Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm, 2010

Vòng tuần hoàn thông diễn

[là] một mô hình trung tâm trong thông diễn học, một mo-ment căn bản của việc hiểu. Khi nỗ lực nhận thức thế giới (hay thực tại), ta tiền giả định một sự hiểu trước nào đó về thế giới; sự hiểu trước ấy là được trung giới về mặt lịch sử . Chính trong “sự lý giải” có tính chất nhận thức về thế giới, sự hiểu trước này được thay đổi, chỉnh lý; những thấu hiểu, nhận thức khác và mới mẻ được đưa vào trong sự hiểu trước đã có ấy. Rồi với sự hiểu trước cũng như sự hiểu như vậy, ta nỗ lực tiếp cận thế giới một lần nữa, và cứ tiếp tục như thế. Do đó, việc hiểu của ta có tính chất tuần hoàn; nó vận động trong vòng tròn. Trong toàn bộ các quan niệm thông diễn học, mô hình này về việc hiểu đóng một vai trò quyết định (trong thông diễn học của Dilthey, Heidegger, Gadamer).Dịch từ: Alexander Ulfig, 1997, Lexikon: Der Philosophischen Begriffe, Fourier Verlag, tr 176.

Hermeneutischer Zirkel

eine zentrale Figur in der HERMENEUTIK, ein Grundmoment des VERSTEHENS. Versuchen wir die Welt (bzw. Wirklichkeit) zu erkenen, so setzen wir dabei ein geschichtlich vermitteltes Vorverständnis voraus. In der erkennenden “Auseinandersetzung” mit der Welt wird dieses Vorverständnis geändert, revidiert; neue bzw. andere Einsichten, Erkentnisse fließen in das bisherige Vorverständnis ein. Mit diesem Vorverständnis bzw. Verständnis versuchen wir nochmals an die Welt heranzugehen usw. So ist unser Verstehen zirkulär; es bewegt sich im Zirkel. In allen hermeneutischen Konzeptionen spielt diese Verstehensfigur eine entscheidende Rolle (bei Dilthey, Heidegger, Gadamer).

Dịch từ: Alexander Ulfig, 1997, Lexikon: Der Philosophischen Begriffe, Fourier Verlag, tr 176.

Read Full Post »

LỜI MỜI

[sư huynh của] Tui vừa xây dựng xong trang oép http://triethoc.edu.vn ; thân mời các bạn và các anh chị có quan tâm vào xem. Hy vọng nó sẽ bổ ích cho mọi người: không bổ dọc thì bổ ngang, không bổ trên thì bổ … chỗ cần bổ.

Kính chúc các anh chị thêm nhiều sức khỏe



Read Full Post »

THÔNG DIỄN HỌC LÀ GÌ?

Khi một người nào đó hỏi tôi thông diễn học (hermeneutics) có nghĩa gì, tôi thường chỉ trả lời rằng nó có nghĩa là sự lý giải (interpretation). Thỉnh thoảng tôi tiếp tục bằng cách thêm rằng thông diễn học liên quan đến những lý thuyết cho việc lý giải đúng các văn bản. Từ “hermeneutics” và từ “interpretation” cùng bắt nguồn từ từ ngữ Hi Lạp. Trong khi “hermeneutics” không là một từ thông dụng trong tiếng Anh, thì “interpretation” lại là một từ ngữ thông dụng. Ta biết rõ là có những người lý giải và những hoạt động lý giải trong một số lĩnh vực nghiên cứu. Ta lý giải tiểu thuyết, thơ, kịch và phim. Ta lý giải Kinh thánh, Torah, kinh Koran, Đạo đức kinh (Tao Te Ching), kinh Brahma. Ta có nên lý giải những văn bản này? Ta có thể làm mọi thứ khác thay vì lý giải chúng? Có người lý giải luật. Tòa án tối cao có nhiệm vụ lý giải Hiến pháp của Hợp chủng quốc. Một diễn viên lý giải vai diễn mà cô ta phải đóng. Nhạc trưởng lý giải một bản nhạc. Ta cũng biết rõ những lý thuyết khác nhau về hoạt động lý giải. Thi học của Aristotle cho ta biết cách lý giải bi kịch Hi Lạp; ông thậm chí còn phát biểu một số quy tắc. Phê bình văn học đã phát triển một số lý thuyết cho việc lý giải những văn bản văn học. Dường như ta biết nhiều về thông diễn học hơn là ta nghĩ.

Các nhà khoa học tự nhiên lý giải tự nhiên hay là giải thích nó? Có phải họ lý giải dữ kiện tập hợp từ những thí nghiệm? Bạn có lý giải hay chỉ hiểu những động cơ của người bạn thân? Bạn có lý giải một bức điêu khắc không, và, nếu vậy, bạn bắt đầu điều đó như thế nào? Có chăng chỉ có một lý giải đúng về bức điêu khắc đó hay có thể có nhiều lý giải đúng? Xét trường hợp Hamlet; có một hay nhiều lý giải đúng? Khi bạn thấy một dấu hiệu dừng xe, và bạn dừng, đó có phải là một lý giải? Nếu bạn tiếp tục lái mà không dừng thì sao? Đó có phải là một lý giải? Định lý Pythagoras có phải là một lý giải?

Ta muốn hiểu thông diễn học có nghĩa là gì trong triết học lục địa ngày nay. Triết học phân tích ngày nay cũng thảo luận về ngôn ngữ, ý nghĩa và việc hiểu các văn bản; tuy nhiên, phân tích đó ắt sẽ phụ thuộc vào một cuốn sách riêng. Ý nghĩa triết học của thông diễn học ngày nay chủ yếu được Hans-Georg Gadamer định rõ trong Chân lý và phương pháp, công trình có tên gốc là Những cơ sở của/về thông diễn học triết học. Nhà xuất bản nghĩ rằng từ “hermeneutics” là khó hiểu đối với một nhan đề như thế, nên đã chọn lựa một nhan đề khác. Với Gadamer, thông diễn học là một học thuyết triết học về nhận thức yêu sách rằng tất cả những trường hợp hiểu bao gồm một cách tất yếu cả sự lý giải lẫn sự vận dụng.

Hoàng Phong Tuấn trích dịch từ Understanding Hermenutics, Lawrence K. Schmidt, Acumen, 2006, tr 1.

Read Full Post »

Wilhelm Dilthey (1833- 1911)

Wilhelm Dilthey (1833- 1911) hiểu biết về thông diễn học từ những nghiên cứu kĩ lưỡng của ông về Schleiermacher. Tuy nhiên, dự án chính của ông là nhằm đề ra một phương pháp luận duy nhất cho các khoa học tinh thần vì ông tin rằng phương pháp khoa học tự nhiên không thích hợp với các khoa học tinh thần. Ông cho rằng hiểu là phương pháp dành cho các khoa học tinh thần trong khi đó giải thích nhân quả thuộc về các khoa học tự nhiên. Wilhelm Dilthey có vai trò quan trọng đối với việc bàn luận của ta vì sự phân tích của ông về việc hiểu sáp nhập những nhân tố khác nhau từ thông diễn học của Schleiermacher và lý thuyết của ông về việc hiểu ảnh hưởng đến sự phát triển sau này của thông diễn học ở Heidegger. Con người không giống như những đối tượng vật lý, nó có một đời sống tinh thần và một đời sống cảm xúc nội tâm. Tuy nhiên, ta không thể quan sát đời sống nội tâm của người khác một cách trực tiếp mà ta phải tìm được lối vào nó thông qua những biểu hiện thường nghiệm của nó. Việc hiểu xét về mặt phương pháp luận là quá trình qua đó ta tiếp xúc và hiểu được những biểu hiện của những đời sống của người khác, việc hiểu là có tính hiện thời và tính lịch sử. Vì ngôn ngữ là sự diễn tả trọn vẹn nhất về đời sống nội tâm của người khác, nên thông diễn học với tính cách như là sự hiểu có tính chất lý giải về những sự diễn tả ngôn ngữ là mô hình cho quá trình hiểu trên phương diện tổng quát trong các khoa học nhân văn. Ta sẽ khảo sát kĩ lưỡng nghiên cứu của Dilthey về việc ta làm thế nào để hiểu người khác.

Hoàng Phong Tuấn trích dịch từ Understanding Hermenutics, Lawrence K. Schmidt, Acumen, 2006, tr 7-8.

Read Full Post »

Friedrich Schleiermacher (1768 – 1834)

[…]

Ta nên bắt đầu bàn luận của ta về thông diễn học với Friedrich Schleiermacher (1768-1834), từ khi ông hiểu chính mình như là người đầu tiên hợp nhất những lý thuyết thông diễn học có những đặc trưng chuẩn tắc khác nhau thành một thông diễn học phổ quát. Đối với Schleiermacher, thông diễn học là nghệ thuật hiểu ngôn ngữ nói và viết. Sự thực hành nghiêm ngặt thông diễn học thừa nhận rằng việc hiểu sai là luôn xảy ra, do đó phải luôn cần đến sự lý giải. Vì bất kì sự biểu hiện nào về mặt ngôn ngữ liên quan đến tính tổng quát của ngôn ngữ và tư tưởng của tác giả, nên ông chia thông diễn học ra thành hai sự thực hành. Lý giải ngữ pháp liên quan đến việc hiểu ngôn ngữ mà tác giả sử dụng. Nó dùng những quy tắc ngữ pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ này. Nó liên quan đến nghĩa của từ ngữ như là ví dụ của ta từ Hamlet. Lý giải kĩ thuật hay lý giải tâm lí liên quan đến tư tưởng của tác giả, cách mà tác giả triển khai những tư tưởng của ông ta và hình thức trong đó những tư tưởng này biểu hiện. Lý giải tâm lí sẽ nhằm vào việc phân tích tại sao Shakespeare chọn từ “unfold” và ông ta có chủ ý gì để hoàn tất qua sự lựa chọn này. Lý giải ngữ pháp và lý giải tâm lý dựa vào nhau để hoàn thành nhiệm vụ của sự lý giải. Mục đích là để tái cấu tạo quá trình sáng tạo của tác giả, khám phá nghĩa mà tác giả chủ định và có lẽ để hiểu tác giả hơn ông ta hiểu chính mình.

[…]

Hoàng Phong Tuấn trích dịch từ Understanding Hermenutics, Lawrence K. Schmidt, Acumen, 2006, tr 6-7.

Read Full Post »

HANS-GEORG GADAMER

THÔNG DIỄN HỌC KỂ TỪ GADAMER *

[…]

Hans-Georg Gadamer (1900 – 2002) có trách nhiệm cho suy tưởng của ta về thông diễn học ngày nay trong triết học đương đại vì ba lý do. Thứ nhất, Heidegger đã bỏ rơi thuật ngữ này trong suy tư thời kỳ sau của ông. Thứ hai, Sartre, chủ soái của chủ nghĩa hiện sinh, phong  trào đã phát triển một phần từ quyển Tồn tại và thời gian của Heidegger, đã không sáp nhập vào thông diễn học. Thứ ba, Gadamer, một môn sinh của Heidegger, đã phát triển một cách đặc biệt sự phân tích của Heidegger về sự hiểu từ quyển Tồn tại và thời gian trong công trình chính của ông là Chân lý và phương pháp, và gọi lý thuyết của mình là thông diễn học triết học. Gadamer đã đặt tên một cách khiêu khích những tiền cấu trúc của việc hiểu, vốn đã được Heidegger nhận diện, là “những tiên kiến”. Tuy nhiên, trong cách sử dụng của ông, những tiên kiến không chỉ là sai lầm, cũng có những tiên kiến tích cực (positive prejudices) để ta điều chỉnh việc hiểu. Ta kế thừa những tiên kiến của ta từ truyền thống của ta. Nhiệm vụ có tính chất nhận thức luận là phải phát hiện những tiên kiến tích cực này. Hiểu tất yếu là việc hiểu thông diễn (hermeneutic understanding) vì ta không thể thoát ra khỏi vòng tuần hoàn thông diễn, như Heidegger đã biện luận. Việc hiểu xảy ra như là một sự hòa trộn của cái được gọi là chân trời quá khứ của văn bản với chân trời hiện tại của người hiểu. Vấn đề trung tâm của thông diễn học, nhiệm vụ tất yếu của sự vận dụng, liên quan đến việc làm thế nào văn bản được nói trong chân trời giờ đây đã được mở rộng ra của người lý giải. Hiểu giống như một cuộc hội thoại, ở đó người lý giải phải lắng nghe và tôn trọng những quan điểm của người khác. Trong cuộc hội thoại này, những lập trường khác nhau được khảo sát, sự hiểu đúng chỉ có được khi lập trường của một người được đồng thuận trong toàn bộ những lập trường khác. Giải thích điều này xảy ra như thế nào, Gadamer phải khảo cứu vị thế bản thể học của ngôn ngữ. Ông cho rằng “Tồn tại có thể được hiểu là ngôn ngữ” (Being that can be understood is language). Ngôn ngữ, trong tồn tại tư biện (speculative being) của nó, có năng lực soi sáng và thuyết phục những người tham gia hội thoại tính chân lý của nó. Gadamer kết luận rằng việc hiểu thông diễn có thể biểu lộ và vén mở cho những chân lý mà vốn dĩ phương pháp khoa học không thể làm được.

Chương cuối cùng sẽ xét đến bốn phản bác thông diễn học triết học của Gadamer. E.D.Hirsch Jr. xác nhận rằng giá trị hiệu lực trong sự lý giải có thể đạt được bằng cách tuân theo con đường của thông diễn học triết học truyền thống. Ông không đồng thuận với yêu sách của Gadamer rằng sự hiểu liên quan một cách tất yếu với những tiên kiến và ta không thể tránh khỏi vòng tuần hoàn thông diễn. Tiêu chuẩn cho nghĩa là chủ định của tác giả. Ý nghĩa của văn bản phải được phân biệt với nghĩa của nó, nhưng Gadamer đã gắn kết chúng lại với nhau, gây ra những vấn đề cho lý thuyết của ông. Jürgen Habermas tranh luận rằng Gadamer đánh giá chưa đúng mức tư duy lý tính. Lý tính có thể phát hiện sự khởi sinh của một tiên kiến được kế thừa và từ đó làm cho nó trở nên tronh suốt (transparent). Nếu lý tính không hợp thức, người lý giải có thể phê phán nó. Theo cách này, lý tính có thể phá vỡ vòng tuần hoàn thông diễn, và do đó, một sự phê phán  ý hệ là có thể có được. Bởi vì Gadamer không thừa nhận khả thể này của lý tính, nên thông diễn học triết học không có khả năng tránh khỏi những ý hệ mà nó kế thừa (inherited ideologies). Paul Ricouer đề nghị rằng Gadamer chỉ đúng một phần và phải sáp nhập sự giải thích có tính phương pháp luận vào thông diễn học của ông nếu ông buộc phải muốn tránh chủ nghĩa tương đối. Chỉ riêng biện chứng pháp của giải thích và hiểu mới có thể đáp ứng được những yêu cầu cho việc hiểu có giá trị hiệu lực. Jacques Derrida yêu sách rằng Gadamer vẫn còn bị vướng vào ngôn ngữ và học thuyết của siêu hình học, vì ông phát biểu rằng sự lý giải đúng về một văn bản được thể nghiệm trong tình huống thông diễn về chân lý (in the hermeneutic event of truth). Derrida cho rằng ngôn ngữ chỉ quy chiếu đến ngôn ngữ và không quy chiếu đến cái gì khác được biểu đạt một cách siêu nghiệm (not to something transcendentally signified). Ta kết luận rằng thông diễn học, theo một hình thức này hay hình thức khác, sẽ còn tiếp tục bao lâu con người còn dùng ngôn ngữ để giao tiếp với nhau. Vì thông diễn học triết học của Gadamer khớp nối thành một trong những lập trường cơ bản của thông diễn học nói chung, nên nó vẫn tiếp tục có một tiếng nói quan trọng trong cuộc hội thoại về thông diễn trong tương lai.

[…]

Hoàng Phong Tuấn trích dịch từ Understanding Hermenutics, Lawrence K. Schmidt, Acumen, 2006 tr 8-9.

*Tựa do người dịch đặt.

Read Full Post »