Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai 10th, 2010

VẤN ĐỀ SỰ “DỰ BỊ ĐÍCH THỰC” CHO THƯỞNG THỨC NGHỆ THUẬT

TRONG MỸ HỌC KANT

Hoàng Phong Tuấn

Các nhà bình luận khi bàn về lý luận văn học và mỹ học về tiếp nhận nghệ thuật của Hans Robert Jauss cho rằng Jauss chịu ảnh hưởng Kant trong cách Jauss đặt vấn đề về mối quan hệ giữa “chân trời kinh nghiệm thẩm mỹ” và “chân trời thế giới đời sống”, hay là vấn đề mối quan hệ giữa thưởng thức nghệ thuật với hành vi đạo đức trong đời sống của con người.

Bài viết này là kết quả tìm hiểu cách đặt vấn đề của Kant về mối liên hệ giữa lý tính thực hành và phán đoán thẩm mỹ, hay là mối liên hệ giữa tình cảm ngưỡng mộ cái Thiện trong hành vi đạo đức với hành vi thưởng thức cái Đẹp, theo từ ngữ Kant gọi là “sự dự bị đích thực” cho sở thích. Đây là cách đặt vấn đề có ảnh hưởng lớn đến mỹ học Hegel, Adorno, Jauss….

1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

–         Đọc quyển “Phê phán năng lực phán đoán”, mục 22, phần “Phân tích pháp về cái đẹp”, khi trình bày về “cảm quan chung”, thấy Kant có một câu hỏi: “Nhưng liệu một cảm quan chung như thế có thực sự tồn tại như một nguyên tắc cấu tạo cho khả thể của kinh nghiệm, hay nó chỉ hình thành cho ta như một nguyên tắc điều hành bởi một nguyên tắc cao hơn của lí tính nhằm tạo ra một cảm quan chung hướng về một quy tắc còn cao hơn nữa? Nói khác đi, phải chăng sở thích là một quan năng tự nhiên và căn nguyên hay chỉ là ý niệm về một quan năng nhân tạo, còn phải được ta sở đắc, khiến cho phán đoán sở thích, với yêu cầu của nó về một sự tán đồng phổ biến, thật ra chỉ là một đòi hỏi của lý tính để tạo ra một sự nhất trí như thế?…v..v…” (B 68). Trong một hệ thống câu hỏi liên quan đến hình thức tồn tại của “cảm quan chung”, có một ý quan trọng, đó là, “sở thích”, là “một quan năng tự nhiên và căn nguyên” hay là “một quan năng nhân tạo, còn phải được ta sở đắc”. Tức nó là cái gì tiên nghiệm hay được ta rèn luyện mà có được?

–         Đoạn sau, thấy ông nói rằng “đó là các vấn đề mà hiện nay ta chưa muốn và cũng chưa thể đi sâu nghiên cứu”. Nhưng, trong những phần sau, ta thấy ông luôn nỗ lực tìm kiếm câu trả lời, hay tìm kiếm giải pháp cho câu trả lời.

–         Một trong những ý hướng đến việc trả lời/ tìm kiếm câu trả lời vấn đề ta có thể “sở đắc” được sở thích hay không, và bằng cách nào? xuất hiện trong phần “Phương pháp học về sở thích”.

2. VỊ TRÍ:

Vì sao có phần phụ lục “Phương pháp học về sở thích” (sau đây viết tắt “Phương pháp học”) này? Ta thấy có mấy nguyên nhân sau:

  • Trong phần “Biện chứng pháp”, Kant nêu ra nghịch lý của phán đoán sở thích, và giải quyết nghịch lý ấy bằng “khái niệm không xác định”. Ở đây, Kant không dừng lại và tiếp tục đặt câu hỏi triết học: cái gì làm cơ sở cho “khái niệm không xác định” này? Liệu có lẽ, có thể là “cơ chất siêu cảm tính của nhân loại”? Nhưng “cơ chất siêu cảm tính” là gì? Có căn cứ gì giúp ta suy tưởng về nó không? Có biểu hiện gì của nó theo hình thức nào đó khác không?… Chúng ta thấy khi đề ra khái niệm này, Kant rất băn khoăn. Ông dùng nhiều giả định “còn nếu cho rằng”, “mặc dù có thể chưa sáng tỏ”, “ý tưởng” … (B 245). Ông tìm ra một hệ quả khả niệm của nó: “Cái đẹp là biểu trưng của cái Thiện luân lý”. Vì sao? Ông trả lời bằng hai ý: a) “cái đẹp mang lại cho ta sự hài lòng mà ta có quyền đòi hỏi sự tán đồng nơi người khác”, b) “qua đó tâm thức ta đồng thời có ý thức về một sự cao thượng hóa và tự nâng mình lên khỏi việc tiếp nhận đơn thuần một niềm vui sướng từ những ấn tượng của giác quan và đồng thời biết tôn trọng giá trị của những người khác dựa theo một châm ngôn tương tự nơi năng lực phán đoán của họ” (B 258). Nó đặt trên nền tảng là “cái siêu cảm tính”, “trong đó quan năng lý thuyết lẫn quan năng thực hành được gắn kết chung lại thành một nhất thể theo một thể cách mà ta không thể biết được” (B 259). Kant có vẻ như không bằng lòng với khái niệm “cái siêu cảm tính”, dường như ông tiếp tục đặt câu hỏi sâu hơn, cái gì đằng sau, tạo cơ sở cho cái “siêu cảm tính”?
  • Mặt khác, ta thấy Kant tiếp tục suy tư về việc có quy chuẩn gì cho ta thực hiện phán đoán sở thích không? Có sự luyện tập gì làm ta nâng cao năng lực phán đoán thẩm mỹ không? Hay là, sâu hơn, có cái gì đằng sau sở thích làm cái quy tắc chung cho mọi người sử dụng, và qua đó, ta có thể “sở đắc” được nó không?
  • Cuối cùng, ta thấy, Kant đã nối kết cái đẹp là biểu trưng cho cái thiện luân lý; nhưng có mối liên hệ ngược lại không? Tức là có chăng vai trò của cái Thiện luân lý đối với việc thưởng thức cái Đẹp?

3. NỘI DUNG PHỤ LỤC:

–         Kant nói rõ trong phần mở đầu mục “Phương pháp học” rằng một sự phân chia đi trước của sự Phê phán thành 2 phần là “học thuyết về các yếu tố cơ bản” và “học thuyết về phương pháp” là không áp dụng vào cho sở thích được. Lý do là không thể có khoa học về cái đẹp. Do đó, cũng không thể đề ra những nguyên tắc cho việc sử dụng, cũng như việc giảng dạy, truyền dạy “sở thích”.

–         Nhưng Kant tiếp tục đặt câu hỏi: thế thì có gì cho ta truyền dạy về nó không? Ông nói, chỉ có thể truyền dạy bằng cách “cung cấp một khuôn khổ để khiêu gợi lại những yếu tố chính yếu của nó nơi tâm hồn người môn đệ”.

–         Ông tiếp tục mạch suy tưởng, thế thì có gì làm “dự bị” cho nó không? Ông trả lời đó là “sự vun bồi những năng lực tâm hồn”.

–         Ta thấy ông tiếp tục nỗ lực suy tư câu hỏi đưa ra khi trình bày về “cảm quan chung” về việc ta có thể “sở đắc” được sở thích hay không, và bằng cách nào. Đó cũng là hình thức suy tư khác về “cái cơ chất siêu cảm tính”. Sự suy tư này đến đây vẫn còn chưa được rõ ràng, vì thực sự “sự vun bồi những năng lực tâm hồn” vẫn chưa đem lại một hình thức cho sự “sở đắc” sở thích.

–         Nỗ lực suy tư ngỡ như dừng lại. Bất ngờ, ở cuối đoạn, ông đưa ra một kết luận về “sự dự bị đích thực để tạo nên những nền tảng của sở thích”.

4. PHÂN TÍCH:

–         Ý chính của đoạn này là Kant định hình “sự dự bị đích thực để tạo nên nền tảng của sở thích”.

–         Cấu trúc đoạn là một câu, gồm 3 phần. Riêng phần 1 là quan trọng nhất, cũng là đối tượng phân tích của bài này, chia làm hai vế:

–         A) “Vì, sở thích, về căn bản, là quan năng phê phán về việc cảm tính hóa những ý niệm luân lý (nhờ vào một sự tương tự nào đó của sự phản tư về cả hai)”,

  • “sự tương tự nào đó” ở đây là giữa sự hài lòng đối với cái đẹp và hài lòng đối với cái Thiện “gắn  liền với nền tảng của Tự do” mà Kant đã nói ở trên.
  • Chính nhờ “một sự tương tự nào đó” này mà phán đoán về cái đẹp trình bày gián tiếp những ý niệm  luân lý.

–         B) “…nên:

  • “chính việc làm này”, [tức là chính việc cảm tính hóa những ý niệm luân lý],
  • “cũng như chính việc tiếp nhận ngày càng lớn hơn – có cơ sở từ việc làm ấy – đối với tình cảm do ý niệm này gây nên (vì thế gọi là tình cảm luân lý)”, [tức là việc ngưỡng mộ cái Thiện nảy sinh trong việc lý tính thực hành ban bố quy luật cho chính nó trong việc thực hiện hành động luân lý],
  • …“mới là nguồn gốc của sự vui sướng được sở thích tuyên bố là có giá trị cho loài người nói chung chứ không phải chỉ có giá trị cho tình cảm riêng tư của mỗi cá nhân”.

–         Ta thấy ở đây có một sự liên kết tinh tế giữa tình cảm ngưỡng mộ cái Thiện xuất phát từ những hành động luân lý và sự dự bị cho sở thích đích thực. Nghĩa là đối với Kant, sống hướng về cái Thiện, vun bồi tâm hồn bằng những hành vi luân lý là nền tảng đích thực cho con người tiếp cận cái Đẹp.

–         Vì sao lại như vậy? Ta thấy trong quyển phê phán thứ 2, Kant đã cho thấy lý tính thực hành phải độc lập khỏi ham muốn riêng của cá nhân, ban bố quy luật phổ quát mang tính hình thức cho tất cả mọi người. Nghĩa là nó phải tự do khỏi những nhu cầu trực tiếp của cá nhân để vươn tới cái phổ quát cho mọi người, phải chăng chính do đó mà nó là nền tảng cho “cảm quan chung” yêu cầu sự đồng thuận nơi mọi người?

5. KẾT LUẬN:

–         Phải chăng, ở đây, một mặt, Kant khẳng định sự tự trị của phán đoán thẩm mỹ, một mặt, vẫn thừa nhận có mối liên kết sâu xa giữa phán đoán sở thích với đời sống cá nhân của riêng mỗi người?

–         Phải chăng, để có thể sở đắc được “sở thích đích thực”, con người phải sống cuộc sống Thiện, và phải biết sống vươn lên khỏi cái nhu cầu bản năng trực tiếp, vươn lên khỏi đòi hỏi của cái cá nhân, chia sẻ, đồng thuận, hướng tới người khác, trên một nền tảng là sự Tự do?

–         Cái Thiện và cái Đẹp có mối liên hệ nhất định; đời sống của mỗi con người cũng góp phần vào việc vun bồi “sở thích đích thực” của người đó, và ngược lại, thưởng thức cái đẹp cũng đưa con người đến gần hơn với cái Thiện.

Read Full Post »