Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một, 2011

ACHILLES VÀ CON RÙA

ACHILLES VÀ CON RÙA

Con rùa thách Achilles đua với nó. Nó cho rằng nó sẽ thắng nếu Achilles chấp nó xuất phát trước một đoạn. Achilles cười nhạo, vì chàng là một chiến binh mạnh mẽ và có những bước chạy thần tốc, trong khi con rùa thì yếu ớt và chậm chạp.

“Ông bạn muốn tôi chấp bao xa?”. Achilles vừa cười vừa hỏi.

“Mười mét”. Con rùa đáp lại.

Achilles lại cười lớn hơn. “Nếu vậy thì, ông bạn sẽ thua thôi. Nhưng được thôi, ta sẽ đua, nếu ông bạn muốn thế”. Achilles nói với con rùa.

“Ngược lại là khác, tôi sẽ thắng. Và tôi sẽ chứng minh điều đó bằng một lập luận đơn giản”. Con rùa nói.

“Được thôi, mời ông bạn”. Achilles đáp lại với giọng vơi đi chút tự tin. Anh biết rằng anh là một vận động viên mạnh mẽ hơn, nhưng anh cũng biết rằng con rùa trí xảo hơn anh. Và trước đây, anh đã không ít lần phải thua cuộc trước những lập luận hiểm hóc của nó.

Con rùa bắt đầu. “Giả định rằng ông anh chấp tôi mười mét. Ông anh ắt sẽ cho rằng ông anh vượt qua khoảng cách mười mét giữa chúng ta một cách rất nhanh chóng phải không?”.

“Rất nhanh chóng”. Achilles khẳng định.

“Trong khoảng thời gian đó thì ông anh nghĩ rằng tôi sẽ chạy được bao xa?”. Con rùa hỏi.

“Một mét. Không hơn”. Achilles đáp, sau khi suy nghĩ một lúc.

“Tốt thôi, thế bây giờ thì khoảng cách giữa chúng ta là một mét. Và ông anh ắt sẽ bắt kịp khoảng cách ấy rất nhanh chứ?”. Con rùa nói.

“Qủa thực sẽ rất nhanh”.

“Và lúc ấy, cùng thời gian, tôi sẽ chạy được quãng đường xa hơn một chút, thế nên, lúc ấy, ông anh cũng sẽ phải bắt kịp quãng đường đó, đúng không?”.

“Ừ…thì…đúng”. Achilles nói ngập ngừng.

“Và trong khi ông anh đang chạy, thì tôi cũng sẽ chạy được quãng đường xa hơn chút nữa, và do vậy, ông anh lại phải tiếp tục vượt qua khoảng cách mới này nữa”. Con rùa chậm rãi nói tiếp.

Achilles không nói gì.

“Như ông anh thấy đấy. Ở mỗi thời đoạn, ông anh phải bắt kịp khoảng cách giữa hai ta, cùng lúc ấy, tôi lại chạy thêm được một khoảng cách mới, tuy nhỏ hơn, nhưng ông anh lại phải tiếp tục đuổi kịp”.

“Đúng vậy, phải thế thôi”. Achilles buồn bã đáp.

“Và như thế ông anh không bao giờ bắt kịp tôi”. Con rùa kết luận với giọng cảm thông.

“Ông bạn luôn đúng”. Achilles nói với giọng buồn bã của kẻ thua cuộc.

Hoàng Phong Tuấn dịch.

Theo Lewis Carroll và Douglas Hofstadter.

Nguồn: http://www.math.uconn.edu/~alozano/talks/infinity/zeno.pdf.

Advertisements

Read Full Post »

HIỆN THỰC VÀ ẢO TƯỞNG

Để nhận ra được hiện thực trước mắt, ta phải đứng ở một hiện thực sâu hơn để biết cái hiện thực trước mắt chỉ là ảo tưởng.
Nhưng làm sao có thể đứng ở hiện thực sâu hơn, nếu ta không nhìn thấy được hiện thực trước mắt ta chỉ là ảo tưởng?
Học là một tiến trình đi đến hiện thực của bản thân mình!

Read Full Post »

LỊCH SỬ VĂN HỌC NHƯ SỰ THÁCH THỨC

CỦA KHOA HỌC VĂN HỌC

 dịch từ: Hans Robert Jauss, 1970, Literaturgeschichte als Provokation, Suhrkamp, Frankfurt am Main.

 

1. Một sự đổi mới lịch sử văn học đòi hỏi xóa bỏ các tiên kiến của chủ nghĩa khách quan lịch sử và đặt cơ sở cho mỹ học sáng tạo và mô tả [của] truyền thống trong mỹ học tiếp nhận và tác động. Tính lịch sử của văn học không dựa vào sự cố kết được tạo ra khi sự đã rồi (post festum) của “những dữ kiện văn học” (literarischer Fakten), mà ngược lại, dựa vào kinh nghiệm có trước của người đọc về tác phẩm văn học. Sự việc có tính đối thoại (dialogische Verhältnis) này cũng là điều kiện đầu tiên cho lịch sử văn học. Vì sử gia văn học trước hết luôn phải tự mình trở thành người đọc, trước khi anh ta hiểu và xếp hạng tác phẩm, nói cách khác: phán đoán riêng của anh ta có thể dựa vào ý thức về vị thế hiện tại của anh ta trong trật tự có tính lịch sử của người đọc.

Định đề của Collingwood trong [lời] phê bình của ông đối với ý hệ về tính khách quan (Objektivitätsideologie) trong lịch sử [vẫn đang] thịnh hành – “không có lịch sử mà [chỉ] có sự tái diễn quá khứ được nghiền ngẫm trong tinh thần sử gia” – ngày càng có nhiều giá trị hiệu lực đối với lịch sử văn học. Vì lẽ quan điểm thực chứng xem lịch sử như là sự biểu hiện “khách quan” của một dãy các sự kiện (Ereignisfolge) trong một quá khứ bị cô lập đã bỏ qua đặc trưng nghệ thuật cũng như tính lịch sử đặc thù của văn học. Tác phẩm văn học không phải là khách thể tồn tại cho mình trao cho từng người quan sát trong mỗi thời một hình ảnh như nhau. Nó không là đài kỷ niệm độc bạch bản chất phi thời gian của mình. Nó giống nhiều hơn với một bảng tổng phổ luôn tấu lên những tiếng vọng mới trong những người đọc nó, giải thoát văn bản khỏi chất liệu của từ ngữ và đưa văn bản đến với sự tồn tại đương thời: “ngay khi những từ ngữ nói với ta, chúng phải tạo ra một người đối thoại có khả năng hiểu chúng”. Đặc trưng đối thoại này của tác phẩm văn học cũng là nguyên nhân làm cho cái biết ngữ văn học (philologische Wissen) chỉ có thể có được trong sự đối diện liên tục với văn bản và không thể để bị giảm trừ thành cái biết về những dữ kiện (Wissen von Fakten). Cái biết ngữ văn học luôn yêu sách mối quan hệ với sự lý giải, vốn phải được gộp vào như là một mục đích của nó, [và] cùng với tri thức về đối tượng của nó, [nó cũng] yêu sách sự phản tư và sự biểu tả hoàn tất về tri thức này ở thời điểm [xảy ra] một việc hiểu mới.

Lịch sử văn học là một quá trình tiếp nhận và sáng tạo thẩm mỹ hình thành từ sự thực tại hóa những văn bản văn học thông qua người đọc tiếp nhận nó, từ nhà phê bình phản tư về tác phẩm và từ tác giả trong hành vi sáng tạo tiếp theo của anh ta. Sự tập hợp của những “dữ kiện” văn học (literarischer “Fakten”) tăng trưởng bất tận quấn lấy nhau trong những [bộ] lịch sử văn học quy ước chỉ là một cặn bã đơn thuần (blosses Residuum) của quá trình này; nó chỉ là cái quá khứ được tập hợp và phân loại và do đó không là lịch sử mà là lịch sử giả (Pseudogeschichte). Người nào đó xem một dãy những dữ kiện văn học như thế như là một kiểu của lịch sử văn học [thì đã] nhầm lẫn đặc trưng sự kiện (Ereignischarakter) của một tác phẩm nghệ thuật với đặc trưng sự kiện của tính dữ kiện lịch sử (historischen Tatsächlichkeit). Tác phẩm Perceval của Chrétien de Troyes xét như là một sự kiện văn học, không có tính “lịch sử”, theo nghĩa như, chẳng hạn, cuộc Thập tự chinh thứ ba xảy ra gần như cùng thời gian. Nó không phải là “dữ kiện” (Tatsache) có thể được giải thích như là nguyên nhân từ một chuỗi những điều kiện tiên quyết và những động cơ thuộc về hoàn cảnh, từ một mục đích của hành động lịch sử như thể là có thể tái tạo lại được nó, và từ những hậu quả tất yếu và thứ yếu của hành động này. Văn cảnh lịch sử trong đó một tác phẩm xuất hiện không phải là một chuỗi những sự kiện hiện thực, tự mình tồn tại độc lập với người quan sát nó. [Văn bản] Perceval trở thành một sự kiện văn học (literarischen Ereignis) chỉ cho người đọc nó, một người đã đọc tác phẩm cuối cùng này của Chrétien trong sự hồi tưởng về những tác phẩm trước đó của ông, và là người nhận ra tính cá biệt của nó trong sự so sánh với những tác phẩm này và những tác phẩm khác mà anh ta đã biết, do đó, người đọc ấy có được tiêu chuẩn mới để định giá những tác phẩm trong tương lai. Ngược lại với sự kiện chính trị, sự kiện văn học (literarischen Ereignis) không có những hậu quả không thể tránh khỏi tồn tại tự tại mà không một thế hệ tiếp theo nào có thể thoát khỏi. Sự kiện văn học chỉ có thể vẫn còn sự tác động khi người đến sau tiếp tục hay là có một lần hồi đáp trở lại nó – khi có những người đọc chiếm lĩnh trở lại tác phẩm quá khứ hay có những tác giả muốn mô phỏng, vượt qua hay vượt bỏ nó. Mối quan hệ sự kiện (Ereigniszusammenhang) của văn học được trung giới trước hết trong chân trời chờ đợi của kinh nghiệm văn học trong những người đọc, những nhà phê bình và các các giả đương thời và sau đó. Khả năng có thể lĩnh hội và trình bày lịch sử văn học trong tính lịch sử đơn nhất của nó hay không [luôn phải] đặt cơ sở trong khả năng khách quan hóa chân trời của những chờ đợi này.

Read Full Post »

CHIM CÔNG TRỐNG VÀ NỮ THẦN JUNO

Chim công trống và nữ thần Juno

Một lần chim công trống cúi xin nữ thần Juno cho nó giọng hót của chim sơn ca để thêm phần quyến rũ. Nhưng nữ thần từ chối. Khi chim công trống cứ cố nài và tỏ ý rằng nó vốn vẫn được nữ thần yêu hơn cả, nữ thần nói: “Con đã có một vẻ ngoài mà những loài chim khác ghen tỵ. Hãy hài lòng với những gì mình có”.

Moral of story: One cannot be first in everything.

bản tiếng Anh:

A Peacock once placed a petition before Juno, desiring to have the voice of a nightingale in addition to his other attractions. But Juno refused his request. When he persisted, and pointed out that he was favourite bird, she said, “you have an appearance which other birds envy. Be content with your lot”. (Philosophy in the Classroom: Improving your Pupils’ Thinking Skills and Motivating Them to Learn,  Ron Shaw, Routledge, 2008, p-57.)

Read Full Post »

Der so rekonstruierbare Erwartungshorizont eines Werkes ermöglicht es, seinen Kunstcharakter an der Art und dem Grad seiner Wirkung auf ein vorausgesetztes Publikum zu bestimmen. Bezeichnet man den Abstand zwischen dem vorgegebenen Erwartungshorizont und der Erscheinung eines neuen Werkes, dessen Aufnahme durch Negierung vertrauter oder Bewusstmachung erstmalig ausgesprochener Erfahrungen einen “Horizontwandel” zur Folge haben kann, als ästhetische Distanz, so lässt sich diese am Spektrum der Reaktionen des Publikums und des Urteils der Kritik (spontaner Erfolg, Ablehnung oder Schockierung; vereinzelte Zustimmung, allmähliches oder verspätetes Verständnis) historisch vergegenständlichen.

Chân trời chờ đợi về một tác phẩm được tái tạo như thế cho phép [ta] xác định đặc tính nghệ thuật của tác phẩm nơi kiểu loại và mức độ ảnh hưởng của nó lên một công chúng được giả định trước. Nếu [ta] xác định khoảng cách thẩm mỹ như là khoảng cách giữa chân trời chờ đợi đặt định và sự xuất hiện của một tác phẩm mới, [mà] việc thừa nhận nó thông qua sự phủ định những kinh nghiệm quen thuộc hay thông qua sự ý thức về kinh nghiệm biểu tả mới có thể dẫn đến kết quả là một sự “biến đổi chân trời”, thì khoảng cách thẩm mỹ này có thể được khách quan hóa về mặt lịch sử trong một phổ của những tác động trở lại của công chúng và sự đánh giá của phê bình (sự thành công hiển nhiên, sự bác bỏ hay bị sốc; sự chấp nhận thưa thớt, sự thấu hiểu dần dần hay thấu hiểu muộn màng).

 

Read Full Post »