Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám, 2010

LGT:

Đây là một trích đoạn quan trọng trong một bài viết Hans Robert Jauss nhìn lại các chặng đường nghiên cứu của mình. Nguyên bản bài này là tiếng Đức, in trong quyển “Kinh nghiệm thẩm mỹ và thông diễn học văn học”. Bản dịch từ bản tiếng Anh này mình dịch đã lâu, lúc chưa có bản tiếng Đức. Nay thì có rồi nhưng vẫn còn lười quá, chưa đối chiếu lại bản gốc… mọi người xem tạm vậy.

NHÌN LẠI VÀ HƯỚNG TỚI

Hans Robert Jauss

Hoàng Phong Tuấn dịch

[…] Trong khi công trình của nhà trung cổ học dẫn tôi đến vấn đề về vai trò nổi bật của chân trời, một vấn đề có tính chất thông diễn, và đưa tôi đến việc phê bình chủ thuyết truyền thống của ngữ văn học thực chứng,  thì cố gắng ban đầu của tôi nhằm bổ sung sự hiểu biết của mình bằng một kế hoạch với mỹ học tiếp nhận của văn học (Lịch sử văn học như một thách thức, 1967) đã chuyển sang một tình huống hơi khác. Quan niệm về một lịch sử văn học mới sẽ mở ra một mối quan hệ xoay vòng ngắn ngủi giữa tác giả và cái thế giới trong đó bao gồm người tiếp nhận, và sau đó sẽ xây dựng nên một vị thế trung giới giữa quá khứ và hiện tại từ người đọc hoặc công chúng. Quan niệm này phải được xác định trong diện mạo của một ý tưởng nghi ngờ tính khách quan của lịch sử văn học cũ và những yêu sách của tính khách quan được tạo ra bởi cả hai đối thủ là chủ nghĩa cấu trúc và xã hội học về việc hiểu lịch sử. Điểm đặc trưng chính của vị thế này là sự biến đổi của những chân trời, một hệ hình mới được đưa vào trong nghiên cứu văn học hiện đại. Nó được minh họa trong những trường hợp lí tưởng nào đó qua những tác phẩm như Don QuixoteJacques le fataliste, những tác phẩm: “gợi lên chân trời của những chờ đợi của người đọc, được thiết lập bằng những quy ước về thể loại, phong cách hoặc hình thức, chỉ nhằm từng bước phá vỡ chúng, tức là không chỉ có nghĩa nhằm phục vụ mục đích phê bình; mà có thể một lần nữa lại tạo ra những tác động thi ca”. Trong sự biến đổi chân trời giữa những chờ đợi sơ khởi và kinh nghiệm mới được nhận ra này, tôi nhận thức rõ nguyên lý trung giới thẩm mỹ trong tiến trình lịch sử văn học, dẫn đến sự biến đổi đích thực cái quy phạm bằng việc xét lại những quan niệm của chúng ta về toàn bộ tác phẩm quá khứ. Quan niệm này về sự biến đổi của những chân trời cũng cho phép tôi nhìn nhận được đặc trưng thẩm mỹ của một tác phẩm khi gắn liền với khoảng cách thẩm mỹ ngầm ẩn (tức là khoảng cách giữa sự chờ đợi và trải nghiệm, giữa truyền thống và sự cách tân), và cho phép tôi đối chiếu tính chất phủ định kiến tạo của nó với đặc điểm khẳng định của cái quy tắc dựa vào đặc tính của văn học tiêu thụ.

Công thức của tôi về hệ hình này rõ ràng chịu ảnh hưởng (qua vài sự đồng thuận vô thức) của quan niệm chủ nghĩa hình thức Nga rằng sự cách tân thẩm mỹ là tác nhân tạo thành cuộc cách mạng của văn học, và quan niệm về mỹ học phủ định của Adorno, theo đó một tác phẩm tự trị có thể có được chức năng xã hội bằng một sự phủ định nào đó đối với những quy tắc đang tồn tại. Xu hướng có tính chất hiện đại rõ ràng trong hệ hình đầu tiên của mỹ học tiếp nhận này tương ứng lập trường mà tôi nêu ra trong bài giảng nhậm chức ở Constanz, bài giảng đã gây một bất ngờ và gây ra một cuộc luận chiến sôi nổi. Nỗ lực của tôi nhằm đáp lại những lời phê bình đã cho phép tôi từng bước phát triển kế hoạch thứ nhất về mỹ học tiếp nhận trong sự đối thoại với họ và cho phép tôi thực hành thẩm tra kế hoạch này. Giai đoạn tiếp theo là nhằm giới thiệu khái niệm “chân trời chờ đợi” như là một phương sách cho sự phân tích kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc:

“Sự phân tích kinh nghiệm văn học của người đọc sẽ tránh được những cạm bẫy đe dọa của tâm lý học nếu nó mô tả sự tiếp nhận và sự ảnh hưởng của một tác phẩm trong một hệ thống được khách quan hóa của những chờ đợi sinh ra cho mỗi tác phẩm trong khoảnh khắc lịch sử nó xuất hiện từ một sự thấu hiểu trước về thể loại, từ hình thức và những chủ đề của những tác phẩm đã quen thuộc, và từ sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ hằng ngày”.

trực tiếp chống lại những người đã cho rằng một phân tích về kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc chắc chắn kết thúc ở chủ nghĩa chủ quan của phản ứng cá nhân (“bao nhiêu người đọc, bấy nhiêu cách lý giải”), hoặc trong chủ nghĩa tập thể của một xã hội học về thị hiếu, vị thế này tạo ra một khả năng quan niệm về một kinh nghiệm văn học trong sự khác biệt có tính khách quan giữa sự chờ đợi có tính quy chuẩn và kinh nghiệm có tính sáng tạo; do đó nó mang nhiều tính văn học tự bên trong.

(còn tiếp)

Trích dịch trong: James L. Machor và Philip Goldstein, 2001, Reception Study: From Literary Theory to Cultural Studies, , Routledge , New York , trang 22.

Read Full Post »

LÝ GIẢI [SỰ]

Phân tích, giảng nghĩa, cắt nghĩa. Sự lý giải cũng như sự phân tích đã xuất hiện ngay từ đầu lịch sử của triết học như là một phương pháp hay đặc điểm cơ bản của tư duy chúng ta. Sự lý giải liên quan phần lớn đến các văn bản, nhưng cũng liên quan đến các loại phát biểu khác nữa. Trong lịch sử, khái niệm sự lý giải xuất hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với khái niệm THÔNG DIỄN HỌC và khái niệm HIỂU . Những sự phát biểu cũng như những ký hiệu cần được hiểu, phân tích và lý giải. Những phương pháp khác nhau của việc phân tích (văn bản) cũng là những phương pháp của sự lý giải. Những phương pháp như thế đã xuất hiện từ thời cổ đại; thời này, các biện sĩ (Sophiste) nỗ lực hiểu và lý giải các tác phẩm thi ca và các phát biểu thành văn khác (ví dụ như của Homer) . Trong thời trung đại, và nhất là sơ kỳ thời cận đại, nghệ thuật lý giải (đặc biệt trong việc lý giải thánh điển) đã trở thành công cụ-khoa học ngữ văn chính yếu. Ta thấy các phương pháp lý giải khác nhau trong thông diễn học; những mo-men có tính phương pháp cũng như cận-phương pháp thể hiện trong quá trình hiểu có thể được xem như là các mo-men của sự lý giải. Sự phân tích vốn thuộc về việc hiểu có thể được xem  như là một cách thức của sự lý giải. Trong sự tìm hiểu cũng như tiếp xúc với thế giới, bao giờ ta cũng đã lý giải về thế giới theo một cách thức nhất định nào đó. Sự lý giải sơ thủy này thể hiện qua một số đặc điểm nhất định; chẳng hạn, sự lý giải là có tính chọn lựa (sự lý giải hướng đến những văn cảnh nhất định và có những sự ưu tiên nào đó). Ngoài thông diễn học, khái niệm sự lý giải cũng xuất hiện trong logic học, ký hiệu học và lý thuyết cú pháp hiện đại. Sự lý giải cấp tiến (theo Davidson) xuất phát từ tính chất tuần hoàn của lý thuyết về ý nghĩa: ta hiểu ý nghĩa các lời nói khi ta biết được chủ ý và ý hướng của người nói. Tuy nhiên đến lượt chúng, chủ ý và ý hướng lại phụ thuộc vào lời được nói ra.

Từ: Alexander Ulfig, 1997, Lexikon: Der Philosophischen Begriffe, Fourier Verlag, tr 208.

Interpretation (von lat. interpretatio)

Auslegung, Erklärung, Deutung. Die I. bzw. Auslegung tritt als ein Verfahren bzw. Grundzug unseres Denkens seit Abeginn Philosophiegeschichte auf. Die I. bezieht sich meist auf Texte, aber auch auf andere Äußerungen. Der begriff der I. taucht historisch in einem engen Zusammenhang mit dem Begiff der HERMENEUTIK und des VERSTEHENS auf. Äußerungen bzw. ZEICHEN sollen verstanden, ausgelegt, interpretiert werden. Die unterschiedlichen Verfahren der ( Tex- ) Auslegung sind auch Verfahren der I. Solche Verfahren tauchen schon in der Antike auf; hier versuchen die Sophisten, Gedichte und andere schriftlich fixierte Äußerungen (z. B. Homer) zu deuten, zu interpretieren. Im Mittelalter, jedoch besonders zu Beginn der Neuzeit, wird die I. –Kunst (besonders im Hinblick auf die I. der Heiligen Schrift) zum zentralen philologisch-wissenschaftlichen Instrument. Die verschiedenen I. –Verfahren findet man in der HERMENEUTIK; die im Verstehensvorgang zum Ausdruck kommenden methodischen bzw. quasimethodischen Momente können als Momente der I. betrachtet werden. Die zum Verstehen gehörende Auslegung kann als eine Weise der I. aufgefaßt werden. In der Auseinandersetzung bzw. Begegnung mit der Welt intepretieren wir immer schon auf eine bestimmte Weise die Welt. Diese ursprüngliche I. zeichnet sich durch bestimmte Merkmale aus; die I. ist z. B. selektiv (sie richtet sich auf bestimmte Kontexte und hat bestimmte Relevanzen). Der Begriff der I. kommt außer in der Hermeneutik in der Logik, Semiotik und der modernen Syntaxtheorie vor. Die radikare I. (Davidson) geht von der Zirkularität der Berdeutungstheorie aus; Wir verstehen die Bedeutung von Ausdrücken,wenn wir die Absichten und Intentionen des Sprechers kennen; die Absichten und Intentionen sind aber wiederum von der Bedeutung der sprachlichen Ausdrücke abhängig.

Nguồn trích dẫn (0)

Read Full Post »