Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2011

LTS:

Đây là một bài trao đổi quan trọng ra đời ở thời điểm chuyển giao giữa giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ hai trong hành trình lý thuyết của Jauss. Nói ngắn gọn, đây là lúc ông nhận được nhiều lời phê bình quan trọng, và trên cơ sở đó hiệu chỉnh các định hướng lý thuyết của mình: từ lịch sử văn học và mỹ học tiếp nhận chuyển sang vấn đề kinh nghiệm thẩm mỹ và thông diễn học văn học. Đáng chú ý là những điểm quan trọng trên đều được thể hiện trong những câu trả lời của ông.

Tôi rất ấn tượng với cách đặt câu hỏi thẳng thắn của Segers. Những câu hỏi này đều phản ánh các ý kiến phê bình đương thời đối với mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss. Có thể nói, nên cạnh bài “Nhìn lại và hướng tới” (mà tôi đã dịch một đoạn, trong blog này), đây là bài viết rất quan trọng cho những ai muốn tìm hiểu hành trình lý thuyết của Jauss.

TRAO ĐỔI VỚI HANSS ROBERT JAUSS

T.Segers đặt câu hỏi, Jauss trả lời, Timothy Bahti dịch,

Tạp chí New Literary History, Vol. 11, No. 1, Johns Hopkins University Press, 1979.

1

Hỏi:

Năm 1972 ông đi đến kết luận rằng mỹ học tiếp nhận giới thiệu một hệ hình mới cho nghiên cứu văn học. Ông có tiếp tục giữ quan điểm này không? René Wellek chẳng hạn, đã do dự và không cho rằng luôn tồn tại những nghiên cứu giống như mỹ học tiếp nhận; Manfred Nauman thì nói về một “sự dao động của con lắc” hơn là một sự chuyển đổi các hệ hình. Nói cách khác, xét về mặt hệ hình, cái gì mới mà mỹ học tiếp nhận đem đến cho nghiên cứu văn học?

Trả lời:

Cũng như trong các ngành học khác, sự chuyển đổi các hệ hình trong nghiên cứu văn học không phải là sự kiện từ trên trời rơi xuống như thể sự cách tân hoàn toàn nào đó. Khi một hệ hình mới có hiệu lực, thì hiệu lực này được đánh giá bằng những câu hỏi mới có thể đặt ra cho những vấn đề cũ, bằng việc xem xét liệu nó có thể giải quyết được chúng theo những cách mới hay không, bằng việc những vấn đề [ta] chưa biết nhờ đó trở nên sáng tỏ, và bằng việc xem xét liệu rằng, trong những trường hợp này, các phương pháp có thể được phát triển để góp vào sự phong phú của truyền thống học thuật hay không. Lịch sử nghệ thuật đã luôn tự diễn vai trò của mình xét như [nó là] một quá trình giữa tác giả, tác phẩm, và công chúng; biện chứng của sáng tạo và tiếp nhận đã luôn được trung giới thông qua sự tương tác lẫn nhau của cả hai, tức là, thông qua sự giao tiếp văn học. Theo nghĩa này, “mỹ học tiếp nhận” luôn có thể tồn tại, tức là, luôn tồn tại các nghiên cứu như mỹ học tiếp nhận, nhưng không theo cách nói của Réne Wellek. Trước khi bắt đầu thời đại lớn của chủ nghĩa duy sử, ở vào bước ngoặt từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, tiếp nhận văn học đã được nhìn từ viễn tượng (perspective) của một mỹ học tác động (Wirkungsästhetik) vốn đứng trong truyền thống của tu từ học và thi học của Aristoteles, nhưng nó không được chú ý [đặt] trong những hoàn cảnh lịch sử của tác động thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật. Mỹ học tác động vĩ đại cuối cùng là phê phán phán đoán thẩm mỹ của Kant. Sau đó các quan tâm nghiên cứu dao động trở lại mặt sáng tạo, như chính Manfred Nauman đã cho thấy (Poetica [1976], trang 451, và tiếp): “cảm quan chung” và sở thích thẩm mỹ kết nối với nó bị mang tiếng xấu, và mỹ học của tài năng thiên bẩm, “nghệ thuật vị nghệ thuật”, và littérature engaggé sinh ra thay cho chúng. Từ sau đó, và mãi cho đến thời đại của chúng ta, vấn đề về tác động và tiếp nhận nghệ thuật – và hiệu quả giao tiếp của kinh nghiệm thẩm mỹ đến cùng với chúng – đã không tồn tại cho đến khi nó chiếm địa vị nổi bật trong những mối quan tâm của chúng ta.

Chủ nghĩa khách quan của phương pháp ngữ văn học thế kỷ 19, mà René Wellek – với tư cách là một đại diện nổi bật nhất – vẫn còn nặng nợ, đã không thể nhận thức được một cách trọn vẹn vấn đề này, vì nó liên kết một cách đặc biệt với giá trị thẩm mỹ phi thời gian. Những học thuyết khác chẳng hạn như thần học hay luật học đã đánh bại chủ nghĩa duy sử và chủ nghĩa thực chứng giáo điều trước ngữ văn học. Ở đây, mãi cho đến nay thì vấn đề phương pháp luận của thông diễn học mới được nhìn trong sự hợp nhất bộ ba của việc hiểu, sự lý giải và sự vận dụng. Vấn đề sự vận dụng – [vì nếu] định vị theo cách khác, [nó] thiếu một sự tái cấu tạo đơn thuần về quá khứ ‘như nó là’, về sự lý giải hay sự miêu tả văn bản ‘vì mục đích riêng của nó’, và sự nỗ lực trung giới văn học quá khứ trong chân trời kinh nghiệm hiện tại của riêng ta – [nên nó] là một yêu cầu bị áp chế, và nó là nội dung thực sự của bước ngoặt tiến đến một mỹ học tiếp nhận diễn ra trong giữa những năm 60 và bằng chứng là nó đã thành công.

 

còn tiếp

Advertisements

Read Full Post »

Đoạn dịch sau được gợi hứng từ bài này: Liên văn bản – sự triển hạn đến vô cùng.

 

TÍNH LIÊN VĂN BẢN

Hoàng Phong Tuấn dịch

Một thuật ngữ do Julia Kristeva đặt ra để chỉ những mối quan hệ khác nhau có thể có của một văn bản cho trước với những văn bản khác. Những mối quan hệ có tính chất liên văn bản này bao gồm sự nghịch đảo (anagram), sự ám chỉ (allusion), sự phỏng thuật (addaptation), sự dịch thuật (translation), sự biếm phỏng (parody), sự cắt dán (pastiche), sự mô phỏng (imitation) và những kiểu biến đổi khác. Trong lý thuyết văn học của chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa hậu cấu trúc, các văn bản được nhìn ở góc độ quy chiếu đến các văn bản khác (hay với bản thân chúng xét như là văn bản) hơn là với một thực tại bên ngoài. Thuật ngữ liên văn bản được dùng tùy từng trường hợp cho: một văn bản sử dụng các văn bản khác, một văn bản được sử dụng bởi một văn bản khác, và cho mối quan hệ giữa hai văn bản này.

Chris Baldick, 2008, Oxford Dictionary Terms, in lần thứ 3, Oxford University Press, mục từ “Intertextuality”, trang 171.

Read Full Post »

MỐI LƯƠNG DUYÊN GIỮA NÀNG (THƠ CA) VÀ ÔNG CỤ GIÀ (TRIẾT HỌC) …

Đây là câu chuyện cũng xưa như… trái đất.

Hằng ngàn năm trước, Platon xem nghệ thuật là sự mô phỏng của sự mô phỏng và đòi đuổi nàng thơ và các người yêu của nàng ra khỏi nước Cộng hòa của ông; và thậm chí chỉ cho nàng thơ quay về khi nàng và những người yêu nàng tự biện hộ bằng cách chứng minh được rằng nàng không chỉ đem lại sự thích thú mà còn có ích với thể chế và đời sống con người.

Và, Aristoteles, người học trò cãi thầy, cho rằng thực ra thì thơ ca còn thực hơn lịch sử, và khi bi kịch làm thanh lọc con người thì ai dám chắc rằng nó không làm cho người ta tốt hơn lên?

Vậy là, từ đây, nàng thơ không thể sống cô đơn, nàng phải cưới một ông chồng già triết học để bảo vệ nàng, và để chứng minh rằng nàng vừa đẹp, vừa có đạo đức…

Bẵng đi cả ngàn năm, sau cụ già Aristoteles, chẳng mấy cụ già nào đứng ra tiếp tục nhận nàng làm vợ, nghĩa là biện hộ cho nàng. Nàng đành phải nương náu nơi Nhà thờ và các vị cha cố. Chẳng còn rong chơi được nữa. Nàng tiều tụy nhan sắc, khô héo hình hài, chỉ còn như một bà già phụ giúp nhà thờ.

Đã thế cụ Schleiermacher còn lôi ra mổ xẻ và xem bà già nàng thơ này như vật thí nghiệm cho cái gọi là việc hiểu trong khoa học tinh thần của cụ. Hiểu bà già thơ có còn giống với hiểu nàng thơ không?

Mấy thế kỷ gần đây, câu hỏi về nhan sắc và đạo đức của bà già nàng thơ được đặt ra trở lại khi bà già nàng thơ trở nên “hồi xuân”.

Nhưng đặc biệt là cuộc đời [bà già] nàng thơ từ đây có một ngã rẽ: Nàng có con. Câu chuyện trở nên phức tạp: ai là cha của chúng. Có người cho rằng cha của chúng là ông cụ già triết học, và chúng là chú bé thơ ca-triết học, tỉ như chú Hamlet chẳng hạn. Mấy trăm năm sau, các chú bé cha triết mẹ thơ liên tục ra đời: Ruồi, Buồn nôn

Cái vụ này ngày càng rắc rối, vì bắt đầu có người cho rằng những người cho rằng cha chúng là ông già triết học thực ra chính là ông già triết học, như ông Bakhtin chẳng hạn. Vậy là chỉ có ông cha triết học mới nhận ra được đứa con triết học trong hình thức thơ ca của chúng mà thôi.

Đến đây thì chuyện tình của nàng thơ và ông già triết học để lại nhiều hậu quả vô cùng rắc rối…. xin mời xem thêm ở đây:

http://triethoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=category&layout=blog&id=41&Itemid=229.

Read Full Post »

THI HỌC VÀ THÔNG DIỄN HỌC
(nhan đề do người dịch đặt)

Hoàng Phong Tuấn (trích dịch)

Chủ đích của các lí thuyết gia thuộc trường phái Konstanz có thể được rút ra từ một nhan đề chung đặt cho sê-ri công trình của chúng tôi: thi học thông diễn học (Poetics and Hermeneutics). Chữ xuất hiện trong sự kết hợp này chưa rõ ràng như nó nên là. Theo định nghĩa, thông diễn học là một quá trình trực tiếp tiếp cận sự xác định của nghĩa; nó yêu sách chức năng siêu nghiệm của việc hiểu, bất kể việc hiểu này phức tạp, trì hoãn, hoặc mong manh như thế nào, và sẽ, tuy theo cách được trung giới, phải đặt ra những câu hỏi về giá trị chân lý ngoài ngôn ngữ của các văn bản văn học (the extralinguistic truth value of literary texts). Thi học, từ góc độ khác, là một siêu ngôn ngữ (metalinguistic), là ngành học có tính miêu tả và có tính quy tắc đặt yêu sách cho tính nhất quán khoa học (scientific consistency). Nó thuộc về sự phân tích hình thức những thực thể ngôn ngữ xét như là những thực thể ngôn ngữ, độc lập với ý nghĩa; như một phân nhánh của ngôn ngữ học, nó xử lí những mô hình lí thuyết trước sự hiện thực hóa về mặt lịch sử của chúng (it deals with theoretical models prior to their historical realization). Theo truyền thống, thông diễn học thuộc về phạm vi thần học và từ sự tiếp nối truyền thống của phạm vi thần học trong những quy phạm lịch sử khác nhau; không giống với thi học, vốn gắn kết với sự phân loại và tương tác của những cấu trúc thi ca, thông diễn học gắn kết với nghĩa của những văn bản riêng biệt. Trong một công trình thông diễn, việc đọc tất yếu xen vào, nhưng giống như việc tính một bài toán chứng minh đại số, nó là một phương tiện để đạt đến mục đích, một phương tiện cuối cùng phải trở thành trong suốt và không cần thiết (transparent and superfluous); mục đích cuối cùng của một hoạt động đọc thành công theo tinh thần thông diễn là để gạt bỏ việc đọc hoàn tất. Nhìn chung, thật khó để trình bày việc đọc liên quan, một chút nào đó, đến thi học như thế nào. Ở đây, chúng ta sẽ vận dụng một trong những ví dụ quen thuộc nhất trong văn học: nếu, trong ghi chép Homer mô tả Achilles như một con sư tử, tôi kết luận rằng Achilles thật mạnh mẽ, thì đó là một nhận xét thông diễn; nhưng nếu như, ở góc độ khác, tôi chất vấn, với Aristotle, liệu Homer đang sử dụng một so sánh hay một ẩn dụ, thì đây là sự xem xét trong khuôn khổ thi học. Hai thao tác này có rất ít điểm chung. Tuy nhiên, rõ ràng là, từ ví dụ khó này (gọi là khó vì, qua việc lựa chọn một hình thức tu từ của ngôn từ, thực tế là ta đã tiên liệu trước câu hỏi), ta bắt buộc phải đọc văn bản dựa vào thi học để đạt đến một kết luận thông diễn. Ta phải nhận thức được rằng nó là một hình thức tu từ, nếu không như vậy thì ta sẽ hiểu nó theo cách đơn giản là Achilles thay đổi giống loài hoặc là Homer có vấn đề về mặt tâm thần. Nhưng ta cũng phải đọc nó theo cách thông diễn để “hiểu” nó như là thi học: cần phải hiểu sự dũng cảm của Achilles cũng như bản tính của anh ta để lưu ý rằng những gì diễn ra trong ngôn ngữ không thường diễn ra trong thế giới tự nhiên hay xã hội, đó là việc con sư tử có thể thay thế cho con người. Toàn bộ thí dụ được lẩy ra vội vàng này về thi học có giá trị gợi ý rằng thông diễn học và thi học vốn khác nhau và phân biệt với nhau có một lộ trình trở nên rối tung như thể thực sự chúng là vậy từ thời Aristote và trước đó. Ta có thể xem lịch sử của lí luận văn học như là những cố gắng không ngừng nhằm tháo gỡ vấn đề phức tạp này và để ghi lại những nguyên nhân thất bại để tiếp tục tháo gỡ chúng.

Lời giới thiệu của Paul de Man.
in trong: Hans-Robert Jauss, 1982, Toward an Aesthetic of Reception, Timothy Bahti dịch từ bản tiếng Đức, University of Minnesota.

Read Full Post »