Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười, 2010

THÔNG DIỄN HỌC VÀ PHÊ BÌNH (SCHLEIERMACHER)

Có hai định nghĩa về việc hiểu. Mọi thứ đều hiểu được vì không có gì vô nghĩa. Không có gì được hiểu nếu không được phân tích.

Schleiermacher, Các ghi chú, 1809.


GIỚI THIỆU CHUNG [1]

1. Thông diễn học và phê bình là hai môn học ngữ văn học, hai lý thuyết phụ thuộc vào nhau, vì sự thực hành cái này tiền giả định nơi cái kia. Cái thứ nhất nói chung là nghệ thuật [2] hiểu cụ thể phát biểu thành văn [3] của người khác một cách chính xác. Cái thứ hai là nghệ thuật phán đoán chính xác và thiết lập tính xác thực của các văn bản và các phần của văn bản từ các bằng chứng và dữ kiện đầy đủ. Vì phê bình chỉ có thể thừa nhận giá trị hiệu lực được kết chặt với bằng chứng trong mối quan hệ của nó với các chi tiết của bản viết hay bộ phận của văn bản đang được xem xét sau khi đạt được một việc hiểu chính xác và hợp lý dữ kiện, nên thực hành phê bình tiền giả định nơi thông diễn học. Mặt khác, căn cứ vào đó, sự diễn giải [4] chỉ có thể có sự xác thực trong việc thiết lập ý nghĩa của nó khi tính xác thực của văn bản hay bộ phận của văn bản có thể được tiền giả định, vì vậy thực hành thông diễn tiền giả định nơi phê bình.

Thông diễn học được đặt định một cách hợp lý trước tiên vì nó cũng cần thiết khi phê bình tiến hành một cách hoàn toàn khó khăn, cơ bản là vì phê bình nên tiến đến sự kết thúc [chẳng hạn như một khi tính xác thực của văn bản được thiết lập], nhưng thông diễn học thì không.

2. Theo một cách tương tự khi phê bình và thông diễn học phụ thuộc vào nhau, thì cả hai cũng phụ thuộc vào nhau cùng với ngữ pháp. Fr. A. Wolf và Ast đã đặt cả ba vào với nhau với tính cách là môn học ngữ văn học, người thứ nhất xem nó như là khoa ngữ văn học bước đầu, người thứ hai xem nó như là một phần phụ trợ cho ngữ văn học. Tuy nhiên, cả hai đều quan tâm đến chúng theo một cách thức rất đặc thù, chỉ trong quan hệ với các ngôn ngữ kinh điển của cổ nhân. Mối quan hệ của ba môn học này đúng hơn là sự hợp nhất có giá trị hiệu lực vĩnh viễn, chúng còn được tương tác nội tại bằng sự xác định lẫn nhau khi ngôn ngữ còn chưa thành tử ngữ và vẫn còn thiếu một lịch sử văn học. Vì tính tương tác nội tại của chúng với nhau nên sự khởi đầu của mỗi môn học cá biệt là khó khăn hiển nhiên, mặc dù thậm chí rằng trẻ con học ba môn học này cùng nhau trong đời sống giao tiếp hằng ngày. Thông diễn học và phê bình chỉ có thể được tiến hành với sự trợ giúp của ngữ pháp và chúng dựa vào ngữ pháp. Nhưng ngữ pháp chỉ có thể được thiết lậpbằng thông diễn học và phê bình, nếu nó không muốn có sự nhầm lẫn việc sử dụng ngôn ngữ kém cỏi với việc sử dụng ngôn ngữ kinh điển, và nhầm lẫn các quy tắc ngôn ngữ chung với nét cá biệt cá nhân của ngôn ngữ. Kết luận đầy đủ của nhiệm vụ bộ ba này là có khả năng cho một cách thức gần đúng, khi chúng được kết nối với nhau, và khi nhiệm vụ được tiến hành bởi những nhà ngữ văn học mẫu mực trong suốt kỷ nguyên phát triển của ngữ văn học.

Dịch từ bản tiếng Anh: Friedrich Schleiermacher, 1998, Hermeneutics and Criticism and Other Writings, Andrew Bowie dịch từ bản tiếng Đức, Cambridge, UK.


[1] Phần này tóm tắt từ ghi chú bên lề của Schleiermacher trong sổ ghi chép của ông năm 1828 và từ các bản thảo khác nhau của các bài giảng trong nhiều năm.

[2] Chú thích của người dịch bản tiếng Anh (có lược bỏ những giải thích cho việc chọn từ tiếng Anh tương ứng): Đối với Schleiermacher, nghệ thuật là bất kỳ hoạt động nào được tiến hành dựa vào các quy tắc, mặc dù có thể không có quy tắc cho việc vận dụng các quy tắc này. Schleiermacher sử dụng chữ ‘nghệ thuật’ (Kunst) cả trong nghĩa của chữ Hi lạp ‘techne’, có nghĩa là năng lực, khả năng, và trong nghĩa liên quan đến ý niệm thẩm mỹ mới được kết nối chủ yếu với Kant, nghĩa là một cái gì không thể được hiểu như nghệ thuật đơn thuần qua các quy tắc của hình thức cụ thể của sự nối khớp. Nghĩa khác của từ này là được đặc định cho toàn bộ thông diễn học của Schleiermacher. Đây là điểm quan trọng cần lưu ý để hiểu điểm tựa của văn bản này.

[3] Chú thích của người dịch bản tiếng Anh (có lược bỏ những giải thích cho việc chọn từ tiếng Anh tương ứng): Schleiermacher thường sử dụng thuật ngữ ‘Rede’ cho cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

[4] Chú thích của người dịch bản tiếng Anh (có lược bỏ những giải thích cho việc chọn từ tiếng Anh tương ứng): tiếng Đức là ‘Auslegung’.

Read Full Post »

THÔNG DIỄN HỌC LÀ GÌ?

Khi một người nào đó hỏi tôi thông diễn học (hermeneutics) có nghĩa gì, tôi thường chỉ trả lời rằng nó có nghĩa là sự lý giải (interpretation). Thỉnh thoảng tôi tiếp tục bằng cách thêm rằng thông diễn học liên quan đến những lý thuyết cho việc lý giải đúng các văn bản. Từ “hermeneutics” và từ “interpretation” cùng bắt nguồn từ từ ngữ Hi Lạp. Trong khi “hermeneutics” không là một từ thông dụng trong tiếng Anh, thì “interpretation” lại là một từ ngữ thông dụng. Ta biết rõ là có những người lý giải và những hoạt động lý giải trong một số lĩnh vực nghiên cứu. Ta lý giải tiểu thuyết, thơ, kịch và phim. Ta lý giải Kinh thánh, Torah, kinh Koran, Đạo đức kinh (Tao Te Ching), kinh Brahma. Ta có nên lý giải những văn bản này hay không? Ngoài lý giải ra liệu ta có thể làm gì được chúng nữa không? Có người lý giải luật. Tòa án tối cao có nhiệm vụ lý giải Hiến pháp của Hợp chủng quốc. Một diễn viên lý giải vai diễn mà cô ta phải đóng. Nhạc trưởng lý giải một bản nhạc. Ta cũng biết rõ những lý thuyết khác nhau về hoạt động lý giải. Thi học của Aristotle cho ta biết cách lý giải bi kịch Hi Lạp; ông thậm chí còn phát biểu một số quy tắc. Phê bình văn học đã phát triển một số lý thuyết cho việc lý giải những văn bản văn học. Dường như ta biết nhiều về thông diễn học hơn là ta nghĩ.

Các nhà khoa học tự nhiên lý giải tự nhiên hay là giải thích nó? Có phải họ lý giải dữ kiện tập hợp từ những thí nghiệm? Bạn có lý giải hay chỉ hiểu những động cơ của người bạn thân? Bạn có lý giải một bức điêu khắc không, và, nếu vậy, bạn bắt đầu điều đó như thế nào? Có chăng chỉ có một lý giải đúng về bức điêu khắc đó hay có thể có nhiều lý giải đúng về nó? Xét trường hợp Hamlet; có một hay nhiều lý giải đúng? Khi bạn thấy một dấu hiệu dừng xe, và bạn dừng, đó có phải là một lý giải không? Nếu bạn tiếp tục lái mà không dừng thì sao? Liệu đó có phải là một lý giải? Định lý Pythagoras có phải là một lý giải không?

Ta muốn hiểu thông diễn học có nghĩa là gì trong triết học lục địa ngày nay. Triết học phân tích ngày nay cũng thảo luận về ngôn ngữ, ý nghĩa và việc hiểu các văn bản; tuy nhiên, những phân tích này cần một cuốn sách riêng. Ý nghĩa triết học của thông diễn học ngày nay chủ yếu được Hans-Georg Gadamer định rõ trong Chân lý và phương pháp, công trình có tên gốc là Những cơ sở của/về thông diễn học triết học. Nhà xuất bản nghĩ rằng từ “hermeneutics” là khó hiểu đối với một nhan đề như thế, nên đã chọn lựa một nhan đề khác. Với Gadamer, thông diễn học là một học thuyết triết học về nhận thức yêu sách rằng tất cả những trường hợp hiểu bao gồm một cách tất yếu cả sự lý giải lẫn sự vận dụng.

Thông diễn học bao gồm những loại vấn đề gì? Đầu tiên, ta có thể hỏi về phạm vi của thông diễn học. Dường như là những kí hiệu dừng không đòi hỏi sự lý giải. Bạn biết hoặc không biết nó có nghĩa là gì ngay khi bạn nhìn thấy nó. Điều tương tự cũng đúng cho định lý của Pythagoras. Trọng lực không phải là một sự lý giải về tự nhiên mà là một định luật, hay chính xác hơn, là một giả thiết được chứng thực là đúng và có thể được chỉnh sửa nếu có bằng chứng. Những giả thiết khoa học dường như không là những lý giải theo nghĩa như có nhiều lý giải về Hamlet. Nếu bạn nói với tôi “Nhìn phía trước kìa, có con rắn chuông!”, liệu tôi có cần lý giải bạn nói gì hay là tôi chỉ cần nhảy giật lùi? Nếu ta đang đi bộ ở Grand Canyon, tôi ắt sẽ nhảy; nếu bạn nói điều này với tôi trong một nhà hàng tại Paris, có lẽ tôi sẽ bắt đầu lý giải, và tôi chắc chắn sẽ nhìn bạn chằm chằm. Phải chăng chỉ có những đoạn văn khó trong những văn bản quan trọng mới cần đến một sự lý giải cẩn thận? Trong truyền thống, đây là chỗ mà những quy tắc thông diễn của sự lý giải được bàn luận trước tiên. Chính xác là Hegel nói gì trong lời giới thiệu cho Hiện tượng học tinh thần, nơi đó ông nói về “một sự phủ định xác định”? Như ta sẽ tìm hiểu, Friedrich Schleiermacher biện luận rằng ta buộc phải cần đến thông diễn học trong toàn bộ những trường hợp ta muốn hiểu ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết. Gadamer thậm chí còn tiến xa hơn (như vừa dẫn) khi biện luận rằng bất kỳ tình huống nào của việc hiểu đều tất yếu bao gồm sự lý giải, cho dù đó là việc hiểu về bất kỳ điều gì.

Ta có thể hỏi khi nào thì ta cần đến thông diễn học? Phải chăng ta cần lý giải và sử dụng những quy tắc của lý giải chỉ khi nào có một cái gì không có nghĩa, chẳng hạn như một con rắn chuông trong nhà hàng Paris? Dường như là như vậy. Trong một bài luận của sinh viên tôi đọc thấy câu “Hình ảnh của Aristotle về cái hang không có nghĩa”. Tôi có cần lý giải không, vì đây là một trình bày sai? Hoặc tôi chỉ nhận ra rằng sinh viên nhầm Plato với Aristotle? Có phải thông diễn học cần thiết chỉ khi một người phát hiện một mâu thuẫn hiển nhiên? Rudolf Carnap phát hiện một số nhầm lẫn, nếu không phải là những mâu thuẫn, trong tiểu luận “Siêu hình học là gì?” của Heidegger. Ông có nên lý giải, hay chỉ đơn giản là Heidegger đã sai? Nếu tôi không hiểu về định lý của Pythagoras, tôi cần một lý giải hay một chứng minh? Thông diễn học truyền thống, với tính cách như là một tập hợp của những quy tắc cho sự lý giải, đã từng được vận dụng trong trường hợp một đoạn văn không có nghĩa. Nhưng, bằng cách nào ta biết rằng nó không có nghĩa? Phải thực sự hiểu trước cái gì đó rồi ta mới nhận ra vấn đề này. Mặt khác, có lẽ đoạn văn chỉ đơn giản là không có nghĩa và bất kỳ sự nỗ lực lý giải nó để cho nó có nghĩa chắc chắn tự nó sẽ là một lý giải sai.

Sự lý giải diễn ra như thế nào? Người lý giải phải biết gì và làm gì để hiểu? Đây là lúc để ta giới hạn sự lý giải vào ngôn ngữ. Tôi đọc “Này, trả lời tôi. Đứng lại và gỡ mở (unfold) mình ra nào”. Ở đây xuất hiện một vấn đề. Bằng cách nào một người nào đó có thể gỡ mở chính họ, giả sử như ta biết  mình đang nói với một con người? Chỉ cái gì được gấp lại – như một cái khăn ăn chẳng hạn – mới có thể được gỡ mở ra. Phải chăng một người có thể gập mình lại trong một cách thức lạ lẫm như vậy? Một việc tra từ điển nhanh phát hiện rằng “gỡ mở” có thể cũng có nghĩa là phơi bày. Nhưng chúng ta vẫn thường không dùng từ này để nói về con người. Nhưng, dĩ nhiên, từ này do Shakespeare (Hamlet, I.I.2) sử dụng theo một cách riêng biệt cùng với những từ khác vào thế kỷ XVI. Do đó người lý giải phải hiểu ngôn ngữ như nó được sử dụng khi văn bản được viết ra. Một quyển từ điển, một người biên tập hay một học giả có thể giúp đỡ việc này. Ngày nay ta sẽ viết: “Đứng  lại và trình giấy tờ nào”. Người lý giải phải hiểu biết ngôn ngữ như nó được sử dụng vào thời điểm viết. Điều gì xảy ra khi không có sự giúp đỡ của từ điển? Một người có thể quyết định một nghĩa nào là đúng từ ngữ cảnh của nó không? Điều này dường như có thể xảy ra trong chừng mực nào đó. Cái gì thuộc về ngữ cảnh này? Ở đây còn có những phần còn lại của văn bản. Từ ngữ cảnh của những dòng chữ trong vở Hamlet ta hiểu rằng một người lính gác đang nói chuyện với người khác. Ngữ cảnh có thể bao gồm những tác phẩm khác của cùng tác giả hoặc những văn bản khác của cùng thể loại trong cùng một thời đại. Nó cũng bao hàm những văn bản khác cùng chủ đề. Nếu có sự khác biệt giữa ngôn ngữ của tác giả và ngôn ngữ của người lý giải, thì việc dịch có phải là một mô hình tiêu biểu cho việc thông diễn học xảy ra như thế nào hay không? Người dịch phải biết cả hai ngôn ngữ, nhưng nếu người lý giải biết cả hai ngôn ngữ, thì cô ta có thể chỉ cần đọc văn bản trong ngôn ngữ của tác giả và không cần “dịch” nó ra ngôn ngữ riêng của cô.

Thông diễn học là một năng lực, một nghệ thuật, một phương pháp luận hay là một khoa học? Wilhelm Dilthey, như ta sẽ thấy, nghĩ rằng những người lý giải giỏi nhất là những thiên tài và những quy tắc lý giải được khám phá bằng cách dõi theo công trình của họ. Tuy vậy, những quy tắc này thực sự bao gồm cả sự phát triển của một phương pháp luận. Schleiermacher nghĩ rằng vài người có một năng khiếu hiểu ngôn ngữ và họ thích hợp nhất với hoạt động về mặt ngữ pháp, tức ngôn ngữ học, của thông diễn học; những người khác có năng lực hiểu con người và họ có thể tiến hành khám phá chủ ý của tác giả và mẫu hình tư duy của anh ta. Tuy nhiên, nếu trong mọi việc hiểu đều cần phải có sự lý giải, thì mỗi người cũng phải có năng lực này vì lẽ ta thường hiểu lẫn nhau. Phải chăng điều này có nghĩa là thông diễn học là cái gì ta có được khi ta học một ngôn ngữ?

Dường như kiểu loại văn bản được lý giải cũng đặt điều kiện cho sự lý giải. Để lý giải đúng Kinh thánh, ít nhất đối với một tín đồ, có nghĩa là tiền giả định rằng những điều Kinh thánh nói là chân lý tuyệt đối. Điều gì hiện ra dưới dạng phi luân lý sẽ phải được đọc theo một cách khác, dĩ nhiên là như một cảnh báo về việc con người có thể bị sa đọa như thế nào khi đọc nó. Một sự diễn tả về một phong cảnh phải chính xác. Nếu chúng trông như có một vấn đề, người ta sẽ thăm lại cảnh. Điều này dường như có tầm quan trọng trong nghiên cứu lịch sử, nhưng liệu nó sẽ có tầm quan trọng trong lý giải thơ trữ tình? Nếu một bài thơ hoặc một tiểu luận triết học thực sự không có nghĩa thì nó là một bản văn tệ hay ta là những người đọc tệ, hay là cả hai? Trong thông diễn học ta nên tìm kiếm nguyên tắc của lòng khoan dung hay thiện ý (charity or good will)? Nguyên tắc này buộc một người phải có sự đồng thuận trước tiên rằng cái gì được viết ra là có nghĩa. Nếu ở đây xuất hiện sự mù mờ hỗn độn, thì người lý giải phải giải quyết nó. Điều này dường như chỉ có tầm quan trọng nếu người ta đang đọc một đại triết gia hay một đại thi hào. Ta có nên sử dụng nguyên tắc này trong mọi trường hợp hay không? Cứ cho rằng bạn viết cho tôi từ nhà hàng Paris nói rằng bạn thấy một con rắn chuông. Tôi có nên dễ dàng đồng ý với điều đáng ngờ này không? Dĩ nhiên là có thể. Nếu giả định rằng tôi biết nhà hàng được trang hoàng bằng những vật lấy từ Wild West. Tôi ắt sẽ lý giải rằng bạn muốn nói là bạn nhìn thấy một con rắn nhồi bông.

Trong bàn luận của ta về thông diễn học, ta sẽ chạm đến “vòng tuần hoàn thông diễn”, cụm từ này có nghĩa là những bộ phận chỉ có thể hiểu được từ một sự hiểu về cái toàn thể, nhưng điều này cũng có nghĩa là cái toàn thể chỉ có thể hiểu được từ việc hiểu về những bộ phận. Dường như là trong trường hợp đó, không thể bắt đầu từ quy trình này mà không phải bắt đầu từ quy trình kia. Một ví dụ về quan hệ này là trường hợp mà các bộ phận là các từ của một câu và cái toàn thể là chính câu đó. Chắc chắn rằng nếu bạn không hiểu một từ quan trọng trong một câu thì bạn sẽ không hiểu câu này. Ngược lại, nếu bạn không hiểu toàn thể câu, như trong ví dụ về Hamlet, thì bạn ắt sẽ không hiểu từ “trình giấy tờ” một cách chính xác. Vòng tuần hoàn thông diễn dường như để trình bày vấn đề trên. Nói cách khác, hầu hết thời gian ta chỉ đọc, và không có vấn đề gì. Các từ được hiểu và câu thì sắp đặt chúng. Có phải vòng tuần hoàn thông diễn chỉ bao gồm những trường hợp phức tạp, một bài thơ trữ tình hay một đoạn văn khó trong Hiện tượng học của Hegel? Như ta sẽ thấy, Schleiermacher sẽ đồng ý rằng ta có thể phá vỡ vòng tuần hoàn bằng việc trước tiên ta có được một cảm nhận chung về cái toàn thể thông qua việc đọc sơ bộ và sau đó ta đọc đi đọc lại, từ bộ phận đến toàn thể và trở về bộ phận cho đến khi mọi thứ ăn khớp với nhau. Heidegger nói rằng vòng tuần hoàn là không thể tránh được, mà phải được bước vào theo một cách thức đúng đắn.

Mục đích của thông diễn học là gì? Rõ ràng là do ta muốn hiểu một cách đúng đắn. Một số người cho rằng chủ ý của tác giả là tiêu chuẩn cho việc hiểu đúng đắn. Bạn nói với tôi “Bên ngoài trời nóng!” Tôi hiểu bạn khi tôi hiểu chủ ý của bạn qua lời nói này. Có thể chủ ý của bạn chỉ đề cập đến tình trạng thực là bên ngoài trời nóng chứ không phải ấm. Hoặc phải chăng chủ ý của bạn là nói với tôi rằng bên ngoài trời nóng và do đó không thoải mái? Hay bạn có chủ ý rằng tôi nên mở điều hòa nhiệt độ? Mọi điều trong trường hợp này có lẽ dường như là tôi chỉ có thể hiểu đúng bạn khi tôi hiểu những gì bạn chủ ý qua những từ ngữ này. Nhà thơ ngụ ý rằng tôi hiểu nhiều hơn chỉ qua sự diễn tả của anh ta về tiến trình [bài thơ], do đó tôi sẽ không hiểu bài thơ cho đến khi tôi hiểu thấu toàn bộ chủ ý của bài thơ. Trường hợp này có phải chỉ đối với những tác giả lớn? Thế còn những chủ định không đạt thì sao? Sinh viên định viết một bài viết hay, nhưng không thể: anh ta nhầm lẫn giữa Plato và Aristotle. Tiêu chuẩn dường như là những gì được viết mà không là những gì chủ định. Nhưng ngôn ngữ biến đổi và do đó những gì được viết có thể không có nghĩa với tôi và cái gì có nghĩa chỉ khi nó được viết ra. Do đó, tiêu chuẩn là những gì công chúng ngày nay sẽ hiểu. Nhưng công chúng cũng có khả năng mắc nhiều sai sót như là tác giả. Có thể bản viết của bạn hay hơn tôi nghĩ. Công chúng chỉ không hiểu vở kịch; nó quá tiền phong. Như thế, phải chăng ngôn ngữ tự mình nói lên nghĩa của nó? Schleiermacher khẳng định rằng mục đích là để hiểu tác giả hơn anh ta hiểu chính mình, vì vậy, ta, với vai trò những người lý giải, có thể tiến đến việc hiểu biết về những động cơ ngầm ẩn hoặc vô thức. Phải chăng có những động cơ vô thức theo một cách nào đó có trong ngôn ngữ được viết ra của văn bản?

Có chăng chỉ có một người lý giải đúng hay có thể có nhiều người lý giải đúng? Có nhiều sự lý giải về vở Hamlet. Ta ắt muốn nói rằng có một số lý giải rõ ràng là tốt hơn một số lý giải khác, nhưng có chăng chỉ một lý giải đúng? Có lẽ là không, nhưng nên chăng có một lý giải lý tưởng? Tại sao chỉ nên có một? Tại sao sẽ không tốt hơn nếu có nhiều lý giải đúng như nhau? Một bản nhạc có thể được trình diễn, tức là được lý giải, theo những cách khác nhau. Cụ thể, dường như là nó không bao giờ được trình diễn tương tự như nhau một cách chính xác. Phải chăng điều này có nghĩa là chỉ một sự trình diễn là lý giải đúng? Ta có khả năng nói rằng quy luật về trọng lực chỉ liên hệ đến hiện tượng đơn lẻ; do đó có một lý giải đúng hay một quy luật đúng, ngay cả khi ta chưa biết nó ngay bây giờ. Thế còn lý thuyết về nhận thức? Phải chăng chỉ có một lý thuyết đúng? Phải chăng chỉ có một thông diễn học đúng? Có lẽ vấn đề về việc lý giải đúng được chỉ dẫn sai ngay từ khi khởi đầu, đó là một vấn đề giả tạo. Trong bàn luận của ta về thông diễn học, ta sẽ khám phá ra rằng một số vấn đề về việc lý giải đúng dựa trên cách thức bản thân ngôn ngữ được hiểu như thế nào. Điều này dường như cũng dựa trên một lý thuyết về việc hiểu hay một lý thuyết về bản thân nhận thức là gì.

Để bắt đầu bàn luận của ta về thông diễn học, ta nên trở về với chính từ ngữ. Đây không phải là một từ thông thường. Theo như Từ điển Anh ngữ Oxford, “hermeneutics” nhập vào ngôn ngữ Anh năm 1737 trong bản in lần thứ hai của quyển Review of the Doctrine of the Eucharist của Daniel Waterland. Vào đầu thế kỉ, German Johann Dannhauer tạo ra từ La tinh “hermeneutica”. “Hermeneutics” là một sự chuyển sửa của động từ Hy Lạp “hermeneuein”vốn có nghĩa là sự thể hiện thành âm thanh, sự phân tích hay là lý giải và diễn dịch. Từ “hermeneutics” được sử dụng có liên quan theo cách từ nguyên học đến thần Hermes, người trình bày những ý muốn của các vị thần cho con người, nhưng ngày nay mối liên kết về mặt từ nguyên học này được đặt lại thành vấn đề. Điều này làm mới lại tu từ pháp một cách hoàn hảo. Dịch ra chữ Latin cho từ Hy Lạp này là “interpretatio”, dĩ nhiên nó là gốc rễ cho từ “interpretation” trong Anh ngữ. Do đó, nói chung thông diễn học có nghĩa là sự lý giải.

Theo nghĩa rất chung là sự lý giải, thì thông diễn học có lẽ đã tồn tại từ khi con người bắt đầu biết nói. Khi viết, những lỗi sai ắt sẽ có nhưng chỉ trong những kỹ thuật viết. Khi ngôn ngữ phát triển và được nói nhiều hơn, những sự lý giải có lẽ cũng có những đòi hỏi cao hơn. Từ thời cổ đại, những lí thuyết về sự lý giải được phát triển theo những chuẩn tắc riêng biệt. Thông diễn học về luật liên quan đến việc lý giải đúng luật và sự điển chế hóa của nó nhằm ngăn chặn những sự lý giải sai. Thông diễn học thánh điển phát triển những quy tắc cho sự lý giải đúng đắn Kinh Thánh. Trong thời Trung cổ, thông diễn học ngữ văn trưởng thành và tập trung vào việc lý giải những văn bản kinh điển.

Ta nên bắt đầu bàn luận của ta về thông diễn học với Friedrich Schleiermacher (1768-1834), từ khi ông hiểu chính mình như là người đầu tiên hợp nhất những lý thuyết thông diễn học có những đặc trưng chuẩn tắc khác nhau thành một thông diễn học phổ quát. Đối với Schleiermacher, thông diễn học là nghệ thuật hiểu ngôn ngữ nói và viết. Sự thực hành nghiêm ngặt thông diễn học thừa nhận rằng việc hiểu sai là luôn xảy ra, do đó phải luôn cần đến sự lý giải. Vì bất kì sự biểu hiện nào về mặt ngôn ngữ liên quan đến tính tổng quát của ngôn ngữ và tư tưởng của tác giả, nên ông chia thông diễn học ra thành hai sự thực hành. Lý giải ngữ pháp liên quan đến việc hiểu ngôn ngữ mà tác giả sử dụng. Nó dùng những quy tắc ngữ pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ này. Nó liên quan đến nghĩa của từ ngữ như là ví dụ của ta từ Hamlet. Lý giải kĩ thuật hay lý giải tâm lí liên quan đến tư tưởng của tác giả, cách mà tác giả triển khai những tư tưởng của ông ta và hình thức trong đó những tư tưởng này biểu hiện. Lý giải tâm lí sẽ nhằm vào việc phân tích tại sao Shakespeare chọn từ “unfold” và ông ta có chủ ý gì để hoàn tất qua sự lựa chọn này. Lý giải ngữ pháp và lý giải tâm lý dựa vào nhau để hoàn thành nhiệm vụ của sự lý giải. Mục đích là để tái cấu tạo quá trình sáng tạo của tác giả, khám phá nghĩa mà tác giả chủ định và có lẽ để hiểu tác giả hơn ông ta hiểu chính mình.

Wilhelm Dilthey (1833- 1911) hiểu biết về thông diễn học từ những nghiên cứu kĩ lưỡng của ông về Schleiermacher. Tuy nhiên, dự án chính của ông là nhằm đề ra một phương pháp luận duy nhất cho các khoa học tinh thần vì ông tin rằng phương pháp khoa học tự nhiên không thích hợp với các khoa học tinh thần. Ông cho rằng hiểu là phương pháp dành cho các khoa học tinh thần trong khi đó giải thích nhân quả thuộc về các khoa học tự nhiên. Wilhelm Dilthey có vai trò quan trọng đối với việc bàn luận của ta vì sự phân tích của ông về việc hiểu sáp nhập những nhân tố khác nhau từ thông diễn học của Schleiermacher và lý thuyết của ông về việc hiểu ảnh hưởng đến sự phát triển xa hơn của thông diễn học ở Heidegger. Con người không giống như những đối tượng vật lý, nó có một đời sống tinh thần và một đời sống cảm xúc nội tâm. Tuy nhiên, ta không thể quan sát đời sống nội tâm của người khác một cách trực tiếp mà ta phải tìm được lối vào nó thông qua những biểu hiện thường nghiệm của nó. Việc hiểu xét về mặt phương pháp luận là quá trình qua đó ta tiếp xúc và hiểu được những biểu hiện của những đời sống của người khác, một đời sống có tính hiện thời và tính lịch sử. Vì ngôn ngữ là sự diễn tả trọn vẹn nhất về đời sống nội tâm của người khác, nên thông diễn học với tính cách như là sự hiểu có tính chất lý giải về những sự diễn tả ngôn ngữ là mô hình cho quá trình hiểu trên phương diện tổng quát trong các khoa học nhân văn. Ta sẽ khảo sát kĩ lưỡng nghiên cứu của Dilthey về việc ta làm thế nào để hiểu người khác.

Martin Heidegger (1889-1976) kết hợp phương pháp của Husserl về nghiên cứu hiện tượng học với những phương diện lý thuyết của Dilthey về việc hiểu đời sống trong số những ảnh hưởng quan trọng khác từ các nhà tư tưởng như là Plato, Aristotle, Meister Eckhard, Kierkegaard và Friedrich Nietzsche. Nghiên cứu hiện tượng học có nghĩa là mô tả một cách nghiêm ngặt kinh nghiệm của ta mà không tạo ra những phán đoán về cái mà kinh nghiệm đó ngụ ý. Heidegger cho rằng trước tiên ta phải hiểu ý nghĩa của tồn tại và đặc biệt là ta phải hiểu ý nghĩa của tồn tại con người trước khi ta có thể bàn luận về hiểu biết của ta về các tồn tại. Do đó triết học phải khởi đầu với việc khảo sát kĩ lưỡng về cách thức con người tồn tại trong đời sống thực. Sự mô tả là mang tính hiện tượng học và sự phân tích là mang tính thông diễn học vì chính sự tự hiểu có tính cách lí giải về việc ta có hiểu được bản thân ta trong đời sống. Phân tích này đạt đến đỉnh điểm trong quyển Tồn tại và thời gian, một trong những công trình triết học có tầm quan trọng nhất của thế kỷ XX. Ta sẽ tập trung vào vai trò của thông diễn học và sự mô tả của ông về việc hiểu trong Tồn tại và thời gian. Không lâu sau khi in quyển sách này, Heidegger nhận ra rằng Tồn tại và thời gian không thể được hoàn tất bởi vì nó đã được tiến hành quá xa và quá sớm. Heidegger suy nghĩ lại giả định của ông bằng cách lùi về hoàn cảnh có tính chất căn nguyên hơn mà từ đó tư duy phải bắt đầu. Trong khi làm như vậy, Heidegger bỏ qua thuật ngữ thông diễn học. Ngôn ngữ và thơ ca lại trở nên quan trọng hơn trong suy nghĩ của ông và ta sẽ hỏi rằng trong chừng mực nào thông diễn học vẫn là một bộ phận trong suy tưởng của Heidegger ngay cả khi thuật ngữ này không được đề cập đến.

Hans-Georg Gadamer (1900 – 2002) có trách nhiệm cho suy tưởng của ta về thông diễn học ngày nay trong triết học đương đại vì ba lý do. Thứ nhất, Heidegger đã bỏ rơi thuật ngữ này trong suy tư thời kỳ sau của ông. Thứ hai, Sartre, chủ soái của chủ nghĩa hiện sinh, phong  trào đã phát triển một phần từ quyển Tồn tại và thời gian của Heidegger, đã không sáp nhập vào thông diễn học. Thứ ba, Gadamer, một môn sinh của Heidegger, đã phát triển một cách đặc biệt sự phân tích của Heidegger về sự hiểu từ quyển Tồn tại và thời gian trong công trình chính của ông là Chân lý và phương pháp, và gọi lý thuyết của mình là thông diễn học triết học. Gadamer đã đặt tên một cách khiêu khích những tiền cấu trúc của việc hiểu, vốn đã được Heidegger nhận diện, là “những tiên kiến”. Tuy nhiên, trong cách sử dụng của ông, những tiên kiến không chỉ là sai lầm, cũng có những tiên kiến tích cực (positive prejudices) dẫn ta đến việc hiểu đúng. Ta kế thừa những tiên kiến của ta từ truyền thống của ta. Nhiệm vụ có tính chất nhận thức luận là phải phát hiện những tiên kiến tích cực này. Hiểu tất yếu là việc hiểu thông diễn (hermeneutic understanding) vì ta không thể thoát ra khỏi vòng tuần hoàn thông diễn, như Heidegger đã biện luận. Việc hiểu xảy ra như là một sự hòa trộn của cái được gọi là chân trời quá khứ của văn bản với chân trời hiện tại của người hiểu. Vấn đề trung tâm của thông diễn học, nhiệm vụ tất yếu của sự vận dụng, liên quan đến việc làm thế nào văn bản được nói trong chân trời giờ đây đã được mở rộng ra của người lý giải. Hiểu giống như một cuộc hội thoại, ở đó người lý giải phải lắng nghe và tôn trọng những quan điểm của người khác. Trong cuộc hội thoại này, những lập trường khác nhau được khảo sát, sự hiểu đúng chỉ có được khi lập trường của một người được đồng thuận trong toàn bộ những lập trường khác. Giải thích điều này xảy ra như thế nào, Gadamer phải khảo cứu vị thế bản thể học của ngôn ngữ. Ông cho rằng “Tồn tại có thể được hiểu là ngôn ngữ” (Being that can be understood is language). Ngôn ngữ, trong tồn tại tư biện (speculative being) của nó, có năng lực soi sáng và thuyết phục những người tham gia hội thoại tính chân lý của nó. Gadamer kết luận rằng việc hiểu thông diễn có thể biểu lộ và vén mở cho những chân lý mà vốn dĩ phương pháp khoa học không thể làm được.

Chương cuối cùng sẽ xét đến bốn phản bác thông diễn học triết học của Gadamer. E.D.Hirsch Jr. xác nhận rằng giá trị hiệu lực trong sự lý giải có thể đạt được bằng cách tuân theo con đường của thông diễn học triết học truyền thống. Ông không đồng thuận với yêu sách của Gadamer rằng sự hiểu liên quan một cách tất yếu với những tiên kiến và ta không thể tránh khỏi vòng tuần hoàn thông diễn. Tiêu chuẩn cho nghĩa là chủ định của tác giả. Ý nghĩa của văn bản phải được phân biệt với nghĩa của nó, nhưng Gadamer đã gắn kết chúng lại với nhau, gây ra những vấn đề cho lý thuyết của ông. Jürgen Habermas tranh luận rằng Gadamer đánh giá chưa đúng mức tư duy lý tính. Lý tính có thể phát hiện sự khởi sinh của một tiên kiến được kế thừa và từ đó làm cho nó trở nên trong suốt (transparent). Nếu lý tính không hợp thức, người lý giải có thể phê phán nó. Theo cách này, lý tính có thể phá vỡ vòng tuần hoàn thông diễn, và do đó, một sự phê phán  ý hệ là có thể có được. Bởi vì Gadamer không thừa nhận khả thể này của lý tính, nên thông diễn học triết học không có khả năng tránh khỏi những ý hệ mà nó kế thừa (inherited ideologies). Paul Ricouer đề nghị rằng Gadamer chỉ đúng một phần và phải sáp nhập sự giải thích có tính phương pháp luận vào thông diễn học của ông nếu ông buộc phải muốn tránh chủ nghĩa tương đối. Chỉ riêng biện chứng pháp của giải thích và hiểu mới có thể đáp ứng được những yêu cầu cho việc hiểu có giá trị hiệu lực. Jacques Derrida yêu sách rằng Gadamer vẫn còn bị vướng vào ngôn ngữ và học thuyết của siêu hình học, vì ông phát biểu rằng sự lý giải đúng về một văn bản được thể nghiệm trong tình huống thông diễn về chân lý (in the hermeneutic event of truth). Derrida cho rằng ngôn ngữ chỉ quy chiếu đến ngôn ngữ và không quy chiếu đến cái gì khác được biểu đạt một cách siêu nghiệm (not to something transcendentally signified). Ta kết luận rằng thông diễn học, theo một hình thức này hay hình thức khác, sẽ còn tiếp tục bao lâu con người còn dùng ngôn ngữ để giao tiếp với nhau. Vì thông diễn học triết học của Gadamer khớp nối thành một trong những lập trường cơ bản của thông diễn học nói chung, nên nó vẫn tiếp tục có một tiếng nói quan trọng trong cuộc hội thoại về thông diễn trong tương lai.

Lawrence K. Schmidt, 2006, Understanding Hermeneutics, trang 1-9.

Read Full Post »