Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư, 2010

CHÂN TRỜI (HORIZON- ANH/ HORIZONT- ĐỨC)

Một thuật ngữ có được một ý nghĩa triết học đặc biệt trong những công trình của Dilthey, Husserl, Heidegger, và những triết gia hiện tượng học và thông diễn học khác. Một chân trời là một khuôn khổ hay một trường của nhãn quan trong đó ta hiểu. Mỗi người với tư cách một tồn tại lịch sử bị điều kiện hóa bởi một truyền thống và văn hóa và vì vậy, cư ngụ trong một chân trời nào đó. Một chân trời là một thế giới cuộc sống của con người. Một sự hiểu khách quan thuần túy, và vì thế, thoát ly khỏi chân trời cụ thể của một người là không thể có được. Nghĩa của văn bản được xác định trong một chân trời nào đó. Để đạt đến sự hiểu lịch sử, ta phải đạt được một chân trời lịch sử và lý giải dựa vào bản thân tồn tại lịch sử và chân trời truyền thống quá khứ, hơn là dựa vào tiêu chuẩn đương thời và những thành kiến của ta. Bản thân một chân trời luôn trong quá trình tạo thành. Hiện tượng những chân trời là nền tảng cho vòng tuần hoàn thông diễn. Điều này cũng gợi ra rằng vì lẽ mọi sự hiểu có thể đạt được dựa vào bối cảnh của một chân trời khả nghiệm, nên không có việc hiểu nào là hoàn tất hoặc thoát khỏi sai lầm. Đặc tính viễn tượng của khái niệm chân trời bị giam hãm bởi khái niệm điểm nhìn, vì chính khái niệm khiêm tốn hơn này, dù sao đi nữa, làm rơi mất một vài phương diện sâu sắc hơn của khái niệm chân trời.

Hoàng Phong Tuấn dịch từ:  Nicholas Bunnin and Jiyuan Yu (chủ biên), 2004, The Blackwell Dictionary of Western Philosophy, Blackwell, USA, mục “horizon”.

Advertisements

Read Full Post »

SEX

Sự thảo luận của Kant về giới tính, dục tính và hành vi tình dục trên một phạm vi rộng đáng ngạc nhiên, được phát hiện trong Siêu hình học về đức lý (SHHĐL) và Đạo đức học (ĐĐ). Ông xem sự khác biệt giới như sự khác biệt có riêng trong loài người, và làm cho khác biệt này là cơ sở cho nghiên cứu của ông về khát khao tình dục. Quan điểm chủ yếu của ông về sex là sự phân biệt dựa trên đạo đức giữa việc giao phối giới tính dựa theo ‘bản tính động vật’ và sự hợp nhất giới tính theo ‘nguyên tắc’ trong hôn nhân. Thực vậy, ông định nghĩa một cách rõ ràng hôn nhân như là ‘sự hợp nhất giới tính hợp nguyên tắc’ (SHHĐL) và xem thú vui tình dục lẫn nhau chỉ có thể có trên cơ sở hôn nhân, và hệ quả của nó là ‘sự sở hữu suốt đời những cơ quan tình dục của nhau’. Kant đã không khăng khăng cho rằng tình dục nên phụ thuộc vào mục đích sinh sản, nhưng đã xem sự khát khao nhục dục hay dục tính như là một “xu hướng”, một “giác quan thứ sáu” hoặc “thèm muốn một người khác” (ĐĐ, tr 163). Thèm muốn này là phi nhân vị, nó không là một xu hướng mà một người dành cho riêng người nào khác, mà là một xu hướng dành cho tình dục của người khác” (ĐĐ, tr 164) và được cho là để phơi bày nhân tính cho “sự nguy hiểm của việc bình đẳng với những con vật”. Vì lý do này, Kant giới hạn sự biểu hiện dục tính vào các giới hạn của khế ước hôn nhân, theo đó cả hai đối tác sử dụng những thuộc tính của nhau, khi thừa nhận lẫn nhau như những nhân thân hoặc mục đích tự thân.

Ngoài việc thừa nhận về một thân cách của đối tác tình dục là mục đích tự thân thông qua hôn nhân, Kant quan niệm dục tính dẫn đến một cách tất yếu cho việc khai khác những đối tác tình dục như là những sự vật, hoặc như là một phương tiện đạt mục đích. Nạn mãi dâm và lấy lẽ bao gồm những hợp đồng làm giảm đi nhân tính của đối tác và giản lược họ thành điều kiện của những phương tiện đạt đến những mục đích khác nữa. Kant mở rộng lập luận tương tự vào việc thủ dâm, một hành vi khi mà ‘con người đặt sang bên tính người của anh ta và làm giảm giá trị chính anh ta xuống mức độ của những con vật’ bằng cách dùng chính anh ta như những phương tiện đạt những mục đích ghê tởm cho riêng anh ta’ (SHHĐL, tr 425, tr 221). Trong trường hợp đồng tính, Kant hoàn toàn mâu thuẫn, xem nó như “đối lập với những mục đích của nhân tính’, những mục đích này, đặc biệt nói về dục tính, bây giờ được định nghĩa như ‘để bảo tồn giống loài mà không hạ thấp nhân cách’ (ĐĐ, tr 170). Tuy nhiên, giai đoạn đầu ĐĐ và trong SHHĐL, Kant mặc nhiên khước từ sự nối kết giữa dục tính và sự sinh sản, và cố gắng yêu cầu sự biểu hiện dục tính theo nghĩa sự tôn trọng lẫn nhau của những con người như mục đích tự thân, một cái gì không tương hợp với sự ham muốn đồng tính.

Những bàn luận về loạn luân, Kant xem xét những cơ sở đạo đức tuyệt đối cấm đoán quan hệ tình dục giữa cha mẹ và con cái, những cơ sở mà ông bàn luận dựa vào ‘sự tôn trọng’ giữa cha mẹ và con cái ‘sự tôn trọng không cần thiết phải xem xét về mặt pháp luật về sự bình đẳng’, và quan hệ bất bình đẳng của sự quy phục trong đó trẻ con tìm thấy bản thân chúng trong quan hệ với cha mẹ chúng. Tuy nhiên, Kant lại tỏ ra nước đôi về các quan hệ tình dục loạn luân giữa những anh chị em ruột, tức là ông xem nó không bị ‘cấm đoán có tính tuyệt đối bởi bản tính tự nhiên’ (ĐĐ, tr 168). Ông cho rằng giao hợp anh chị em bị ngăn ngừa bởi sự thân thuộc và sự khó tính của ham muốn tình dục.

Sự khó tính được viện ra về khát khao dục tính được xác định rõ một cách nghiêm ngặt trong những bàn luận của Kant về sự giao hợp với những động vật của những đối tác tình dục, tức là ông xem như nó ‘trái với những mục đích của tính người và chống lại bản năng tự nhiên của chúng ta’ (ĐĐ tr 170). Ông xem hành vi này như “sự ô nhục và đê hèn nhất mà con người có thể làm” (ĐĐ tr 170) và trong SHHĐL ‘sự trục xuất khỏi xã hội dân sự’ là sự trừng trị thích đáng đối với hành vi thú tính (SHHĐL tr 363, 169). Trong ĐĐ ông thêm sự dự báo hấp dẫn rằng thậm chí có nhiều sự đồi bại ‘khó nói’, ‘ghê tởm’, ‘buồn nôn’, chúng là những sự đồi bại của ‘sự kiện thường xảy ra’ nhưng ông không thể đề cập đến. Ông phản tư về song đề sinh ra cho thời Khai minh: những sự đồi bại này nên được nêu ra và do đó được nhận thức và tránh bởi con người, hay chúng nên được giữ trong bóng tối, sao cho con người ắt sẽ không học theo chúng và do đó sẽ không bị rơi vào sự cám dỗ? Kant chọn sự lựa chọn sau, nhưng không thể không mở rộng những giới hạn của sự bàn luận.

Sự bàn luận của Kant về tình dục, ở nhiều phương diện, là rất hiện đại. Giống Freud ở thế kỷ sau, ông cho rằng khát khao tình dục như một đặc trưng nước đôi của đời sống con người, một đặc điểm có thể khơi gợi những cái tốt nhất và những cái xấu nhất trong hành vi con người. Ông cũng, trong một cách đầy mâu thuẫn, phá vỡ liên kết giữa biểu hiện khát khao tình dục và biểu hiện của sự sinh sản, chọn lựa việc kiềm chế tính dục bằng nguyên tắc tôn trọng đối với người khác như là sự tôn trọng nhau được rút ra từ triết học luân lý của ông. Tuy nhiên, những giới hạn từ vị trí của ông trở nên rõ hơn trong sự bất lựckhi xem xét vượt qua thể chế của hôn nhân khác giới như một thể chế có khả năng ủng hộ nguyên tắc của sự tôn trọng đối với người khác. Điều này dẫn đến việc ông khăng khăng phục hồi mối liên kết giữa hôn nhân và sự sinh sản và sau đó giữa sự sinh sản và tính dục.

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: A Kant Dictionary (Blackwell Philosopher Dictionaries), Howard Caygill, 1995.

Read Full Post »