Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một, 2010

HANS-GEORG GADAMER (1900-2002)

Dịch từ: Handwörterbuch Philosophie, 2003, Wulff D. Rehfus, Vandenhoeck & Ruprecht,Verlage. 111-113.

Ông là triết gia người Đức, sinh 11.2 tại Marburg và mất 13.3 tại Heidelberg. Ông học triết học, ngữ văn Đức, lịch sử và lịch sử nghệ thuật tại Breslau và Marburg (nơi ông cũng học ngữ văn cổ điển từ 1924-1927). Năm 1922, ông đạt học vị tiến sĩ (do Natorp hướng dẫn) với luận án Das Wesen der Lust nach den platonischen Dialogen (Bản chất của sự vui sướng theo các đối thoại Platon). Luận văn nhậm chức giáo sư được ông viết năm 1929 (dưới sự hướng dẫn của Heidegger) có tên là Interpretation zum platonischen Philebos. Gadamer dạy học ở Marburg và Kiel, 1937 trở thành giáo sư dự bị ở Marburg và năm 1939 là giáo sư chính thức ở Leipzig. Từ 1947 đến 1949, ông giữ chức giáo sư ở Frankfurt/M, và từ 1949 đến 1968 ông dạy học ở Heidelberg (với tư cách kế tục Karl Jasper). Sau khi nghỉ hưu, ông nhiều lần nhận lời mời thỉnh giảng ở nước ngoài, đồng thời thực hiện các bài giảng và hoạt động thuyết trình ở trong nước và nước ngoài.

Phạm vi lĩnh vực rộng lớn của Gadamer, đương thời được trình bày trong một tập sách tuyển chọn mười năm (Gesammelte Werke, 1985 – 1995) và trong một tuyển tập bổ sung có tính chất tập hợp, bao gồm các tác phẩm về triết học Hy Lạp, triết học hiện đại, cùng với các tác phẩm về mỹ học và thi pháp học. Trong trung tâm điểm, các công trình của ông đặt định cho sự thành lập một thông diễn học triết học, vốn được ông định danh trong công trình quan trọng của ông xuất bản năm 1960: Wahrheit und Methode.

Với chủ trương của mình, Gadamer tiếp nối nỗ lực đặt cơ sở cho một bản thể học nền tảng thuộc về dự án ban đầu trong học thuyết của Heidegger về “thông diễn học về kiện tính”, dự án được mở đầu trong bài giảng ở Freiburge từ đầu những năm 20, và trong công trình chủ chốt của Heidegger Sein und Zeit từ 1927. Bằng “thông diễn học về kiện tính” cũng như là “thông diễn học về Dasein”, Heidegger vượt qua triết học về việc hiểu trong giai đoạn hậu kỳ của Dilthey, vốn được phát triển trong bối cảnh của một lý thuyết về “các tinh thần khách quan”. Heidegger vận dụng tri thức của Dilthey về việc con người “đã tồn tại bên trong” một thế giới khả niệm – một thế giới là cơ sở và là môi trường cho hoạt động hiểu – vào một trình bày cơ bản của ông về bản thể học của Dasein, nghĩa là trình bày cơ bản về cận-nhân loại học; theo đó, việc hiểu không chỉ được xem như là một phương pháp của khoa học tinh thần, cũng như là một hình thức nhận thức đặc thù, mà hơn nữa, còn là điều kiện và cơ sở cho sự tự nhận thức, thể hiện một kiểu thức tồn tại phổ sinh nguyên sơ tiên khởi của cá nhân. Do vậy, đặt trong một cảnh trạng, việc hiểu là một “hình thức cơ bản của sự tồn tại” của Dasein cá thể, nghĩa là một “phổ sinh”.

(còn tiếp)

Advertisements

Read Full Post »

THÔNG DIỄN HỌC

(từ tiếng Hy lạp hermeneutike (techne), “nghệ thuật lý giải”):

Theo nghĩa truyền thống, thông diễn học là nghệ thuật của sự lý giải và phiên dịch các văn bản; trong thuật ngữ hiện đại, thông diễn học có nghĩa là nghệ thuật HIỂU và sự suy nghĩ có phương pháp về các tiền giả định của việc hiểu (với tư cách là khoa học hay lý thuyết về việc hiểu). Trong truyền thống, thông diễn học bao gồm sự lý giải cũng như việc hiểu các văn bản, và các phát biểu thành văn. Tuy nhiên, khái niệm thông diễn học cũng như khái niệm hiểu có thể được mở rộng cho mọi loại văn bản cũng như ký hiệu. Ngược lại với mọi nỗ lực muốn xem thông diễn học là “lý thuyết nghệ thuật thuần túy” (kỹ năng), Gadamer yêu cầu mở rộng vấn đề hiểu từ một lĩnh vực ứng dụng đặc thù sang một kích thước rộng hơn nhiều của việc tra hỏi triết học. Kinh nghiệm thông diễn tạo nên môi trường cho việc hiểu thế giới và hiểu chính mình.

Các mô hình thông diễn học đầu tiên có đặc điểm ứng dụng-cụ thể trực tiếp cho từng trường hợp; chúng được quan niệm như là sự hỗ trợ để hiểu các văn bản khó. Ở đâu văn bản cần được hiểu, ở đó bắt đầu hình thành sự phản tư về tiến trình hiểu. Sự phản tư về tiến trình hiểu xuất hiện trước tiên trong thần học, khi có nhu cầu lý giải thánh điển (ở đây, thông diễn học không chỉ là một môn học về kỹ năng lý giải, mà còn là một môn học về tín điều). Sau đó là trong luật học, nơi văn bản và các lời nói thành văn phải được giải thích một cách phù hợp, và cuối cùng trong các ngành ngôn ngữ học khác nhau – cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa nhân văn và sự tái phát hiện những ngôn ngữ cổ. Ngay trong thời cổ đại đã có những tiền đề ban đầu cho nghệ thuật lý giải. Thời này, các biện sĩ đã có những thành tựu đáng chú ý; họ là những người đầu tiên quan tâm đến việc lý giải các thi phẩm. Ở đây, thông diễn học quan hệ mật thiết với TU TỪ HỌC. Tuy nhiên, giai đoạn khai sinh và thịnh vượng thực sự của thông diễn học diễn ra trong thời cận đại. Một khi có khoảng cách thời gian với truyền thống và khi một ý thức lịch sử xung đột với truyền thống, thì bấy giờ nhu cầu về thông diễn trở nên nổi bật.

Hoạt động dạy học của Melanchon[1] đóng một vai trò đặc biệt cho việc ra đời thông diễn học.  Dưới sự hướng dẫn của ông, việc giải thích văn bản truyền thống là bộ phận của việc [gehören zu: thuộc về] đào luyện nhà hùng biện.  Sự chuyển dịch từ khoa sư phạm về hoạt động diễn thuyết (Redehaltens) sang khoa sư phạm về hoạt động giải thích các văn bản đặt dấu mốc lịch sử cho vai trò nổi bật của thông diễn học. Vào giai đoạn 1700, lý thuyết cảm xúc (từ thời Aristoteles là bộ phận của Tu từ học) đã được A.H.Francke [2] tiếp thu vào trong nghị luận về thông diễn học. Lý giải tâm lý nơi Schleiermacher [3]lý thuyết đồng cảm của J.J.Rambach [4] đều có nguồn gốc trong lý thuyết cảm xúc [của Aristoteles]. Trong chú giải Thánh kinh, câu hỏi về việc hiểu cái xa lạ được đặt ra, và trước hết trong việc phiên dịch một ngôn ngữ xa lạ, thứ nữa là trong việc lý giải và hiểu bản thân nội dung của Thánh kinh. Thông diễn học phục vụ cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều của giáo hội; vì người ta cho rằng ai ai cũng có năng lực tiềm tàng để hiểu Thánh kinh từ sức lực của chính mình. Ngay ở đây, thông diễn học đã được quan niêm như là năng lực phổ biến của con người. Trong thời kỳ này, các mô hình nổi tiếng, chẳng hạn như mô hình về mối quan hệ giữa các bộ phận với cái toàn bộ trải qua bước quá độ từ tu từ học thông diễn học. Khi J.Dannhauer [5] từ bỏ “sự lý giải có tính chất tu từ của người diễn thuyết” nhằm vào “sự sử dụng và sự hữu ích” của các văn bản, ông đã nỗ lực đưa thông diễn học đến gần với logic học (phân tích). Từ thời điểm ấy, logic học phân tích tỏ ra là kiểu mẫu cho một logic mới của việc hiểu. Sau đó, “Môn học về kỹ năng hiểu” của Schleiermacher đánh dấu một bước tiến xa hơn nữa trong sự phát triển của thông diễn học.


[1] [Còn được viết là] Philipp Melanchthon (1497 – 1560), tên khai sinh là Philipp Schwartzerdt, là nhà thần học và chú giải học. Theo ông, việc lý giải thần học đòi hỏi trước hết người lý giải phải là nhà ngữ pháp và là nhà biện chứng pháp, và cuối cùng là việc lý giải này cần các bằng chứng (ND).

[2] August Hermann Francke (1663 – 1727) người Đức, theo đạo Tin lành. Ông trình bày những bài giảng chú giải và bình luận về Tân ước và Cựu ước tại University of Halle (ND).

[3] Friedrich Daniel Ernst Schleiermacher (1768 – 1834) nhà thần học, triết gia Đức. Ông là một trong những bậc tiền bối của thông diễn học. Thông diễn học được ông quan niệm như là “nghệ thuật hiểu cụ thể diễn ngôn thành văn của người khác một cách chính xác” (Thông diễn học và phê bình). Theo ông, việc lý giải văn bản nhằm tái cấu tạo chủ ý của tác giả để hiểu tác giả hơn tác giả (ND).

[4] Johann Jacob Rambach (1693 – 1735), giáo sư thần học tại University of Halle. (ND)

[5] Johann Konrad Dannhauer nhà thần học, năm 1654, ông xuất bản quyển “Hermeneutica sacra sive methodus exponendarum sacrarum litterarum” và khai sinh ra thuật ngữ “hermeneutics” (ND).

còn nữa

dịch từ: Alexander Ulfig, 1997, Lexikon: Der Philosophischen Begriffe, Fourier Verlag.

 

HERMENEUTIK

(vom griech.hermeneutike (techne), “Auslegungskunst”):

Traditionnell die Kunst des Auslegens und Übersetzens von Texten; in der neueren Terminologie die Kunst des VERSTEHENS und die methodische Besinnung auf die Voraussetzungen des Verstehens (als Wissenschaft bzw. Theorie vom Verstehen). Traditionell handelt es sich in der H. um die Auslegung bzw. das Verstehen von Texten, von schriftlich fixierten Äusserungen. Der Begiff der H. bzw der Verstehensbegiff kann jedoch auf Äusserungen bzw. Zeichen jeglicher Art ausgeweitet werden. Gadamer fordert, entgegen aller Versuche, die H. als “reine Kunstlehre” (techne) zu bezeichnen, die Prolematik des Verstehens von einem speziellen Anwendungsbereich in eine viel breitere Dimensionalität des philosophischen Fragens auszubreiten. Die hermeneutische Erfahrung bildet das Medium des Weltverständnisses und Selbstverständnisses.

Die ersten hermeneutischen Modelle besassen einen unmittelbar pragmatisch-okkasionellen Zug; sie waren als Verständnishilfen für schwere Texte konzipiert. Dort, wo Texte verstanden werden stollen, entstand auch die Besinnung auf den Verstehensvorgang. Zunächst in der Theologie, wo ein Bedürfnis nach der Auslegung der Heiligen Schrift bestand (hier war die H. nicht bloss eine Kunstlehre, sondern auch eine Glaubenslehre), sodann in der Jurisprudenz, wo Texte und schriftlich fixierte Reden angemessen ausgelegt werden mussten und schliesslich – mit dem Aufkommen des Humanismus und mit der Wiederentdeckung der alten Sprachen – in den verschiedenen Sprachdisziplinen. Schon in der Antike gibt es Ansätze zu einer Kunst der Auslegung. Hier haben die Sphisten beträchtliche Verdienste erworben; sie beschäftigten sich als erste mit der Auslegung von Gedichten. H. steht hier in einem engen Zusammenhang mit der RHETORIK. Ihre eigentliche Entstehungszeit und Blüte erlebt die H. in der neuzeit. Wenn ein Zeitabstand zu den Überlieferungen und ein historisches Bewusstsein, das in einen Konflikt mit Überlieferung gert, entstehen, macht sich das hermeneutische Interesse bemerkbar.

Eine besondere Rolle für die Entstehung der H. spielte die Lehrtätigkeit des Melanchton; unter seiner Leitung gehörte die Auslegung schriftlicher Überlieferung zur Ausbildung des Rhetors. Die Verschiebung von der Tätigkeit des Redehaltens zur der des Auslegens von Texten markierthistorisch das Auftauchen der H. Um 1700 wird bei A.H.Francke die Affektenlehre (seit Aristoteles Teil der Rhetorik) in die hermeneutische Diskkussion aufgenommen. Die psychologische Interpretation, die von Schleiermacher aufgenommen wird, und die Einfühlungstheorie von J.J. Rambach haben in der Affektenlehre ihren Ursprung. In der Bibel-Exegese stellt sich die Frage des Fremdverstehens, und zwar erstens des Übersetzens aus einer fremden Sprache, zweitens in der Auslegung und im Verstehens biblischer Inhalte selbst. Die H. dient dem Kampt gegen den kirchlichen Dogmatismus; man nahm an, daß jedem potentiell die Fähigkeit gegenben ist, die Heilige Schrift aus eigener Kraft zu verstehen. Bereits hier wird H. als universelles menschliches Vermögen aufgefaßt. Bekannte Figuren, wie die des Verhältnisses von Teilen zum Ganzen erfahren jetzt einen Übergang von der Rhetorik zur H. Indem J.Dannhauer die ‘rednerische Auslegung”, d.h. den “Gebrauch und Nutzen” des Textes aufhob, versuchte er, die H. an die (Analytische) Logik anzunähern; analytische Logik erscheint jetzt als das Vorbild einer neuen  Logik des Verstehens. Einen weiteren Schritt in der Entwicklung der H. markiert Schleiermacher “Kunstlehre des Verstehens”.

còn nữa

Từ: Alexander Ulfig, 1997, Lexikon: Der Philosophischen Begriffe, Fourier Verlag.

Read Full Post »