Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba 17th, 2011

Phê bình [văn học] nữ quyền

[bản dịch gợi cảm hứng từ bài ‘nghiên cứu’ Cảm hứng ‘nữ quyền’ trong thơ Xuân Quỳnh, xin cám ơn Tia Sáng đăng bài này]

Một cách thức bàn luận và định giá văn học và văn hóa có cảm hứng từ sự phát triển của tư tưởng nữ quyền luận hiện đại những năm 1970. Cách thức này không phải là một phương pháp lý giải mà là một đấu trường (arena) tranh luận về những mối quan hệ giữa văn học và sự phụ thuộc có tính chất xã hội-văn hóa mà người phụ nữ phải chịu với tư cách họ là những người viết, những người đọc, và các nhân vật hư cấu trong một trật tự xã hội phụ quyền (gia trưởng). Truyền thống này, nhất là ở Mỹ và ở Anh, đã vinh danh những người đi tiên phong trong những bàn luận như vậy, đặc biệt là Rebecca West, Virgina Woolf (trong một tiểu luận dài của bà A Room of One’ Own [Trịnh Y Thư dịch là Căn phòng riêng] (1929) và Three Guineas (1938, đôi khi được xem như người sáng lập ra xu hướng này) và Simone de Beauvoir (với cuốn Le Deuxième Sexe (1949, được dịch thành The Second sex) có một địa vị tương tự). Tuy vậy, trong hình thức hiện đại được công nhận phổ biến của nó, những văn bản đặt nền móng cho phê bình nữ quyền là Thinking About Women (1968) của Mary Ellmann, một nghiên cứu khái quát có tính chất châm biếm nhẹ nhàng về những khuôn mẫu (stereotypes) của hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của những nhà văn nam, và cuốn Sexual Politics (1970), một luận chiến dữ dội của Lawrence chống lại chứng kỳ thị nữ giới vô cớ (the alleged misogyny) của các nhà văn nam giới hiện đại khác. Những công trình này gợi cảm hứng cho những công trình nổi tiếng khác, mở rộng sự đa dạng của phê bình văn học nữ quyền. Chẳng hạn như nghiên cứu về “những hình ảnh nữ giới” trong hợp tuyển các tiểu luận của Susan K. Cornillon: Images of Women in Fiction (1972), hay của Judith Fetterley: The resisting Reader (1978).

Việc xác định lại chủ ý chính là tách ra khỏi những sai lầm của các nhà văn nam giới và hướng đến nhiệm vụ của những người viết nữ (thường xuyên bị sao lãng một cách thiếu công bằng trong những sự thiết lập phê bình có tính phụ quyền) đã sớm khởi đầu từ làn sóng nữ quyền thứ hai của các nhà phê bình và các sử gia văn học, đáng chú ý là Ellen Moers với quyển Literary Women (1976), Elaine Showalter với quyển A literature of Their Own (1977), và Sandra M. Gilbert cùng với Susan Gubar trong quyển The Madwoman in Attic (1979). Hình thức này của phê bình nữ quyền, mà Showalter định danh là ‘những nhà phê bình nữ’ (gynocritics), đã nỗ lực tái cấu một truyền thống bị bưng bít của những bản viết của nữ giới; trong đó, các tác giả nữ được gợi cảm hứng từ “những bà cố” (foremothers) của họ hơn là từ các tác giả nam; đồng thời nó tái lý giải những bản viết của nữ giới như là những biểu tả mã hóa sự giận giữ hay thất vọng của họ chống lại tính gia trưởng.

Từ những năm 1980, những kiểu phê bình nữ quyền Mỹ giai đoạn đầu, vốn dựa trên “kinh nghiệm nữ giới” và tính trung thực hay không trung thực trong văn học đối với kinh nghiệm này, phải đối diện với một số những thách thức từ những nhà phê bình nữ nói lên tiếng nói thiểu số giới và chủng tộc của họ trước những kinh nghiệm khác, và từ những trường phái nữ quyền có xu hướng thiên về chủ nghĩa Marx, phân tâm học hay suy tư hậu cấu trúc (chưa kể cuộc phản công của chính Lý thuyết chịu ảnh hưởng bởi lý thuyết nam giới). Trong những nhóm sau này, một số nghiêng về phía theo đuổi một chương trình riêng của cái gọi là “nữ quyền Pháp” trong những công trình của Julia Kristeva, Luce Irigaray và Hélène Cixous (những người luôn cảnh giác với việc gọi bản thân họ là những nhà nữ quyền), với những lý thuyết của họ về ngôn ngữ bị giới hóa (gendered language) và của écriture feminine (việc viết nữ giới); những người khác khai triển sự hoài nghi của họ về hình thái bản chất luận của sự khác biệt giới. Do vậy, phê bình nữ quyền và dự án liên minh về lịch sử văn học nữ quyền trở nên đa dạng hóa và chắp nối hóa (hyphenated) (chẳng hạn như phê bình nữ quyền sinh thái, phê bình nữ quyền ăn kiêng (vegetarian-feminist criticism), v..v).

Chris Baldick, 2008, Oxford Dictionary Terms, in lần thứ 3, Oxford University Press, mục từ “feminist criticism”, trang 128-9.

Advertisements

Read Full Post »

Lời tâm sự cho … lời tâm sự:

Entry ngắn này được viết ra cách đây hơn 2 năm, để tặng một người bạn trên blog; và nó chép lại một phần ghi chép trong sổ tay từ gần… chục năm trước.

Lúc bấy giờ kiến thức còn hạn hẹp; giờ đọc lại, thấy nhớ một thời mà ngày nào cũng viết blog, và thấy nhớ những người bạn trên blog. Cũng nhờ viết lung tung như vậy, nên đã may mắn gặp được thầy và các anh em hôm nay…

Đăng lại đây như là kỷ niệm.

LTS:

–         Tặng HR&M.

–         Lâu lắm rồi, không đọc lại Bakhtin. HR&M có lần nói mình nên viết về “đối thoại” của Bakhtin; mình thầm nghĩ, một cái đề tài “khủng” như thế, làm sao mà viết nổi. Nay bỗng dưng mở ra cuốn sổ tay cũ, nhìn lại thấy có một cái sơ đồ về “đối thoại” của Bakhtin ngày xưa… xưa lắm, mình đã viết ra, nay chép lại tặng HR&M vậy.

–         Vì sơ đồ này mình khái quát từ lâu lắm rồi, nên không còn nhớ cụ thể, chi tiết, và nó chỉ hết sức tóm tắt mà thôi. Đặc biệt là cũng chẳng ghi chú tài liệu tham khảo gì cả. Khi chép ra đây, mình có giải thích thêm theo cách hiểu còn lưu giữ lại trong đầu óc hiện nay, nên có thể không chắc chắn là đầy đủ, và chính xác nữa.

Sơ đồ như sau (ở đây mình không vẽ ra, chỉ ghi lại):

SƠ ĐỒ CÁC CẤP ĐỘ ĐỐI THOẠI CỦA BAKHTIN

Cấp độ I: Cấp độ diễn ngôn

Bakhtin cho rằng diễn ngôn có hai cấp độ đối thoại, a) đối thoại bên ngoài và b) đối thoại bên trong.

a) Đối thoại bên ngoài là khi một phát ngôn xây dựng trên cơ sở đối thoại với một phát ngôn khác. Điều này xảy ra phổ biến trong ngôn ngữ đời sống. Đóng góp của Bakhtin là đối thoại bên trong.

b) Đối thoại bên trong có hai mặt. i/ đối thoại với lời người khác trong quá khứ về đối tượng. Điều này có nghĩa là một từ, ngữ, câu nói của ta về đối tượng là ta nhắc lại, mượn lại, giễu nhại, phê phán, sáng tạo thêm…. lời của người khác đã nói về đối tượng đó. Ví dụ từ “đàn bà”. Đây là từ đối với cá nhân tôi thì nó lưu giữ những kí ức của tôi về những hình ảnh và cảm xúc ngôn từ “đàn bà” mà tôi đã nghe trong quá khứ. Khi tôi nói từ đó, vô thức hay hữu thức tôi đã lặp lại, trải nghiệm lại trong tích tắc những gì tôi đã nghe về “đàn bà”. ii/ đối thoại với người nghe dự kiến. Bakhtin cho rằng trong từ ngữ, phát ngôn của người nói, luôn có sự đối thoại với tất cả người nghe/đọc dự kiến: hiển hiện và hàm ẩn.

Cấp độ II: Cấp độ văn học

Bakhtin cho rằng tác phẩm văn học, tiêu biểu là tiểu thuyết, có biểu hiện của đối thoại, thông qua hiện tượng:

a) các nhân vật đối thoại bình đẳng với nhau về tư tưởng, ngôn ngữ, quan điểm…

b) người kể truyện đối thoại bình đẳng với nhân vật, không bao chứa, ôm trùm nhân vật, để cho nhân vật tranh luận, trao đổi với tác giả, cãi lại tác giả. Ví dụ như trong tác phẩm Đời thừa, người kể truyện cho rằng Hộ say rượu thì trở nên xấu tính, mắng chửi vợ con, thái độ của người kể truyện đối với nhân vật Hộ và thái độ của Hộ với chính mình là phê phán. Trong khi đó, thái độ của Từ là bênh vực Hộ. Giọng điệu của các thành tố này là khác nhau, người kể truyện không hơn gì nhân vật của mình. Mà thậm chí, anh ta còn tỏ ra kém nhân văn hơn Từ, khi tỏ ra khó thông cảm với Hộ. Tất nhiên, phải phân biệt giữa người kể truyện và tư tưởng chủ đề mà tác giả thể hiện.

Cấp độ III: đối thoại văn hóa.

Bakhtin có một quan niệm sâu sắc về văn hóa, tạo thành cả một đường hướng lí thuyết nghiên cứu về văn hóa. Nổi bật và quan trọng nhất, theo tôi, là ý niệm về “ranh giới” trong đối thoại văn hóa. Riêng tôi cho rằng đây là một khái niệm phương pháp luận quan trọng của Bakhtin (có điều kiện, sẽ làm rõ thêm). Ý niệm “ranh giới” được trình bày qua hai cấp độ.

i/ Bakhtin cho rằng các khu vực (không gian, thời gian, lĩnh vực) của văn hóa giao nhau qua những “ranh giới”. Chính ở những ranh giới giao nhau này, chúng đối thoại với nhau. Ví dụ như giai đoạn đầu thế kỉ XX là giai đoạn ranh giới, có sự đối thoại giữa các lĩnh vực văn hóa mới với các lĩnh vực văn hóa cũ. Nhưng đây là điều mọi người đã thấy. Đóng góp của Bakhtin là cấp độ thành tố văn hóa.

ii/ Bakhtin cho rằng một thành tố văn hóa chỉ thực sự bộc lộ bản chất của nó nếu ta đặt nó trên những ranh giới. Ví dụ như hiện tượng văn học có yếu tố tính dục hiện nay cần xem xét trên ranh giới của các lĩnh vực văn hóa: văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mĩ, văn hóa nhận thức (Bakhtin chia văn hóa tinh thần thành ba lĩnh vực, theo cách nhìn của triết học Đức. Nói thêm là Bakhtin ảnh hưởng sâu sắc Hegel và Marx). Điều quan trọng trong đối thoại văn hóa là Bakhtin chú ý đến bản chất của hiện tượng văn hóa chỉ bộc lộ thông qua đối thoại trên những ranh giới. Đây, theo ý kiến cá nhân tôi, là một quan niệm mang tính chất triết lí sâu sắc. Bản thể luận của hiện tượng văn hóa chỉ có thể được nhận rõ khi đặt nó trong sự đối thoại, trên những ranh giới. Rời khỏi ranh giới, nó thoái hóa, chết đi, đơn độc và vô nghĩa (Bakhtin viết đoạn này rất hay).

Cấp độ IV: cấp độ triết lý.

Bakhtin cho rằng ý thức bản ngã hình thành trong đối thoại, và nó chỉ thực sự phát triển, là chính nó, khi nó được tồn tại trong một sự đối thoại bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau với các ý thức bản ngã khác. Nghĩa là tôi chỉ là tôi, tôi chỉ thấy được, thể hiện bản chất của mình trong đối thoại, trên những ranh giới, nghĩa là trên những giới hạn của chính tôi trong quan hệ với người khác.

Ví dụ như tôi là người ích kỉ. Làm sao tôi biết được điều đó, nếu tôi không một lần phải hổ thẹn vì sự ích kỉ của mình với người khác? Và xét cho cùng, chính vì tôi quan hệ với người khác nên mới có cái gọi là ích kỷ. Cần lưu ý là khác niệm “người khác”, “kẻ khác” ở đây vừa là người khác bên ngoài mình, vừa là một người khác trong mình. Ví dụ như tôi là một nhà giáo và khi tôi đi thi cao học, tôi đóng vai học trò, tôi quay bài. Nhưng trong một thoáng chốc, một kẻ khác trong tôi là con người nhà giáo hiện ra, đó là lúc tôi hổ thẹn, và lúc đó tôi hiểu mình một cách sâu sắc nhất.

Nhìn chung là quan niệm của Bakhtin về đối thoại rất sâu sắc và phức tạp, và ông không bao giờ hiển ngôn về nó. Cũng vì bản thân các công trình của ông là một cấu trúc đối thoại lớn với bối cảnh xã hội Liên Xô cũ đầy chuyên chế.

Nhưng thôi, nói về Bakhtin thì bao giờ cho đủ. Vài ý tóm tắt sơ sài của mình không thể nói hết, và chắc chắn còn nhiều sai sót. Mình cứ mơ ước có ngày được hiểu trọn vẹn Bakhtin, nhưng chưa phải lúc này.

Cảm ơn mọi người đã kiên trì theo dõi đến đây.

Read Full Post »