhóm Nghiên cứu [tầng lớp] hạ đẳng, tiểu luận này kết hợp tái-luận đề chính trị của Spivak về những phương pháp luận hậu cấu trúc [của] phương tây với việc đọc lại di sản thuộc địa thế kỷ mười chín của Ấn Độ. Hơn nữa, tiểu luận đánh dấu một sự chuyển hướng khỏi những công trình lịch sử của nhóm Nghiên cứu [tầng lớp] hạ đẳng, trong đó Spivak chú trọng vào kinh nghiệm lịch sử của người phụ nữ hạ đẳng, các cử tri mà tiếng nói và địa vị xã hội của họ nhìn chung là đã bị tập thể nhóm Nghiên cứu [tầng lớp] hạ đẳng cũng như là giới chuyên gia lịch sử tinh hoa và thuộc địa lờ đi.

Qua việc khớp nối với tri thức lịch sử về người phụ nữ bị tước quyền như thế, Spivak phát triển định nghĩa nguyên thủy về [tầng lớp] hạ đẳng do Ranajit Guha và những người khác đặt ra, bao gồm những cuộc đấu tranh và những kinh nghiệm của người phụ nữ. Sự mở rộng thuật ngữ này làm phức tạp hơn những ý liên tưởng về giai cấp thấp kém của thuật ngữ vì lẽ nó bao quát những người phụ nữ thuộc giai cấp trung lưu cấp thấp, cũng như là tầng lớp nông dân và giai cấp vô sản cấp thấp.

Tuy nhiên điểm Spivak nhấn mạnh là sự liên đới chủ động của người phụ nữ trong lịch sử nổi dậy chống thực dân Anh ở Ấn Độ đã bị loại trừ khỏi lịch sử  chính thống về nền độc lập quốc gia. Như Spivak viết:

Trong ghi chép hành trình [vốn đã] bị xóa bỏ của chủ thể hạ đẳng, đường đi của sự khác biệt giới bị xóa bỏ hai lần. Vấn đề là không [còn] tồn tại sự tham dự của nữ giới vào cuộc nổi dậy này, hay những quy tắc nền tảng của sự phân biệt giới tính nơi người lao động, dù cả hai đều có những ‘bằng chứng’. Ngược lại với việc cả hai như là những đối tượng của sử kí thuộc địa và như là chủ thể của cuộc nổi dậy, kết cấu ý hệ của giới tuân theo [kết cấu] nam quyền. Nếu trong ngữ cảnh của tác phẩm thuộc địa, [tầng lớp] hạ đẳng không có lịch sử và không thể nói, thì [tầng lớp] hạ đẳng xét như nữ giới mãi mãi chìm vào bóng tối.

Việc nhấn mạnh vào điểm bị giới tính hóa của người phụ nữ hạ đẳng [làm] mở rộng và phức hợp khái niệm đã được thiết lập về [tầng lớp] hạ đẳng, như là mở rộng hơn về mặt ngoại diên. Cho đến nay, như Neil Lazarus nhấn mạnh, huấn thị của Spivak cho việc nghiên cứu những lịch sử đấu tranh của người phụ nữ hạ đẳng luôn gắn liền với bất kỳ nghiên cứu trọng yếu về lịch sử nào. Lý do cho điều này, như Spivak đã chỉ ra, là vì ‘cấu tạo ý hệ của giới’ trong di sản thuộc địa và trong những tư liệu lịch sử của cuộc đấu tranh của [tầng lớp] hạ đẳng ‘tuân theo [cấu tạo] nam quyền’. Chống lại sự xóa bỏ lịch sử về người phụ nữ hạ đẳng, Spivak lần theo sự biến mất của người phụ nữ hạ đẳng để khớp nối lại những chất liệu và những lịch sử văn hóa của họ.”

(Stephen Morton, 2003, Gayatri Chakravorty Spivak, Routledge Critical Thinkers, trang 56-59)

Read Full Post »

Về tôi

 

16730262_10208439321131611_532537721675352158_n

Hoàng Phong Tuấn, 1978.

Nơi công tác: Bộ môn Lý luận văn học, Khoa Ngữ văn, Đại học Sư Phạm TP HCM.

Lĩnh vực nghiên cứu: tiếp nhận văn học

Hướng nghiên cứu: truyền thông đại chúng và tiếp nhận văn học, ý hệ và tiếp nhận văn học.

Bài tạp chí:

1/ Hoàng Phong Tuấn, 2003, “Giọng điệu trữ tình thơ Hồ Xuân Hương trong 3 bài ‘Tự tình'”, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHSP TP HCM, số 33.

2/ Hoàng Phong Tuấn, 2004, “Văn học đối thoại với văn hóa”, Văn hóa nghệ thuật, Số 12 (246).

3/ Hoàng Phong Tuấn, 2005, “Gía trị văn hóa của tác phẩm văn học”, Tập san Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH KHXH&NV.

4/ Hoàng Phong Tuấn, 2006, “Tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong sáng tạo nghệ thuật”, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHSP TP HCM, số 9, 2006.

5/ Hoàng Phong Tuấn, 2007, “Những vấn đề đặt ra khi giảng dạy thơ Hồ Xuân Hương ở nhà trường phổ thông”, Giáo Dục, số 161.

6/ Hoàng Phong Tuấn, 2009, “Khía cạnh tương tác trong khái niệm ‘Tầm đón đợi’ của Hans Robert Jauss” Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Số 17 (51).

7/ Hoàng Phong Tuấn, 2010, “Sự kế thừa và vận dụng của Hans Robert Jauss về quan niệm ‘lịch sử tác động'”, Niên giám Bình luận văn học, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP HCM.

8/ Hoàng Phong Tuấn, 2012, ‘Một số điểm chính trong lý thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser’, Tạp chí Đại học Sài Gòn: số chuyên đề Bình luận văn học.

9/ Hoàng Phong Tuấn, 2013, “Phân tích tác động thẩm mỹ của văn bản thơ Đèo Ba Dội từ góc độ mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss”, Nghiên cứu văn học, số 1, 2013.

10/ Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Những điểm chính trong hành trình lí thuyết của Hans Robert Jauss”, Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHSP TP HCM, số 2, 2016.

11/ Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Định chế và sự đọc”, Nghiên cứu văn học, số 9, 2016.

12/ Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Tính đại chúng của sự đọc và huyễn tưởng tinh thần của văn học”, Văn nghệ quân đội, số 10.

Báo cáo khoa học:

1/Hoàng Phong Tuấn, 2004, “Bước đầu phân loại tư duy tiếp nhận tác phẩm văn học”, Kỉ yếu Hội thảo các nhà ngữ văn trẻ lần 2, Khoa Ngữ văn, trường ĐHSP TP HCM.

2/Hoàng Phong Tuấn, 2015, “Xung đột quy chuẩn trong phê bình văn học”, Hội thảo Nghiên cứu văn học từ tiếp cận văn hóa, Viện Văn học, Hà Nội.

3/Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu tiếp nhận”, Kỉ yếu Hội thảo “Đổi mới dạy học và nghiên cứu văn học”, ĐHSP HN.

4/ Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Ý hệ và diễn giải”, Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm ngày công bố “Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương” của F. de Saussure (1916-2016).

5/ Hoàng Phong Tuấn, 2017, “Kí ức và sự hòa giải: Nhật ký Đặng Thùy Trâm trong sự kiến tạo của truyền thông đại chúng”, Hội thảo Tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn học nghệ thuật: thành tựu và triển vọng, Viện Văn học – Khoa Ngữ văn ĐHQG HN – Khoa Ngữ văn, ĐHSP HN.

Sách in chung:

1/ Hoàng Phong Tuấn, 2006, “Ý thức luân lí đạo đức trong tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương”, Khoa Ngữ văn – 30 năm nghiên cứu và giảng dạy, Nxb ĐHQG TP HCM.

2/ Hoàng Phong Tuấn, 2012, ‘Lý thuyết tiếp nhận văn học đầu thế kỷ XXI: Những tiếp cận từ góc độ diễn ngôn’, Tiếp nhận văn học nghệ thuật, NXB ĐHQG, HN.

3/ Hoàng Phong Tuấn, 2016, “Sự đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình”, Đời sống xã hội Việt Nam đương đại, tập 2, Nxb Tri thức.

Sách dịch chung:

1/ Hoàng Phong Tuấn (dịch chung, Bùi Văn Nam Sơn chủ trương và hiệu đính), Từ điền triết học Kant, Nxb Tri Thức, 2012.

2/ Hoàng Phong Tuấn (dịch chung, Bùi Văn Nam Sơn chủ trương và hiệu đính), Từ điển triết học Hegel, Nxb Tri Thức, 2015.

Hoạt động khoa học:

1/ Tọa đàm: “Về các khái niệm của Roland Barthes: Thuyết cấu trúc, tác giả, lối viết”, 2011, ĐHKHXH&NV TP HCM.

2/ Tọa đàm: “Hành trình lí thuyết của Hans Robert Jauss”, Salon văn hóa Cà Phê Thứ Bảy, 2013.

Cập nhật tháng 04/ 2017.

Liên hệ: hoangphongtuan@gmail.com.

…………………..————————………………………………………….

Read Full Post »

“Trở về phương Đông” lời giải hay câu hỏi?

Gần đây, có ý niệm cho rằng cần phải cảnh giác trước các lý thuyết phương Tây, các lý thuyết phương Tây đã phá sản, nên quay trở về phương Đông, thậm chí quay trở về Việt Nam trong việc vận dụng các lý thuyết văn học và quan điểm triết học.

Mối quan tâm này trở nên nhiệt thành hơn khi đây đó xuất hiện một vài bài dịch, vài cuốn sách dịch có tính phản tư của các lý thuyết gia phương Tây về sự lâm nguy, hay sự không chắc chắn của lý thuyết (mà ở đây là lý thuyết phương Tây), về minh triết phương Đông và triết học phương Tây, về triết học và lý luận văn học hậu hiện đại…

Mối quan tâm này nhìn chung không có gì mới. Ở vào mỗi cuộc tiếp xúc giữa một nước phương Đông và văn minh phương Tây, đều có một mệnh đề phản-tiếp xúc như vậy. Chẳng hạn như vào giai đoạn đầu của sự tiếp xúc Đông – Tây đầu thế kỷ XX tại Việt Nam, bên cạnh quan niệm cổ vũ cho hiện đại hóa, tiếp xúc và hội nhập phương Tây, cũng có các ý kiến phê phán, cưỡng lại sự tiếp xúc đó. Thậm chí, sớm hơn, cuối thế kỷ XIX, ta đã thấy ý tưởng như vậy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

“Trời Đông mà gió Tây qua,

Hai hơi ấm mát chẳng hòa đau dân

Nhớ câu ‘vạn bệnh hồi xuân’

Đòi ngày luống đợi Đông quân cứu đời”

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Xét rộng hơn, đầu thế kỷ XX, đây là một nét chung có ở các nước thuộc địa, khi tiếp xúc với văn hóa, văn minh của các nước thực dân đế quốc.

Điều này được lặp lại trong bối cảnh vừa mới mở cửa trở lại của ta với các nước phương Tây. Hơn nữa, với ta, đó là sự mở cửa kép: phương Đông và phương Tây, thế giới các quốc gia xã hội chủ nghĩa và thế giới các quốc gia tư bản chủ nghĩa.

Tuy nhiên, đối với giai đoạn này của chúng ta, những ý niệm như vậy có hợp lý không, và nó cho thấy điều gì?

Trước hết, phải phân biệt sự phản tư của các lý thuyết gia phương Tây và việc bắt chước sự phản tư ấy nơi các nước đang phát triển. Một sự tự phê phán dĩ nhiên khác với sự phê phán. Cũng như một người đã trưởng thành phê phán lối học sách vở thì khác với một học sinh phê phán kiến thức sách vở, vì sự phê phán thứ nhất là một sự ngoái nhìn để tiến tới, còn sự phê phán thứ hai đơn thuần là sự phủ định, khước từ. Cũng như khi Rousseau phê phán văn hóa, văn minh, đề cao lối giáo dục tự nhiên, thì đó là phê phán trong tinh thần và thời đại Khai Minh, khuyên con người học làm người một cách tỉnh táo, chủ động, không phải là ý tưởng khuyên con người ta nên vào rừng mà sống như người nguyên thủy.

Cũng cần phải phân biệt sự từ chối tiếp xúc của những người yêu nước cuối thế kỷ XIX với sự từ chối tiếp thu của một số người ngày nay. Những người yêu nước cuối  thế kỷ XIX có một tấm lòng nhiệt thành đối với đất nước; vả chăng, đến đầu thế kỷ XX, tư tưởng yêu nước chủ đạo vẫn là tiếp thu, học tập nước ngoài để “về giúp đồng bào ta”. Và lịch sử đã chứng minh rằng họ thành công. Còn với chúng ta hôm nay, sự từ chối tiếp thu và học tập, cùng với khát vọng tạo ra cái gì đó riêng cho Việt Nam, riêng cho phương Đông vượt ngoài quy chuẩn chung, trong một nỗ lực hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay, dường như bắt nguồn từ tâm lý vừa ham muốn, vừa khước từ, và tâm lý muốn đi tắt, đón đầu, nhanh chóng xong hiện đại hóa. (Việc sử dụng chữ “hậu hiện đại” không phân biệt lĩnh vực và phạm vi khi xem xét các hiện tượng tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật tại Việt Nam cũng biểu hiện cho tâm lý này).

Hoài Thanh khi phân tích quá trình hình thành thơ Mới và cuộc kháng cự của nền thơ cũ có thuật lại sự việc rằng:

“Cô Bích Ngọc đề tựa tập thơ cũ Những bông hoa trái mùa khuyên làng thơ nên bỏ “ao ngoài” về tắm “ao nhà”. Lê Ta thuật lời  khuyên của cô chỉ thêm mấy chữ: “…dù ao nhà ấy đầy những bùn, những bẩn. Tôi buồn rằng người thục nữ có duyên đến thế lại kém vệ sinh”!

Do đó, câu hỏi đặt ra với chúng ta không phải là có nên hay có thể quay trở về phương Đông? Mà là, quay trở về phương Đông bằng cái gì? Và quay về để đi đến đâu?

Hoàng Phong Tuấn.

Read Full Post »