Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba, 2010

Mình vẫn cứ có mơ ước ngày nào đó phân tích lại toàn bộ tác phẩm kiệt tác này một cách cẩn thận và hiện đại. Nhưng hiện giờ chưa đủ “nội lực” đành tạm chấp nhận một bài viết nhỏ này.

BI KỊCH ĐỔ VỠ QUAN HỆ NGƯỜI –

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ BA NHÂN VẬT NỮ TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO

Hoàng Phong Tuấn

1. Hiếm truyện ngắn nào có một lịch sử diễn giải phong phú, đa dạng như truyện ngắn Chí Phèo. Hầu như mọi lí thuyết phê bình hiện đại được du nhập qua Việt Nam đều xem tác phẩm tự sự này là “hòn đá thử vàng”, từ phê bình Mácxít, phê bình cấu trúc, phê bình phân tâm, đến tự sự học … Nhưng dù có những cách tiếp cận khác nhau, điểm chung của hầu hết các bài phê bình này là đều lấy tuyến quan hệ nhân vật Chí Phèo – Bá Kiến; người nông dân bị tha hóa – bọn cường hào ác bá làm điểm tựa và hệ quy chiếu. Chiều sâu của cách lí giải dựa trên tuyến quan hệ này là một nhãn quan diễn giải văn học từ góc độ xã hội về đấu tranh giai cấp chịu ảnh hưởng từ những bài phê bình đầu tiên về Nam Cao trong thập niên 50-60 của thế kỉ trước. Cách tiếp cận dựa trên tuyến quan hệ này chú ý đến những sự kiện tạo thành những bước ngoặt cuộc đời Chí: khi bị đẩy đi tù, khi làm tay sai, khi thức tỉnh, và trong đoạn cuối tác phẩm khi Chí vung dao giết Bá Kiến và tự sát – những bước ngoặt của một người nông dân bị tha hóa, thức tỉnh và rơi vào bi kịch không được quyền làm người. Tuyến quan hệ dựa trên những sự kiện này có tính hợp lí riêng. Nhưng bên cạnh những sự kiện góp phần thúc đẩy cốt truyện đó, cũng có thể chỉ ra những bước ngoặt cuộc đời Chí theo một lộ trình khác, một lộ trình làm cho Chí khác với các nhân vật là tay sai cho Bá Kiến như Năm Thọ, Binh Chức. Đó là một lộ trình nội tâm trong nhận thức của Chí về con người. Chính trong lộ trình này, Nam Cao cho thấy một số phận riêng tạo thành bi kịch của Chí, khác với các nhân vật là tay sai của Bá Kiến.

Nói một cách suy lí: nếu xét nhân vật trong những quan hệ, yếu tố khu biệt về quan hệ tạo nên bi kịch cuộc đời Chí không phải là quan hệ Chí Phèo – Bá Kiến, dù đây là quan hệ xuyên suốt, mà là quan hệ giữa Chí và ba nhân vật nữ: bà Ba, thị Nở, bà cô thị Nở. Hay nói một cách khác nữa, chính quan hệ với ba nhân vật nữ này mà Chí là Chí Phèo chứ không phải là Binh Chức, Năm Thọ, những kẻ tay sai thuần túy của Bá Kiến. Thế nên, đặt Chí trong quan hệ với ba người phụ nữ này là để đi tìm cái làm cho Chí là Chí Phèo, cái gây ra bi kịch cuộc đời riêng của Chí Phèo, khác với các thân phận người trong thế giới làng Vũ Đại.

2. Có thể nói, cuộc đời Chí đã không khốn khổ đến vậy, hay là đã khổ theo cách khác, cách như Binh Chức, Năm Thọ – những kẻ tay sai, nếu không có bà Ba, thị Nở và bà cô thị Nở. Trực tiếp hay gián tiếp, vô tình hay cố ý, ba nhân vật này đều có sức tác động lớn góp phần vào bi kịch cuộc đời Chí. Một người là nỗi ám ảnh giá trị làm người, một người là sự đối lập giữa cứu chuộc và ruồng bỏ, và một người là nỗi cay nghiệt của cộng đồng người, mỗi người là một kiểu khác nhau kết nối Chí với con người ở những giai đoạn trọng yếu trong cuộc đời. Từ những quan hệ này, tác phẩm gợi mở ra những phương diện khác trong tấn bi kịch Chí Phèo.

2.1. Bà Ba là nhân vật có thể xem là cùng tuyến với Bá Kiến nhưng lại khác về quan hệ người đối với Chí. Nếu như Bá Kiến sử dụng Chí như một công cụ quyền lực, khai thác cái tính cách lưu manh trong Chí thì bà Ba sử dụng Chí như một công cụ nhục thể. Nếu như trong quan hệ với Bá Kiến, Chí còn là một con người ở khía cạnh tính cách lưu manh, thì trong quan hệ với bà Ba, Chí chỉ còn là một đồ vật không hơn không kém. Đây là một điều tủi nhục và ám ảnh ghê gớm đối với Chí, là một nhát kéo cắt phăng những quan hệ mỏng manh của Chí đối với con người. Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao kể lặp lại ba lần quan hệ với tính cách đồ vật của Chí với bà Ba. Điều đáng chú ý là chỉ trong cùng một sự việc nhưng mỗi lần kể đều khác nhau, chúng được tái hiện lại đồng tâm nhưng đa quy chiếu về giá trị.

Lần thứ nhất là trong quan sát và thái độ đánh giá của dân làng. Quy chiếu giá trị ở đây là quyền lợi vật chất. Chí Phèo đã bị sử dụng như một công cụ, nhưng lại là kẻ hưởng lợi “quyền thu quyền bổ trong nhà”. Quan hệ ở đây là quan hệ tiền trao cháo múc, có đi có lại.

Lần thứ hai là trong hồi tưởng và thái độ đánh giá của Bá Kiến. Khoảng cách với sự việc đã gần hơn, nên tính chân thực cũng cao hơn. Quy chiếu giá trị ở đây là quyền lợi thể xác, trong đó bà Ba là kẻ hưởng lợi. Quan hệ ở đây là quan hệ một chiều, Chí là kẻ bị lợi dụng.

Lần thứ ba là trong nỗi ám ảnh của Chí. Khoảng cách với sự việc là trực tiếp, được người trong cuộc kể lại. Quy chiếu giá trị ở đây là giá trị làm người trong thế đối lập sâu sắc với cái hữu dụng của một đồ vật. Bà Ba xem xét, khai thác và cuối cùng là trách móc cái tính chất hữu dụng/ vô dụng của cái công cụ Chí Phèo; Chí đau đớn và nhục nhã cho cái thân phận làm người của mình. Đây chính là nỗi ám ảnh day dứt trong cuộc đời Chí về quan hệ với con người. Chí thấy mình chỉ là một công cụ, trong khi anh thực sự là người. Mối quan hệ người – người trong Chí đã bị đổ vỡ, vì trong đó, anh thấy mình chỉ bị đối xử như một công cụ. Có thể nói rằng bi kịch trong quan hệ người của Chí bắt đầu từ đây, và nó chỉ được nguôi ngoai khi gặp thị Nở, để rồi lại trở về đau đớn hơn.

2.2. Nếu như nhân vật bà Ba hiện lên như là con người lợi dụng Chí để thỏa mãn cái bản năng phi nhân tính của mình thì thị Nở lại đến với Chí bằng cái bản năng mang tính người.

“Cả một khối tự nhiên thô mộc” (Văn Gía) này lại là con người dường như nằm trên ranh giới giữa cái bản năng và cái xã hội, ở nơi mà cái xã hội trong quan hệ với cái bản năng mang tính người, nên là cái xã hội có tình người. Thế nên bát cháo hành khởi đi từ quan hệ bản năng tự nhiên giữa người đàn ông và người đàn bà đi đến một hành động chăm sóc thương yêu của tình người và hé lộ một tình “vợ chồng” đầy thơ mộng. Đây là một chuyển biến mới trong quan hệ giữa Chí với con người, ở nơi mà giữa con người và con người còn là một quan hệ của tự nhiên mang tính người, một quan hệ vượt lên trên quan hệ công cụ thuần túy. Chí hạnh phúc vì nhận được cái quan hệ người mới mẻ này, cái quan hệ nối kết Chí với quá khứ thuần hậu của chính anh, với mơ ước một tương lai nối kết trở lại quan hệ người với xã hội loài người.

Nếu như thị Nở là “một khối không đồng nhất giữa các mặt của một tính cách” (Văn Gía) thì sự không đồng nhất ấy khởi nguồn từ đặc điểm cái bản năng mang tính người hay tính người mang chất bản năng này của thị Nở. Nó vừa là cái tính người hồn nhiên, bột phát, vừa là cái tính người mỏng manh, dễ vỡ, dễ đổi thay. Không phải ngẫu nhiên mà sau khi thị Nở gạt bàn tay cầu cứu tuyệt vọng của Chí ra, lại “giúi thêm cho một cái”, trong Chí thoáng hiện lên hơi cháo hành. Đây là sự đối lập sâu sắc và đau đớn giữa cứu chuộc và ruồng bỏ. Cũng bàn tay bưng bát cháo hành cứu chuộc cuộc đời Chí giờ là bàn tay ruồng bỏ Chí, gạt đi niềm hi vọng của một con người. Sự đối lập thể hiện cái thế chênh vênh, mỏng manh, dễ vỡ trong quan hệ giữa người với người. Thấm thía điều này làm Chí vô cùng đau khổ, đưa nỗi bi kịnh trong anh đến tận cùng.

Như vậy, trong một quan hệ người mới, Chí vừa tìm thấy niềm hạnh phúc, vừa nếm trải nỗi đau đớn. Nó cho thấy con đường tìm kiếm quan hệ người đích thực trong cái xã hội này mới mong manh làm sao. Đó là sự đổ vỡ thứ hai mà Chí phải đối diện.

2.3. Trong ba người phụ nữ liên hệ với cuộc đời Chí, bà cô thị Nở là nhân vật xuất hiện ít nhất, nhưng không hề kém phần quan trọng. Nếu cho rằng ba người phụ nữ liên quan đến Chí thể hiện ba kiểu quan hệ người; thì với bà Ba, Chí là một công cụ, với thị Nở, Chí là một con người, với bà cô thị Nở, Chí là một người không thể là người.

Phát ngôn của bà cô thị Nở vừa là phát ngôn của nỗi uất ức mang tính bản năng của con người không có được những trải nghiệm đích thực của người phụ nữ như thị Nở đã từng, vừa là phát ngôn của làng Vũ Đại, của những chuẩn mực xã hội đương thời đánh giá về Chí. Có thể đây là lần đầu tiên Chí nhận thức được mình trong con mắt cộng đồng. Đáng chú ý là nếu nhìn nhận tình tiết văn học này từ góc độ văn hóa, thì lời nhận xét của bà cô thị Nở không có gì là bất ngờ, xét trong cái nhìn của cộng đồng đánh giá một nhân cách con người, trong bối cảnh một nền văn hóa “nhân cách luận” của Việt Nam (Phan Ngọc). Bà cô thị Nở chính là khía cạnh con người cộng đồng, con người xã hội trong quan hệ với Chí nên bà nhìn Chí bằng con mắt của xã hội. Quan hệ giữa Chí với bà cô thị Nở là quan hệ của một cá nhân nhiều tội lỗi trong con mắt của cộng đồng. Một quan hệ mang tính phổ biến của mọi thời, ở đó con người cá nhân chỉ là người khi nó vừa vặn với tiêu chuẩn xã hội đánh giá về nó. Và chính ở đó, cái cá nhân Chí Phèo đã không tìm được mối liên hệ nào, dù là trong chốc lát, với cái xã hội nơi anh sống.

Bình luận tình tiết này, nhiều ý kiến nghiêng về phía Nam Cao phê phán định kiến xã hội đương thời. Có thể thấy, đó không chỉ là định kiến mang tính lịch sử trong khuôn khổ xã hội nào đó, đó là cái định kiến mang quan hệ bản chất giữa cái cá nhân và hệ chuẩn đạo đức xã hội của mọi thời.

3.1. Nếu nhìn các nhân vật của tác phẩm Chí Phèo trong các mối quan hệ, ta có một tổng thể quan hệ phức hợp, đa bình diện, đa chiều kích. Có thể tạm thời nhìn nhận ở hai mặt cắt.

Mặt cắt thứ nhất là quan hệ giữa Chí và Bá Kiến, vốn đã được nhiều tài liệu phân tích. Đằng sau Bá Kiến là Lí Cường (tương lai của Bá Kiến), cùng những kẻ bóc lột khác…, gọi chung là bọn cường hào ác bá trong làng. Đằng sau Chí là Binh Chức, Năm Thọ, Chí Phèo con (trong tương lai), gọi chung là những kẻ bị áp bức. Đây là mặt cắt mang chiều kích lịch sử xã hội, của một xã hội thực dân nửa thuộc địa, ở đó thân phận con người bị áp bức.

Mặt cắt thứ hai là quan hệ giữa Chí và ba người phụ nữ: bà Ba, thị Nở và bà cô thị Nở. Đây là mặt cắt tượng trưng cho những quan hệ tạo thành bản chất con người. Nếu sắp ba người phụ nữ này trên một trục ngang của quan hệ người thì ta thấy bà Ba ở đầu kia của trục, ở đó con người là thuần túy bản năng phi nhân; thị Nở ở giữa trục, nơi mà con người là cái bản năng mang tính người; và bà cô thị Nở ở đầu bên này của trục, nơi mà con người chủ yếu là con người xã hội. Chính ở mặt cắt quan hệ này, ta mới thấy được số phận riêng tạo nên bi kịch của Chí.

Tất nhiên là giữa hai mặt cắt này có những điểm giao nhau, chẳng hạn như nhân vật bà Ba. Nhìn ở góc độ nào đó thì bà Ba về phía bọn cường hào ác bá, nhưng đó là khi ta xem nhân vật này cùng giai cấp với Bá Kiến. Thực sự nhân vật này thể hiện quan hệ giữa con người và con người ở chiều kích bản năng hơn là chiều kích xã hội, chiều kích giai cấp.

Nếu như mặt cắt quan hệ Bá Kiến và Chí Phèo mang chiều kích xã hội lịch sử thì mặt cắt quan hệ giữa Chí Phèo và ba người phụ nữ mang chiều kích tạo thành bản chất người. Ở đó, con người đối diện với cái bản năng phi nhân tính, bản năng nhân tính và khía cạnh xã hội cộng đồng. Ở mặt cắt thứ nhất, cấp độ ý nghĩa tác phẩm nghiêng về phía thời đại nó ra đời, ở mặt cắt thứ hai, cấp độ ý nghĩa tác phẩm mang tầm vóc triết lí nhân sinh sâu sắc.

3.2. Chính trong góc nhìn ấy mà Chí hiện lên như hình tượng một con người cô độc, cô độc từ khi mới sinh ra, cô độc trong suốt cuộc đời – trừ thời gian hạnh phúc ngắn ngủi với thị Nở để rồi càng nhận ra mình cô độc – và cô độc cả sau khi chết.

Chí sinh ra đã là một sinh thể cô độc. Sinh thể này qua những bàn tay trao đổi của con người vẫn không có được một liên kết nào thực sự là liên kết người. Cái cách kể giản lược đến lạnh lùng về một quan-hệ-trao-đổi-được-vật-hóa thay cho các-quan-hệ-người càng cho thấy cuộc đời trai trẻ của Chí chỉ thực sự là người trong những ước mơ. Trong đó và chỉ trong đó, anh mới thấy mình được là người, có gia đình, có vợ, với những quan hệ người đích thực.

Chí lưu manh hóa và trở thành con quỷ dữ cô độc của làng Vũ Đại trong suốt phần đời còn lại của mình. Anh cô độc ngay cả trong không gian sống: bãi dâu ven sông. Thực sự thì không gian này trước kia vẫn có người qua lại, nhưng từ khi Chí đến đây, không còn ai đi kín nước lối này, trừ thị Nở, một con người cũng bị hắt hủi như Chí. Có thể nói, Chí sống trong làng Vũ Đại như một con người lạc loài, xa lạ. Hình ảnh Chí chửi trong cơn say là nỗi khao khát đối thoại với con người của một con quỷ cô độc. Cái cách Chí tìm đến với rượu vừa là trong cơn say gây ra tội ác, vừa là để trốn vào cái thế giới cô độc của riêng mình. Thực sự thì Chí cũng tìm được bạn đối ẩm trong thế giới ấy, đó là tự Lãng. Nhưng tự Lãng, khác với Chí, đã bằng lòng với kiếp sống hư vô chủ nghĩa của mình (Chu Văn Sơn). Còn Chí, con quỷ cô độc luôn khát thèm quan hệ người vẫn không nguôi ngoai nỗi làm người. Thì chính Chí đã nói: “hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc”, “…và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Điều Chí mong muốn và khát thèm không phải là cuộc sống vật chất đơn thuần mà là cuộc sống với những quan hệ người đích thực. Thế cho nên tận cùng bi kịch của Chí là lúc thị Nở bỏ ra đi, mang theo những mối liên hệ mỏng manh cuối cùng với con người. Ám ảnh nhất trong đoạn cuối tác phẩm là hình ảnh Chí đuổi theo, “nắm lấy tay” thị Nở. Đó là lần duy nhất trong đời Chí van xin mối quan hệ làm người. Đó là khoảnh khắc thảng thốt, hụt hẫng, chới với của một sinh linh thấy mình bị ruồng bỏ.

Hành động cầm dao trả thù cũng thể hiện nỗi hoang mang của Chí, của con người cô độc tìm giết kẻ đã làm đổ vỡ những quan hệ người của mình. Thế nên lưỡi dao ấy hướng đến thị Nở và bà cô, dừng lại ở Bá Kiến mà vẫn không sao tìm được lối thoát, nên nó kết thúc ở chính mình. Đó là vì sự đổ vỡ các quan hệ người đã không còn cho Chí khả năng tìm thấy một điểm tựa nào nữa, thậm chí là điểm tựa từ bản năng sống trong chính mình.

Chí cô độc cả sau khi chết, và có lẽ cả trong kiếp sống sau của giọt máu mình. Cái chết của Chí là một cái chết đặc biệt, chết vì và trong sự hắt hủi xa lánh của con người. Dân làng thờ ơ, lạnh nhạt với Chí đã đành, ngay cả thị Nở, người đã từng có tình người với Chí, cũng trở nên lạnh lùng, bàng quan đến nhẫn tâm. Hình ảnh “cái lò gạch” lửng lơ cuối truyện trong suy nghĩ của thị Nở là một nhát dao cuối cùng cắt đứt mối liên hệ tinh thần, tình nghĩa, máu mủ, ruột thịt… giữa thị với Chí, với hóa thân của Chí ở kiếp sau. Hình ảnh “một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua”, do đó, còn là biểu tượng thấm thía về một con người sinh ra trong một thế giới người nhưng hoang vắng mối quan hệ người. Trong văn học Việt Nam , trước và sau đó, có lẽ chưa từng có thân phận nào cô độc đến vậy.

Từ góc độ này, bi kịch của Chí Phèo còn là bi kịch của một con người cô độc, một bi kịch của sự đổ vỡ quan hệ giữa người và người. Vì trong khía cạnh con người tha hóa, Chí còn mang nỗi đau của con người không được quyền làm người, nỗi đau của một người không được một căn cước làm người của cộng đồng.

3.3. Có thể thấy, thấp thoáng trong những tác phẩm xuất sắc của Nam Cao là hình tượng con người cô độc đi tìm lẽ sống, lí tưởng và những mối quan hệ làm người. Lão Hạc đã phải bán nốt con chó Vàng và tìm đến cái chết, nhưng chỉ sau cái chết mới có người hiểu lão. Những nhân vật trí thức như Thứ, Hộ vẫn cứ lầm lũi một mình trên con đường tìm một lẽ sống đích thực, mà cuối cùng con đường ấy vẫn hun hút phía trước. Nổi bật hơn cả vẫn là hình tượng Chí Phèo, con người cô độc khát thèm mối quan hệ người.

Có lẽ trong dòng chảy tinh thần của thời đại đi tìm câu trả lời cho cá nhân con người, Nam Cao khởi đi từ đời sống thực tiễn của số phận con người nhưng trên những chặng đường suy tưởng của ông vẫn thấp thoáng câu hỏi triết lí về cái cá nhân con người. Cái cá nhân ấy băn khoăn về chính mình, không phải như một cái tôi thuần túy lãng mạn, mà như một cái tôi đi tìm lẽ sống làm người trong đời sống thực của con người.

4. Con người sẽ chơi vơi khi không còn quan hệ nào cho nó bấu víu để làm người, nếu chỉ là cái cơ thể sống thuần túy, nó sẽ chết, trong nỗi băn khoăn tìm kiếm ý nghĩa đích thực của con người. Do đó, khi con người nhận ra mình bị ruồng bỏ và hắt hủi, bị cắt lìa khỏi các quan hệ người, hoàn toàn cô độc không chỗ tựa nương, đó là lúc nó đối diện với cái bi kịch lớn nhất của kiếp người, bi kịch mang tầm vóc triết lí nhân sinh sâu sắc: bi kịch đổ vỡ quan hệ người. Phải chăng đó cũng là điều mà Nam Cao muốn nói trên con đường cắt nghĩa bản chất và ý nghĩa cuộc sống của con người?

03/10/2008

Read Full Post »

LỜI GIỚI THIỆU CHO MỤC “TRẦN ĐỨC THẢO VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC”

Một lời giới thiệu dành cho các bài viết phê bình văn học của Trần Đức Thảo luôn vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa, vì trong điều kiện hiện nay ta khó có thể có một tri thức và sự đánh giá đúng tầm với các bài viết của ông; cũng chính do đó, bao giờ cũng là không đủ để hiểu ông.

Con đường đến với phê bình văn chương của giáo sư Trần cũng bất ngờ như  con đường mà ông chọn lựa lúc sinh thời: từ triết học đến Cách mạng.

Quan niệm văn chương của ông (hi vọng sẽ nói rõ hơn vào một dịp nào đó), vì vậy, dựa trên hai mặt: triết học và cách mạng, gắn bó tự bên trong như hai mặt của một tờ giấy. Mặt triết học chịu ảnh hưởng của hiện tượng học được tìm thấy trong quyển “Triết lý đã đi đến đâu”, và ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx rải rác trong “Chủ nghĩa Marx và hiện tượng học”, “Lịch sử tư tưởng trước Marx”… Mặt cách mạng thể hiện rất rõ trong những bài phê bình, khi ông luôn nhắc đến một “lập trường cách mạng triệt để”.

Chính do đó, cũng thật khó khăn khi tìm hiểu cách đọc văn của ông. Chỉ có thể lưu ý vài nét.

– Ông nhận thức rất rõ “khoảng cách thời gian” giữa người đọc (là ông, trong trường hợp này) và văn bản trong bối cảnh lịch sử. Lập trường của tác giả và lập trường của người đọc là khác nhau. Ông cũng nói rõ, văn bản văn học chỉ có thể được hiểu rõ trong sự tiến triển của thời gian, tức là trong sự tiến triển và thay đổi lập trường của người đọc.

– Qua đó, ông ý thức rất rõ sự chọn lựa điểm nhìn, xác định một lập trường để đi vào văn bản: lập trường ông chọn là lập trường cách mạng, quan điểm chủ nghĩa Marx. Điều này cũng không phủ nhận là không còn những lập trường khác nữa.

– Ông phân biệt rõ “mỹ cảm” và “tư tưởng chủ quan” của tác giả. Nếu như tư tưởng chủ quan của tác giả giới hạn trong nhận thức lịch sử hạn hẹp của tác giả, thì “mỹ cảm” phơi bày chân lý và chính là giá trị của tác phẩm.

– Điều đáng lưu ý là, với ông, “mỹ cảm” có tính chất khách quan, chân lý, thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ, làm cho người đọc có thể thông cảm được với nhà văn.

Ngày nay, chúng ta có thể không còn đứng trên lập trường của ông nữa (đó cũng là lẽ tất nhiên, theo quan điểm của ông), nhưng phương pháp lý giải ý nghĩa của ông còn có nhiều điều làm chúng ta phải suy nghĩ.

Tôi sẽ lần lượt đăng những bài viết và trích đoạn có liên quan đến “Trần Đức Thảo và phê bình văn học”. Những bài này chủ yếu lấy trên mạng, một vài trích đoạn có từ tài liệu của tôi.

H.P.T

Read Full Post »