Feeds:
Bài viết
Phản hồi

 

Một trong những nhiệm vụ của nghiên cứu lịch sử văn học là tái lập và phân tích các quan niệm và quy chuẩn đánh giá văn học trong những giai đoạn văn học quá khứ. Việc này đòi hỏi phải làm rõ không những quan niệm và quy chuẩn nào đã chi phối mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc trong từng giai đoạn lịch sử văn học, mà còn phải làm rõ sự đan xen chồng chéo phức tạp giữa những quan niệm và quy chuẩn ấy được thể hiện như thế nào trong một hiện tượng tiếp nhận phê bình cụ thể. Bài viết này vận dụng phương pháp trò chơi ngôn ngữ để phân tích trường hợp cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế về giá trị của Truyện Kiều, qua đó, bài viết chỉ ra sự xung đột và biến đổi giữa quy chuẩn văn hóa và quy chuẩn chính trị xã hội trong việc đánh giá tác phẩm văn học [1]. Từ đó, bài viết gợi mở vấn đề về sự đan xen các loại quy chuẩn khác nhau ngoài văn học trong giao tiếp văn học nói chung, phê bình, tiếp nhận văn học nói riêng, vốn chưa được chú ý đúng mức trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss.

“Trò chơi ngôn ngữ” là khái niệm quan trọng trong triết học ngôn ngữ của Wittgenstein [2], nằm trong đường hướng của các suy tư triết học và khoa học xã hội xem ngôn ngữ như là điều kiện nền tảng cho hoạt động sống của con người. Khái niệm này chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn thứ hai trong hành trình tư tưởng của Wittgenstein, qua công trình Các nghiên cứu triết học. Trong công trình này, ông cho rằng cũng như mỗi hành động chơi trong trò chơi tuân theo và được đánh giá qua luật chơi, mỗi phát ngôn tuân theo những quy tắc của trò chơi ngôn ngữ, và “là một bộ phận của một hoạt động, hay [một bộ phận] của một hình thức cuộc sống” [3]. Mỗi phát ngôn là những “nước đi”, và các quy tắc mà các phát ngôn tuân theo là “ngữ pháp” của trò chơi ngôn ngữ. Bằng phát ngôn, những người tham gia tạo ra, ý thức và tuân theo những quy tắc này để thực hiện mục đích và tìm kiếm ý nghĩa trong hình thức cuộc sống. Do đó, khi những người tham gia thay đổi quy tắc, thì trò chơi thay đổi về bản chất, và một trò chơi mới được sinh ra. Một phát ngôn thể hiện ý nghĩa và giá trị của nó trong trò chơi ngôn ngữ thuộc về hình thức cuộc sống, là toàn thể ngữ cảnh văn hóa xã hội đã “được thừa nhận, được thiết định” [4]. Kế thừa Wittgenstein, Jean-François Lyotard sử dụng khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” như một phương pháp để phân tích hoàn cảnh hậu hiện đại của khoa học [5]. Ông nhấn mạnh vào sự ganh đua của mỗi nước đi bằng phát ngôn của những người tham gia để đạt được mục đích chiến thắng trong trò chơi.

Khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” trong quan niệm của Wittgenstein và Lyotard đem lại góc nhìn nhận thức hoạt động giao tiếp ngôn ngữ nói chung tuân theo những quy tắc được quy ước bởi những người tham gia, trong đó có hoạt động giao tiếp văn học. Hoạt động giao tiếp văn học, sáng tác và tiếp nhận, phê bình, trong mỗi trường hợp cụ thể của nó, cũng tuân theo một hệ thống những quy tắc hiển nhiên hoặc ngầm ẩn nào đó, mà mỗi phát ngôn của người tham gia, được đánh giá tuân theo những quy tắc này. Đó là lí do mà Hans Robert Jauss liên hệ khái niệm “chân trời” trong việc hiểu và tiếp nhận văn học với khái niệm “trò chơi ngôn ngữ”. Ông cho rằng chân trời hiểu văn học chính là trò chơi ngôn ngữ, là điều kiện cho việc hiểu và lý giải tác phẩm: “…và cuối cùng ý niệm chân trời như là trò chơi ngôn ngữ trong triết học phân tích ngôn ngữ giai đoạn hậu kỳ của Wittgenstein, chính trò chơi ngôn ngữ về cơ bản đã giúp cho toàn bộ việc hiểu nghĩa có thể xảy ra được…” [6]. Mối liên hệ này gợi ra một góc nhìn mới về tiếp nhận văn học, ở khía cạnh các quy tắc làm điều kiện cho việc giao tiếp văn học trong một hình thức cuộc sống cụ thể, vốn là điểm mấu chốt trong quan niệm về “trò chơi ngôn ngữ” của Wittgenstein.

Như vậy, chân trời của việc hiểu và tiếp nhận văn học không những là phạm vi các kinh nghiệm đời sống và kinh nghiệm văn học về đề tài, thể loại và ngôn ngữ làm tiền đề cho việc hiểu và lý giải tác phẩm văn học, như Jauss đã từng quan niệm trong giai đoạn đầu, mà còn là phạm vi kinh nghiệm trong giao tiếp văn học bị chi phối từ các quy chuẩn của nhiều phương diện khác nhau như văn hóa, chính trị, đạo đức…. Chân trời của người đọc trong hoạt động tiếp nhận, phê bình cũng hiện ra như là sự tổng hợp, đan xen, chồng chéo, chi phối nhau của các quy chuẩn về thẩm mỹ, văn hóa, xã hội trong hình thức đời sống cụ thể. Những quy chuẩn này có thể đã có sẵn, hoặc được tạo ra, được viện dẫn, chia sẻ, đồng tình hay phản đối, nhưng là điều kiện và cơ sở không những cho hoạt động hiểu, lý giải ý nghĩa, đánh giá giá trị tác phẩm, mà còn cho những trao đổi và tranh luận trong phê bình về tác phẩm.

Trong cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế, giá trị của Truyện Kiều được đánh giá hoàn toàn trái ngược nhau: trong khi Phạm Quỳnh đề cao hết mực, thì Ngô Đức Kế phê phán hết sức nghiêm khắc. Câu hỏi đặt ra là, trong cả hai trường hợp này, điều gì chi phối sự tiếp nhận, đánh giá tác phẩm? Hay nói cách khác, những quy chuẩn nào đã tham gia như là các quy tắc chi phối sự đánh giá tác phẩm qua phát ngôn phê bình? Để trả lời câu hỏi này, ta bắt đầu bằng việc xác định trò chơi ngôn ngữ và các quy tắc của nó được sử dụng trong cuộc tranh luận.

Cuộc tranh luận này có thể xem như được bắt đầu với bài phát biểu của Phạm Quỳnh trong lễ kỷ niệm Nguyễn Du, được đăng lại trên báo Nam Phong số 86, năm 1924. Bài phát biểu nêu trên thuộc về hoạt động văn hóa nhân kỷ niệm Nguyễn Du, vì vậy, có thể đặt nó nằm trong phạm vi sự chi phối của quy tắc thuộc về loại trò chơi ngôn ngữ văn hóa, thể hiện qua những quy ước ngôn từ mà Phạm Quỳnh sử dụng. Ngay từ phần mở đầu, ông đã nêu lý do: “Chúng tôi thiết nghĩ một bậc có công với văn hóa nước nhà như thế…. ngày giỗ ngài không phải là ngày kỷ niệm riêng của một nhà một họ nữa, chính là ngày kỷ niệm chung của cả nước” [7]. Trong suốt bài phát biểu, ông nhấn đi nhấn lại 3 lần quy ước ngôn từ về “giá trị Truyện Kiều đối với văn hóa nước nhà”.

Nếu đặt bài phát biểu trong hành động tôn vinh Nguyễn Du, khẳng định giá trị Truyện Kiều trong một ngữ cảnh rộng hơn của hình thức cuộc sống, ngữ cảnh khẳng định giá trị của văn hóa dân tộc qua nền quốc văn, trước sự xâm nhập của văn hóa phương Tây, thì những ngôn từ trên của Phạm Quỳnh không có gì bất hợp lý. Tuy nhiên điểm đáng chú ý là trong bài phát biểu này, Phạm Quỳnh đã sử dụng một số quy ước ngôn từ nằm trên ranh giới giữa trò chơi ngôn ngữ văn hóa và trò chơi ngôn ngữ chính trị. Quy ước này trước hết nằm trong nhận định rất quen thuộc được lặp lại hai lần: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ”. Nhận định này sẽ chỉ là một nhận định thuộc về tình yêu và niềm tự hào văn hóa đầy cảm xúc và bồng bột, nếu nó không có quy ước ngôn từ “nước ta còn”. Hơn nữa, quy ước ngôn từ được nêu ra trong câu trên còn được dẫn chiếu đến một quy ước ngôn từ khác, xuất hiện trong câu văn ngay sau đó, cũng hệ trọng không kém: “Nghĩ cho xa xôi, nghĩ cho thấm thía, mới hiểu rằng Truyện Kiều đối với vận mệnh nước ta có một cái quý giá vô ngần” (như trên). Câu văn này cũng sẽ chỉ là một câu văn quen thuộc thể hiện suy nghĩ của Phạm Quỳnh, một người từng có những bài viết đầy trăn trở đối với văn hóa dân tộc, nếu nó không có quy ước ngôn từ “vận mệnh nước ta” nằm trên ranh giới giữa trò chơi ngôn ngữ văn hóa và trò chơi ngôn ngữ chính trị xã hội.

Trong hình thức cuộc sống những năm đầu thế kỷ XX, sự còn mất, tồn vong của đất nước là một vấn đề chính trị xã hội bức thiết và vô cùng nhạy cảm đối với bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào. Và vì thế, quy ước ngôn từ do Phạm Quỳnh nêu ra mặc nhiên thuộc về quy tắc của trò chơi ngôn ngữ chính trị xã hội mang ý nghĩa độc lập dân tộc; nên khi được sử dụng, nó tạo nên một sự biến đổi quy tắc trò chơi trong phát ngôn của Phạm Quỳnh. Từ trò chơi ngôn ngữ thuộc về phạm vi văn hóa, bài phát biểu của ông đã chuyển sang, hoặc được hiểu như có mục đích chuyển sang, trò chơi ngôn ngữ chính trị xã hội. Và hầu như ngay lập tức, nó gây ra hiệu quả tác động, tạo nên phát ngôn tiếp theo của Ngô Đức Kế, được hiểu như là một nước đi tranh thắng với phát ngôn của Phạm Quỳnh. Đó là bài Luận về chánh học cùng tà thuyết của Ngô Đức Kế, đăng trên Hữu Thanh tạp chí, số 21, cùng năm.

Mở đầu bài viết là câu hỏi có quy ước ngôn từ “vận nước”, vốn đã xuất hiện trong bài của Phạm Quỳnh, nhưng giờ đây, nó được Ngô Đức Kế sử dụng trong phạm vi chính trị xã hội: “Vận nước thịnh hay suy quan hệ tại đâu? – Tại nhân tâm thế đạo. Nhân tâm thế đạo xấu hay tốt, cỗi gốc tại đâu? – Tại học thuyết tà hay chính” [8]. Cần phải đặt phần mở đầu trong hình thức truyền thông bị kiểm duyệt bởi chính phủ thuộc Pháp, và nhân thân của Ngô Đức Kế, mới thấy rằng chính ông cũng sử dụng một sự chồng chéo trò chơi ngôn ngữ. Ông dùng quy ước ngôn từ “học thuyết tà hay chính” để làm cho bài phát biểu thuộc về phạm vi tranh luận học thuật, tức là trò chơi ngôn ngữ khoa học, che lấp đi vấn đề chủ chốt của trò chơi ngôn ngữ chính trị xã hội mà ông đang theo đuổi để tranh thắng: vấn đề vận mệnh đất nước [9]. Trong các phần còn lại của bài viết, Ngô Đức Kế bàn về Hán học và Âu học, rồi nhân đó bàn về việc tiếp nhận Truyện Kiều và phê phán thái độ đề cao tác phẩm này, xét cho cùng là để tạo các quy ước ngôn từ học thuật vừa để che lấp mục đích nhằm tranh thắng với Phạm Quỳnh trong trò chơi ngôn ngữ xã hội chính trị; nhưng mặt khác, quan trọng hơn, để dẫn dắt đến nhận định cuối bài của ông: “Thậm nữa lại nói rằng: ‘Truyện Kiều quan hệ với văn hóa Việt Nam, Truyện Kiều quan hệ với quốc vận Việt Nam, nếu không có Truyện Kiều thì tình trạng dân tộc Việt Nam chưa biết đến thế nào’, thiệt là ‘Con oanh học nói xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng, tà thuyết mê dân đến thế là cực’…” [10]. Trong nhận định này, quy ước “quốc vận Việt Nam” được Ngô Đức Kế đặt trong phạm vi quy chuẩn xã hội chính trị, nên nó lập tức làm cho quy ước “tà thuyết mê dân” trở thành lời kết án Phạm Quỳnh về mặt chính trị.

Trong hai văn bản, cả Phạm Quỳnh lẫn Ngô Đức Kế đều sử dụng những phân tích, đánh giá văn học cho mục đích ngoài văn học, sử dụng các lập luận văn học cho trò chơi ngôn ngữ văn hóa và chính trị. Khác với bài phê bình Truyện Kiều viết năm 1919, trong bài diễn thuyết này, ngôn từ và lập luận của Phạm Quỳnh chủ yếu nhằm mục đích của hành động văn hóa là tôn vinh giá trị tác phẩm: “nay tôi chỉ muốn biểu dương cái giá trị của Truyện Kiều đối với văn hóa nước ta, đối với văn học thế giới”. Phạm Quỳnh có bàn về “sự ‘kết cấu” của tác phẩm, nhưng là để so sánh với văn học Trung Quốc và văn học Pháp, để chứng minh, khẳng định là Truyện Kiều “có thể tự cao với thế giới”: “như vậy thì Truyện Kiều không những đối với văn hóa nước nhà, mà đối với văn học thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quý”.

Tình hình cũng như vậy đối với văn bản của Ngô Đức Kế. Hầu hết những lập luận của ông đều quy về vấn đề Hán học, Tây học và nền quốc văn, mà ngầm ẩn bên dưới là quy chuẩn chính trị xã hội, như đã phân tích. Ông có đề cập đến nhan đề, sự tích, lối văn, nhưng đều đặt nó trong quy chiếu với lí tưởng cho cả một nền học vấn đương thời: “Xem thế thì biết truyện ấy chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu”. Nghĩa là những phê bình đánh giá Truyện Kiều của ông nằm trong phạm vi của trò chơi ngôn ngữ chính trị xã hội. Và cũng từ góc độ này mà ông đã đánh giá bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh là biểu hiện cho một “tà thuyết mê dân”.

Tuy nhiên, trong khi Ngô Đức Kế, và cả Huỳnh Thúc Kháng sau này, đều hiểu Phạm Quỳnh đang thiết lập trò chơi ngôn ngữ chính trị xã hội, như đã phân tích; thì Hoài Thanh đã hiểu phát ngôn và nhận định của Phạm Quỳnh hoàn toàn thuộc về trò chơi ngôn ngữ văn hóa. Trong phần kết khảo luận “Một thời đại trong thi ca” của cuốn Thi nhân Việt Nam nổi tiếng, Hoài Thanh cho thấy sự kết nối sâu sắc giữa nhận định của Phạm Quỳnh với tâm thế của cả một thời đại văn học: “Chưa bao giờ như bây giờ họ hiểu câu nói can đảm của ông chủ báo Nam Phong: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn; nước ta còn” [11]. Cách hiểu này của Hoài Thanh có cơ sở từ hoạt động phát biểu của Phạm Quỳnh trong một hình thức cuộc sống đặc thù. Trong ngữ cảnh xã hội lúc bấy giờ, vấn đề tầm quan trọng của ngôn ngữ nước nhà, của nền quốc văn, đối với sự tồn vong của văn hóa, và do đó, là của dân tộc, được nhiều người đề cập đến. Năm 1919, chính Phạm Quỳnh, trong khi bình luận Truyện Kiều, đã nêu ra luận điểm bảo vệ nền quốc văn và ngôn ngữ dân tộc [12]. Sau khi chứng minh Truyện Kiều là áng văn chương lão luyện, ông cho rằng, “…tiếng ta cũng đủ phong phú, nếu khéo luyện tập cũng làm nên văn chương hay chẳng kém gì tiếng nước khác, chứ không phải như nhiều người tưởng lầm là một thứ tiếng bán khai, đành lòng bỏ đi để đem công mà họ văn chương nước khác” [13]. Ngay cả lúc về sau, khoảng 1945, trong Hoa Đường tùy bút, Phạm Quỳnh cũng vẫn khẳng định lại quan điểm đó của mình: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ…”. Câu ấy, người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm. Nhưng năm 1933, một văn sĩ Pháp nói về nước Ba Tư làm lễ kỉ niệm thập bách chu niên thi hào Ferdowsi tác giả sách Shahnameh (Đế vương lục), là một kiệt tác bằng tiếng Ba Tư, nhờ sách đó mà tiếng Ba Tư còn được lưu truyền và bảo tồn qua mấy mươi đời bị người Ả rập đô hộ…” [14].

Điều đáng chú ý ở đây là quan điểm đề cao nền quốc văn của Phạm Quỳnh nêu trên lại có chung một đường hướng với Ngô Đức Kế. Trong bài “Nền quốc văn” đăng báo Hữu Thanh, số 12, ngày 15 tháng 4, 1924, Ngô Đức Kế không những có quan điểm rất gần gũi với Phạm Quỳnh ở trên, mà còn nhấn mạnh vai trò của văn học đối với sự tồn vong của dân tộc, đúng như lập luận của Phạm Quỳnh trong bài phát biểu trong lễ kỉ niệm Nguyễn Du sau này. Ngô Đức Kế viết: “Người Thái Tây có nói rằng: ‘Tiếng và chữ của dân tộc nào là cái gươm cùng cái thuẫn của dân tộc ấy’. Ôi! Gươm cùng thuẫn đã mất thì người lấy gì mà giữ mình: ngôn ngữ văn tự vẫn quan hệ như thế thật”. Như vậy trong giai đoạn ấy cả Ngô Đức Kế lẫn Phạm Quỳnh đều có chung chuỗi lập luận: bảo vệ nền quốc văn – quốc ngữ liên quan đến sự tồn vong của dân tộc, nhưng mỗi người lại sử dụng những quy tắc của trò chơi ngôn ngữ khác nhau, gây nên sự xung đột, trong đánh giá Truyện Kiều. Hơn nữa, như đã phân tích, Ngô Đức Kế đã tạo nên quy tắc của trò chơi khác, làm biến đổi trò chơi, và đem đến sự đánh giá khác về phát ngôn của Phạm Quỳnh. Điều này gây nên những tác động, trước hết, thể hiện trong nước đi đáp trả tranh thắng của Phạm Quỳnh.

Sáu năm sau, năm 1930, Phạm Quỳnh mới lên tiếng đáp lại khi Ngô Đức Kế đã mất, nhân Phan Khôi gợi lại cuộc tranh luận trên. Bài đáp trả của Phạm Quỳnh không còn thuộc về trò chơi ngôn ngữ phê bình Truyện Kiều như cuộc tranh luận trước, mà đã được ông chuyển đổi nằm mục đích thoát khỏi áp lực từ quy chiếu chính trị xã hội trong phát ngôn của Ngô Đức Kế. Những nước đi này được ông tiến hành trên ba lập luận: 1/ Phạm Quỳnh quy chiếu mục đích phát ngôn của Ngô Đức Kế về vấn đề chính trị xã hội thành mục đích cá nhân, mục đích lợi ích của tờ báo; 2/ Phạm Quỳnh thừa nhận, trong phạm vi cá nhân này, nhân thân của Ngô Đức Kế là nguyên nhân sự thắng lợi của ông; 3/ Phạm Quỳnh giải thích cuộc đời hoạt động của mình không phải là làm chính trị, mà là “phụng sự về phương diện văn hóa” [15]. Ba nước đi này có quan hệ chặt chẽ với nhau: 1/ làm biến đổi mục đích của trò chơi, và tạo tiền đề cho 2/; 3/ tạo tiền đề cho 2/, và cùng với 2/ nhằm thoát khỏi áp lực từ phát ngôn của Ngô Đức Kế. Nhìn bề ngoài, có vẻ như Phạm Quỳnh đã thay đổi trò chơi để “nói xấu cho một người thiên cổ” [16], như Huỳnh Thúc Kháng kết luận; nhưng nhìn toàn bộ hệ lập luận, ta thấy Phạm Quỳnh thực sự lùi bước và cố gắng thoát khỏi hiệu lực mạnh mẽ từ sự biến đổi trò chơi của Ngô Đức Kế. Có lẽ, ông ý thức sâu sắc được rằng, trong giai đoạn lịch sử đặc thù của một đất nước có truyền thống chống ngoại xâm, thì quy chuẩn chính trị xã hội luôn có giá trị hiệu lực mạnh mẽ, để luôn chiến thắng trong sự xung đột với các quy chuẩn khác. Và cũng chính do đó mà cuộc đời hoạt động của Phạm Quỳnh trong giai đoạn sau đã phần nào chuyển hướng [17]; ngay cả khi đến cuối cuộc đời, ông cũng không thôi trăn trở về sự lựa chọn của mình [18]. Nhưng điều quan trọng nhất chính là, bằng sự biến đổi quy tắc trò chơi, Ngô Đức Kế đã góp phần tạo nên một “trường hợp Phạm Quỳnh”, một “ca” phức tạp, với một lịch sử những tranh luận, và những ý kiến khác nhau về góc nhìn đánh giá thái độ chính trị của nhân vật này.

Trường hợp cuộc trao đổi trên cho thấy trong lịch sử văn học Việt Nam, có những giai đoạn trong đó một số hiện tượng phê bình tiếp nhận cụ thể chịu sự chi phối của những hệ quy chuẩn khác nhau, chồng chéo một cách phức tạp. Về mặt lý thuyết, trường hợp này cũng cho thấy rằng, trong một số hiện tượng cụ thể, người đọc không chỉ hiểu và lý giải tác phẩm trong phạm vi của quy chuẩn văn học mà còn trong quan hệ với những quy chuẩn khác; hơn nữa, ở một số trường hợp, các quy chuẩn văn học chỉ có vị trí thứ yếu, hay chỉ được sử dụng để phục vụ cho các quy chuẩn khác. Đó có lẽ là bởi vì, người đọc không chỉ đến với văn học cho mục đích văn học, họ còn đến với văn học để thực hiện các mục đích sống khác nhau trong hình thức cuộc sống của họ, do đó, để đạt được mục đích của mình, họ buộc phải thay đổi thứ tự ưu tiên của các quy chuẩn, hay thay đổi quy tắc của trò chơi ngôn ngữ trong giao tiếp văn học, và thậm chí, sử dụng văn học cho các quy chuẩn ngoài văn học [19].

Trong giai đoạn đầu, Hans Robert Jauss cho rằng người đọc đến với tác phẩm bằng chân trời chờ đợi của kinh nghiệm văn học, với sự hiểu biết về đề tài, về thể loại và ngôn ngữ văn chương [20]. Sự liên hệ của ông về khái niệm “chân trời” với khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” chỉ xuất hiện một lần, như đã nêu trên, trong giai đoạn sau của hành trình lí thuyết, khi ông đã chuyển sang đường hướng thông diễn học văn học. Thậm chí, trong khi thực hành thông diễn học văn học, ông vẫn xem những yếu tố của thể loại và đặc trưng ngôn ngữ thi ca là tiền đề chủ yếu cho hoạt động tiếp nhận và lí giải tác phẩm. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, nếu khai triển và hoàn thiện thêm, góc nhìn từ mối liên hệ mà ông gợi ra sẽ mở ra hướng nghiên cứu những trường hợp tiếp nhận phức tạp, có sự đan xen, chồng chéo những quy chuẩn khác nhau.

 

17/11/2014

Thông tin tác giả:

Hoàng Phong Tuấn, ThS.

Khoa Ngữ văn, ĐHSP TP HCM. ĐT: 0918143302.

[1] Cho đến nay, nhìn chung, các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận trường hợp này ở góc độ thái độ chính trị của Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế. Bài viết này chủ yếu phân tích để thấy tuy có quan niệm và lập luận gần gũi nhau về văn hóa dân tộc và nền quốc văn, nhưng Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế sử dụng những quy tắc khác nhau cho trò chơi ngôn ngữ phê bình văn học.

[2] Từ “trò chơi” trong khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” không có ý về tính chất không nghiêm túc, mà liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ như hình thức một trò chơi vận hành theo các quy tắc.

[3] Ludvig Wittgenstein (1999), Philosophische Untersuchungen – Philosophical Investigations, Blackwell, USA, mục 23.

[4] Ludvig Wittgenstein (1999), sách đã dẫn, mục 226.

[5] Lyotard (2007), Hoàn cảnh hậu hiện đại, Ngân Xuyên dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính và giới thiệu, Tri Thức, Hà Nội.

[6] Hans Robert Jauβ, 1991, Ästhetische Erfahrung und literarische Hermeneutik, Suhrkamp, Frankfurt am Main, Germany, tái bản, trang 659.

[7] Phạm Quỳnh, “Bài diễn thuyết bằng quốc văn”, Nam Phong số 86, năm 1924.

[8] Ngô Đức Kế, Luận về chánh học cùng tà thuyết của Ngô Đức Kế, Hữu Thanh tạp chí, số 21, 1924.

[9] Quy ước này được Ngô Đức Kế lựa chọn từ ngữ một cách hết sức thâm thúy, mà có lẽ chỉ người nằm trong phạm vi đạo đức truyền thống nho giáo như Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế mới hiểu: “tà”, “chính” không thuộc về khoa học hay văn hóa, mà thuộc về đạo đức ứng xử, đạo đức sống, nó thể hiện sự đánh giá đối tượng được đề cập từ góc độ đạo đức, luân lý.

[10] Ngô Đức Kế, Luận về chánh học cùng tà thuyết của Ngô Đức Kế, Hữu Thanh tạp chí, số 21, 1924.

[11] Hoài Thanh, Hoài Chân, 1988, Thi nhân Việt Nam, bản in lại, Nxb Văn học Hà Nội, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học, trang 46.

[12] Trần Đình Sử, khi bàn về trường hợp này cũng cho rằng “Truyện Kiều tiêu biểu cho tâm hồn, trí tuệ, tài năng của người Việt Nam và tinh hoa tiếng Việt”, nên “việc sau nghìn năm Bắc thuộc”, “tiếng Việt vẫn là tiếng Việt… là một sự kiện vĩ đại, đáng để tự hào”. Và ông nhận định: “Nhưng cách đề cao Truyện Kiều làm lu mờ các giá trị tinh thần thiết yếu khác là điều không thể chấp nhận đối với các chí sĩ” (Trần Đình Sử, Lý luận phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX, Trần Đình Sử tuyển tập, Nxb GD, 2005, trang 633-634).

[13] Phạm Quỳnh, 2006, “Truyện Kiều” (1919), in trong Thượng chi văn tập, Nxb Văn học, trang 588.

[14] Phạm Quỳnh, 2011, Hoa Đường tùy bút, Nxb Hội nhà văn-Nhã Nam, trang 68, 69.

[15] Phạm Quỳnh, “Trả lời bài ‘Cảnh cáo các nhà học phiệt’ của Phan Khôi tiên sanh”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 67, 1930.

[16] Huỳnh Thúc Kháng, “Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không”, Tiếng dân, 17.09.1930.

[17] Luận điểm về sự chuyển hướng này có sự tham khảo ý kiến của nhà nghiên cứu Cao Việt Dũng trong một trao đổi riêng, người viết chân thành cảm ơn.

[18] Trong Hoa Đường tùy bút, ông đã thấm thía mà cho rằng, “Nhưng cứ bình tĩnh mà xét, nhà văn học thuần túy, không nên tham dự chính trị: hoa lan phải mọc trong u cốc, không thể đem trưng bày nơi đầu đường xó chợ” (Phạm Quỳnh, 2011, Hoa Đường tùy bút, Nxb Hội nhà văn-Nhã Nam, trang 26)

[19] Với sự nhạy bén và thấu hiểu thực tế văn học Việt Nam, Nguyễn Văn Hạnh cho rằng tiếp nhận tác phẩm là “một hành động sống có tính chất trực tiếp”, một sự thực hiện cuộc sống của cá nhân, mà không thuần túy nằm trong phạm vi thưởng thức văn học. “Một số điểm cần nói rõ thêm về nghiên cứu tác phẩm văn học”. Tạp chí văn học, 1972.

[20] Hans Robert Jauβ, 1970, Literaturgeschichte als Provokation, Suhrkamp, Frankfurt am Main, trang 173, 174.

 

Thực sự tôi rất it hướng dẫn luận văn, phần vì các sinh viên đa số thích những đề tài phân tích văn học theo nữ quyền, diễn ngôn, thực dân này nọ. Còn tôi đang nghiên cứu tiếp nhận, mà lại đang quan tâm hai hướng hẹp, nên đề tài các em thấy rất lạ, lại không có tư liệu tham khảo tiếng Việt.

Quan điểm của tôi là sinh viên năm cuối hoặc cao học, nếu đọc được tài liệu tiếng Anh, thì làm theo hướng miêu tả, khái quát, hệ thống hóa một công trình lí thuyết tiếp nhận tiếng Anh, và vận dụng nó vào một trường hợp Việt Nam. Tôi đã hướng dẫn cho một em đề tài theo dạng này: Lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser trong công trình Implied Reader (Vận dụng phân tích ba truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp).

Nếu không đọc được tiếng Anh, thì làm đề tài khảo sát tư liệu theo hướng nghiên cứu của ông thầy, nghĩa là khảo sát, phân loại, phân tích tư liệu theo hai hướng nghiên cứu trên của tôi. Ông thầy có đăng bài báo hay công trình gì su dung đến kết quả khảo sát này, thì sinh viên sẽ cùng đứng tên.

Vì thế, tôi không nhận các đề tài do sinh viên gợi ý nếu không đi đúng hướng mình quan tâm. Đơn giản vì mấy cái nữ quyền, thực dân này nọ không phải hướng quan tâm của tôi. Và thú thật, mấy lí thuyết trên tôi cũng mới chỉ đọc dăm ba cuốn gọi là. Ông thầy của tôi nói rằng, anh bỏ ra 10 năm đọc bằng hết các công trình chủ chốt bằng tiếng Anh trong lĩnh vực của mình đi rồi hãy nghiên cứu gì thì nghiên cứu. Mấy cái khác tôi chưa đọc đủ để hướng dẫn.

Tôi cũng chỉ nhận hướng dẫn khi qua trao đổi thấy các em có tư duy tốt, có năng lực, có đam mê, chịu khó. Và tôi cũng nói trước, đề tài tôi hướng dẫn có thể không được nhiều người quan tâm và thậm chí, không mấy người có thiện cảm, vì thế, có thể điểm không cao. Ví dụ như nhiều người đánh giá thấp việc tóm tắt, khái quát một công trình khoa học tiếng Anh, nhưng tôi thì cho rằng với mặt bằng nghiên cứu hiện nay, chỉ cần làm thế là tốt rồi. Cái đúng trước, cái mới sau.

Làm khoa học là vì khoa học, không vì người khác và cái gì khác các em ạ. Chấp nhận có thể điểm không cao vì không quen thuộc thì mới đi xa được. Làm khoa học không phải biểu diễn sân khấu, cần khan giả vỗ tay. Cái gì ồn ào quá chẳng thể là khoa học.

Khoa học thực chất là đơn điệu, nhẫn nại và thầm lặng.

 

Thân gởi các em sinh viên học học phần Lí luận văn học 1 của thầy,

Các em ạ, lí luận văn học là môn học khó, lại là môn học mà chúng ta nằm lại ở khoảng cách quá xa so với mặt bằng chung của các nước. Vì vậy, thầy có những yêu cầu đối với việc học của các em như sau:

  1. Học gì? 
  • Các em sẽ được ưu tiên đến với khung các lí thuyết và khái niệm phê bình văn học để góp phần suy nghĩ về các câu hỏi cơ bản: Văn học là gì? Văn học để làm gì? Viết/ sáng tác là làm gì? Đọc/ tiếp nhận là làm gì?..
  • Các em sẽ được rèn luyện để tư duy, lập luận, phân tích về một vấn đề, khái niệm, hiện tượng…. văn học cụ thể thông qua trao đổi, tranh luận, thuyết trình.
  1. Đọc gì?
  • Các em sẽ được giới thiệu danh sách tài liệu tham khảo, và được hướng dẫn đọc một phần, đoạn tài liệu ấy trên lớp. Nhiệm vụ của các em là ĐỌC, GIẢI THÍCH, CHO VÍ DỤ, PHẢN BIỆN thông qua các trao đổi tranh luận trên lớp.
  • Các em cần phân biệt các loại tài liệu: tài liệu kinh điển (là các công trình khởi nguyên hoặc tổng kết của các lí thuyết gia chủ chốt), tài liệu diễn giải (các công trình diễn giải, tổng thuật, dẫn nhập, giới thiệu của các nhà nghiên cứu), tài liệu vận dụng (các công trình nghiên cứu ứng dụng, phân tích trường hợp), tài liệu tra cứu (các từ điển chuyên ngành, từ điển tác giả, từ điển thuật ngữ, bách khoa thư…).
  • Nhiệm vụ chủ yếu của các em là đọc, diễn giải, trao đổi các tài liệu kinh điển. Đọc một cách chăm chỉ, kĩ lưỡng, cho ví dụ cho từng luận điểm hoặc khái niệm. Hiểu khái niệm nào đó là hiểu các trường hợp ngoại diên để lĩnh hội nội hàm của nó. Các lập luận được triển khai theo từng nấc, chặt chẽ, kĩ lưỡng.
  • Các em cần hết sức tránh các liên tưởng lan man, hoài nghi những khái quát mơ hồ và không luận cứ (“văn học là nhân học”: “văn học” ở đây là gì”, “nhân học” ở đây là gì? Nhân là gì, trong quan niệm nào, tại sao lại có quan niệm ấy? Tại sao lại “là”?… ). Giữ khoảng cách với những diễn ngôn hoành tráng, đứng xa những uy quyền được tô vẽ, dè dặt với những diễn ngôn tung hô, cẩn thận với những câu văn giàu chất văn chất thơ nghe du dương thẩm mỹ.
  1. Nghiên cứu?
  • Nhìn chung ở lí luận văn học 1 các em chưa đủ năng lực và kiến thức để bắt tay vào nghiên cứu, trừ một số trường hợp cá biệt, hết sức cá biệt. Vì sao như vậy? Vì muốn nghên cứu các em phải có một nền kiến thức đương đại, điều này năm 1, 2 bậc đại học ở Việt Nam là điều hầu như bất khả. Muốn nghiên cứu các em cũng cần phải có kĩ năng tư duy, khả năng phân tích, khái quát vấn đề, là điều mà các em còn cần phải rèn luyện lâu dài, vì các cấp học trước hầu như chưa dạy các em điều này.
  • Tuy nhiên, hết sức cá biệt, có thể có một trường hợp nào đó, trong điều kiện được trao đổi và được hướng dẫn từ một người thầy nào đó thường xuyên nghiên cứu chuyên ngành. Trong trường hợp của thầy, chuyên ngành của thầy là nghiên cứu tiếp nhận văn học, vì vậy thầy chỉ hướng dẫn nghiên cứu tiếp nhận văn học, mặc dù có thể góp ý cho các em các vấn đề khác.
  • Các em hãy nuôi những mơ mộng tri thức, nhưng phải chăm chỉ, chặt chẽ, cụ thể là phải không ngừng ĐỌC, GIẢI THÍCH, LẬP LUẬN. Tri thức không đến từ sự trao truyền, mà đến từ những lao động trí não cần cù và gian khổ.

Chúc các em có nghị lực để học tốt, có niềm vui với tri thức và có thành quả xứng đáng!

“Hãy thoáng tưởng tượng một hình ảnh quen thuộc về công chúng hàn lâm tạo ra từ các nhà phê bình hồi ứng người đọc, như tôi chẳng hạn, [họ] tẻ nhạt và phù du. Tôi khẳng định rằng những gì bạn hoặc tôi biết về một văn bản chỉ là những ý niệm của bạn hoặc tôi về nó. Ối chà! Nguy hiểm quá! Lập tức có tiếng càu nhàu và mấy câu hỏi giận dữ. “Phải chăng ông đang nói văn bản không tồn tại?” (Âm vang câu hỏi khét tiếng từ một sinh viên nguy hiểm trong lớp của Stanley Fish, “Có một văn bản trong lớp này không?”). “Không, tôi không nói gì cả về sự tồn tại hay không tồn tại của văn bản” (Không, tôi không là Bishop Berkeley và cũng không có ý nói như thế). Nói rằng một cuốn sách “hoàn toàn nằm trong tâm trí của bạn”, thì không có nghĩa là nói rằng cuốn sách ấy không tồn tại thực – [nó] cũng tồn tại thực như bất cứ cái gì khác (hẳn là Bishop ắt sẽ nói rất hay về điều đó). Cũng không phải nói rằng bạn không cảm thấy hứng khởi hay xúc động hay thích thú hay giận dữ bởi cuốn sách.

Tôi cố gắng chuyển hướng lý lẽ này. “Nói theo cách khác, hợp lý hơn. ‘Điều bạn biết về văn bản đơn giản là tập hợp những tri nhận của bạn về nó’. Khá hơn chưa? Hay, có lẽ hợp lý hơn một chút nè, ‘bạn không thể biết bất kỳ điều gì nếu không thông qua quá trình tri nhận có tính người trong não bộ của bạn (trông thấy nó, nghe về nó), trừ phi tri thức của bạn bẩm sinh mà có hay đến từ trực giác thần linh’”. Với tôi, lý lẽ này dường như quá hiển nhiên như thể hầu hết chúng đều thừa thãi [một cách] không cần thiết, và thực ra thì, đến chỗ này, những tiếng càu nhàu thường tắt dần.”

NGƯỜI ĂN NÃO

Một đêm, tôi thấy mình đang ngồi ăn não của mình.

An Thảo

MẶT NẠ

 

Ngày….

Rồi mình sẽ viết một quyển tiểu thuyết về cái nghề này.

Anh nghĩ như thế mỗi lần cảm thấy mình không qua nổi, cảm thấy mình quá chán chường, cảm thấy những mảnh vỡ găm nát lồng ngực đã rệu rã. Thỉnh thoảng trong lúc nào đó khi cơn nhói đau buốt lên trong óc, anh lại tự hỏi tại sao mình lại rơi vào tình trạng này nhỉ, tình trạng mà có nhà văn đã từng miêu tả trong một tác phẩm nổi tiếng viết về bi kịch của con người không thể chịu nổi chính mình.

 

Ngày…

Nỗi đau đớn là gì? Phải chăng là lúc ta cảm nhận được bản thân chỉ là những mảnh vụn rệu rã đang cố dính dáng vào nhau trong khoảnh khắc hiện tại. Mảnh vụn này cố bám víu lấy mảnh kia, như sợ chính nó trôi tuột vào hư vô. Anh nhiều lần đã cảm nhận điều ấy. Như một lần anh đi lang thang ngoài đường, đau buốt lên trong óc. Cảm thấy cái nhìn này không phải của mình, lắng nghe này không phải của mình, đôi tay này không phải của mình, tất cả là trống không. Nhưng anh lại cảm thấy mình đang đi. Sao lại có lẽ như thế.

 

Ngày…

Rồi mình sẽ viết một quyển tiểu thuyết về cái nghề này. Một lần, khi kể với người bạn về những việc đang làm trong nỗi chán chường, anh đã nghĩ thế. Thú thực lúc ấy, anh cảm thấy căm ghét cái nghề này, cái nghề làm cho con người anh phân ra làm hai mảnh, một mảnh đóng khung anh trong cái hộp bằng thiếc. Một mảnh cháy rực lên muốn thiêu đốt tất cả. Anh không được sống là mình vì cái nghề này, nhưng anh phải sống, vì cái nửa bên kia, cái nửa cháy lên ấy, nghịch lí thay. Có một lúc nào đó anh chợt nhận ra rằng mình không được chuẩn bị cho cái nghề này. Cần một người xứng đáng hơn anh ở vị trí của anh, đó không phải là anh. Rồi anh, đứng ở nửa bên kia, bên ngoài cái hộp, tự nhìn lại nửa bên này. Anh thấy mình co ro đi đi lại lại trong cái hộp thiếc ấy. Nó thật chật chội. Anh không biết mình đang làm gì. Nhưng anh cảm thấy mình không thuộc về cái nghề này.

 

Ngày…

Mình sẽ viết về cái nghề này, mình sẽ viết. Anh tìm đọc hết các tác phẩm văn học viết về nghề này. Anh thấy tất cả chúng mới hời hợt làm sao. Chúng không nói được sự giả dối của nghề, tất nhiên, mà ngay cả sự đúng đắn của nghề cũng không thể nốt. Không nói được sự giả dối thì cũng không nói được sự đúng đắn, lương thiện. Cái nghề thật lạ. Cái nghề mà sự lương thiện của nó chính là sự giả dối của nó. Khi càng tỏ ra lương thiện thì lại càng giả dối. Anh cố tỏ ra lương thiện, anh cố làm cho mọi người của mình hài lòng, từ người này đến người khác, đó là lúc anh cay đắng nghĩ rằng thực ra mình đang dối họ. Có cái nghề nào chán chường và thê thảm như thế không? Cái nghề làm cho anh đau đớn khi còn không biết điều nào là thực sự đúng. Mà có điều nào là thực sự đúng trên đời này?

Một lần, vì muốn thoát khỏi sự chán chường, anh chuẩn bị một cốt truyện xoay quanh nhân vật có lòng tốt trong nghề. Mẫu hình nhân vật sẽ là một đồng nghiệp của anh, một người vô cùng tốt. Tấm lòng anh ta lương thiện, hành động anh ta cao cả, anh ta luôn nghĩ về mọi người, luôn ý thức được trách nhiệm của mình trong nghề một cách tốt nhất. Nhưng rồi anh chợt nhận ra cuộc sống như thế là cuộc sống quá chật hẹp, quá tẻ nhạt. Hành động tốt ư? Hành động tốt thì có nghĩa gì khi những hành động ấy cứ lặp đi lặp lại. Còn gì vô nghĩa hơn một hành động tốt cứ lặp đi lặp lại. Đến một lúc nào đó ta sẽ thấy rằng lặp đi lặp lại hành động nào đó thì thực là ngu xuẩn. Ngu xuẩn thì có thực sự tốt không?

Hay anh sẽ miêu tả một nhân vật vô tích sự nhưng theo anh nghĩ đó chính là người tốt? Có lần anh nghe câu chuyện về một người rất chán chường trong nghề. Một người không làm gì cả. Anh ta không làm gì cả, hay việc đáng làm cho nghề anh ta lại không làm. Anh ta tuyên bố rằng mình chẳng cần phải làm gì. Một người mà, dù chưa từng gặp mặt, nhưng anh tưởng tượng ngay được một giọng nói chậm, ngập ngừng và gằn nhẹ từng tiếng, với đôi mắt đanh lên luôn chực chờ bộc lộ sự phẫn nộ. Sự tự kiềm chế quá lâu làm cho anh ta không biết cách bộc lộ mình như thế nào. Con người anh ta không phải là của anh ta nữa, nó là khối đúc của những gì đã làm cho anh ta trở nên như thế này. Anh ta là một kẻ chán chường bậc nhất. Rồi đột nhiên anh cảm thấy người ấy thực đáng ngưỡng mộ, ít ra là anh ta hơn hẳn mình. Anh ta không thèm làm việc phải làm, hay ít nhất anh ta cũng làm với thái độ khinh bỉ.

 

Ngày…

Mình phải viết một cái gì đó. Anh thường tự nhủ như thế sau những lần tỉnh dậy khi cơn choáng đã qua. Anh mắc chứng choáng ngất không biết tự bao giờ. Thỉnh thoảng đang làm việc gì đó bỗng dưng tất cả thành đổ sụp xuống, tan rã đi, anh tỉnh lại thì thấy mình đang nằm gục, khi thì trên bãi nước tiểu của chính mình, khi thì dưới chân ghế, hoặc bên vệ đường. Một cơn đau buốt xuyên từ dưới cạnh hàm lên đỉnh đầu, hoặc từ hốc mắt xuyên qua sau ót, như ai đó vặn con ốc vít to xoáy trôn ốc vào đầu anh. Những cơn đau buốt ấy xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, không còn chỉ sau những lần choáng ngất nữa. Một lúc nào đấy bất chợt dòng chảy suy tư trong anh ngừng lại, và cái đau buốt lại xuyên từ cạnh hàm qua óc lên đến đỉnh đầu, hoặc từ hốc mắt xuyên qua phía sau ót.

 

Ngày…

Mình phải viết một tác phẩm về cái nghề này. Có lần anh sẵn sàng ngồi viết, nhưng rốt cục chỉ được mấy câu thơ. Bài thơ ấy giờ đã thất lạc, nhưng anh còn nhớ, cuối bài thơ là hình ảnh đôi mắt. Một đôi mắt to tròn khác thường như hai lỗ đen sâu hoác ngơ ngác nhìn anh từ phía xa, cuối góc phòng. Đôi mắt như con ốc vít vặn xoáy trôn ốc xuyên qua óc anh. Đó có lẽ là lần duy nhất anh có thể viết và đã viết được cái gì đó khả dĩ, dù anh luôn đau đáu nghĩ về việc phải viết một cái gì đó lớn lao hơn, sâu thẳm hơn hay khốc liệt hơn. Một lần khác anh định viết một truyện ngắn, nhưng rồi anh lại viết lan man, rất lan man, về tương lai. Anh chợt nhận ra rằng mình không thể viết về tương lai. Nhất là tương lai của cái nghề này. Đơn giản là vì nó không có tương lai, những hành động lặp đi lặp lại thì không bao giờ có tương lai, cũng không có quá khứ, và hiện tại cũng không. Nó đơn giản là những hành động biểu thị một sự tồn tại trần trụi nào đó. Thế thôi.

 

Ngày…

Một lần khác, anh nghĩ, hay mình sẽ kể về chính mình? Nhưng ngay lập tức anh vô cùng xấu hổ khi nghĩ đến việc mình sẽ miêu tả chính mình. Anh có dám đối diện với mình khi miêu tả về chính mình không? Anh nghĩ là mình không thể. Chỉ nghĩ về việc ấy thôi là đầu anh lại đau buốt lên, từng nơron thần kinh đứt lìa ra trong óc não. Thậm chí có lúc anh nghĩ mình thực sự đã bị loạn thần kinh, rồi anh lại nghĩ mình có lẽ sẽ tìm được một cách thức gì đấy để chữa được căn bệnh này, như đọc các sách tâm lí chẳng hạn. Nhưng anh phì cười, một người loạn thần kinh đang suy nghĩ cách chữa chứng bệnh loạn thần kinh của mình, thì suy nghĩ ấy có phải là loạn thần kinh không? Một kẻ loạn thần kinh thì sẽ viết về nghề của mình như thế nào?

 

Ngày…

Anh không nhớ rõ lí do gì làm anh chọn cái nghề này. Có lẽ lí do ấy đã luôn lẩn tránh sự hồi tưởng của anh. Mỗi lần anh cố nhớ về nó, thì góc bên trong của mắt trái anh lại đau buốt lên, cũng là mũi khoan ấy, nhưng lần này nó quay mũi hướng lên phía trên, lan tỏa khắp đỉnh đầu, rồi lại vòng xuống phía dưới ót và cuối cùng xuyên ra phía trước. Cứ mỗi lần anh cố nhớ thì kí ức lại bỏng buốt lên, rồi não như không hoạt động nữa, như thể từng tế bào bị nung chảy ra. Vậy mà lần nào kể về nghề, anh lại tỏ ra rất hào hứng, anh nói về một lí do cao cả nào đó, mỗi lần là một lí do khác nhau. Và sau khi nói xong, thì anh mờ mắt đi vì luồng tê buốt chạy qua não.

 

Ngày….

Anh bắt đầu xoay sở để có một giải pháp trị liệu cho những cơn đau buốt của mình. Anh thử cố gắng căng các giác quan của mình ra, căng sự nhạy cảm âm thanh, căng sự nhạy cảm của mắt nhìn, căng sự nhạy cảm của cơ thể. Kéo giãn nó ra tối đa, chừng như thể các nơron thần kinh tự trương nở ra hết mức, các cảm nhận của óc não tiêu tan đi, không còn cảm xúc, không còn suy nghĩ, chỉ còn hoạt động thuần túy cơ học của các tế bào. Giải pháp này có vẻ khá khả thi. Cơn đau buốt bắt đầu rã ra, ngấm khắp cơ thể, trì nặng các tế bào. Rồi chúng chìm dần đi, tan dần đi. Sau mỗi lần như thế anh kiệt sức, đổ gục xuống, chìm trong một trạng thái trống rỗng và mệt mỏi.

 

Ngày…. tiếp

Giới hạn của sự chấp nhận hoàn cảnh là gì? Có lần anh bất chợt đặt câu hỏi đó cho mình khi nghĩ về mình. Phải chăng ta vẫn còn chấp nhận hoàn cảnh vì đôi khi trong giây lát nào đó ta cảm thấy mình vẫn còn bình yên trong thể xác này? Hay giữa những cơn đau buốt kéo dài triền miên, một đôi lúc nào đó, khi các tế bào thần kinh đã rỗng toác, tan chảy ra, hay đơn giản là chúng tê dại đi, ta cảm thấy trong mình một sự trống không tận cùng, ngay khoảnh khắc ấy, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa, kể cả hoàn cảnh, kể cả sự tê dại này. Tất cả đều không là gì cả. Lúc ấy, không còn gì là sự chấp nhận nữa.

 

Ngày….

Nhưng rồi những cơn đau buốt lại bùng lên dữ dội hơn. Giải pháp tự làm đầu óc mình tê dại không còn tác dụng với nó nữa. Anh thử tìm một giải pháp khác. Một lần anh thử va đầu mình thật mạnh vào cạnh tường. Một cảm giác bùng bật choáng mạnh nơi nửa phần đầu phía trái đúng lúc mũi khoan tê buốt đi về hướng đó. Anh choáng váng ngồi xuống ôm đầu và cảm nhận cơn đau buốt chỉ còn là những cảm giác nhói lên từng vết trong một cơn đau chấn động đang loang dần mạnh mẽ khắp cơ thể. Cánh này tỏ ra hiệu nghiệm hơn hẳn. Đầu anh như rã ra, xương sọ chấn động và tê đi trong từng vết nứt toác của nó.

 

Ngày….

Anh đang nhìn thẳng vào những đôi mắt to đen sâu hoác và nói. Anh phải nói say sưa hào hứng về những điều mà trong thâm tâm anh hiểu rõ hơn ai hết đó là liều thuốc độc. Nhưng anh cũng hiểu rất rõ rằng mình không thể làm khác. Mình phải nói như thế, với điệu bộ như thế, với sự nhấn nhá như thế, với ánh mắt như thế. Nhưng rồi anh cảm thấy da mặt mình tê sần đi. Cảm giác gắng gượng hết mức tuột ra theo lớp da mặt chảy dài xuống dưới cằm, nhầy nhụa và quánh lại. Đột nhiên anh nói một câu gì đó ngoài dự tính và cười sằng sặc. Anh phải cố gắng cúi gằm mặt xuống để che đi những lớp cuộn trên da của một điệu cười mà anh biết là nó rất dễ sợ. Anh cảm thấy lớp da mặt bắt đầu bệu ra. Anh cố gắng giữ cho môi mình thôi trễ ra theo điệu cười. Nhưng anh không thể dừng được nữa, những lớp da chùn xuống và đang tuột dần tuột dần khỏi ngạnh xương hàm. Anh đột ngột chạy ra ngoài, đầu óc tê dại đi trong khi tiếng cười vẫn còn vang vọng khắp căn phòng.

 

An Thảo

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Quyển sách này tập hợp những bài viết và bài dịch trong hơn 10 năm tôi tìm hiểu các vấn đề của tiếp nhận văn học.

Hướng nghiên cứu tiếp nhận của tôi thể hiện qua những khái niệm ở nhan đề sách: các định chế xã hội kiến tạo nên người đọc và vai trò của họ trong đời sống văn học. Hướng này được định hình trong quá trình làm luận văn tiến sĩ, trong đó tôi triển khai một gợi ý của Hans Robert Jauss về mối liên hệ giữa khái niệm “chân trời” (horizon) trong thông diễn học và khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” (language-games) trong triết học Wittgenstein hậu kì. Nhưng chủ yếu nó được củng cố bằng trải nghiệm cá nhân về thực tế tiếp nhận văn học ở Việt Nam, vốn đã trải qua những chuyển đổi sâu sắc về văn hóa, xã hội, gây ra những vết nứt rạn, sự chồng lấn và áp lực định chế trong việc sử dụng các quy ước văn học cho sự lí giải và tiếp nhận tác phẩm.

Tôi tìm thấy sự hỗ trợ lí thuyết cho góc nhìn của mình từ lí thuyết tiếp nhận đương đại: quan niệm của Tony Bennett về vai trò của điều kiện vật chất và định chế xã hội đối với sự đọc, và quan niệm của Michel de Certeau, theo đó người đọc đại chúng dùng chiến thuật của mình để tồn tại trong không gian của định chế. Cuối cùng, như một tất yếu, hướng đi này dẫn tôi đến vai trò của truyền thông đại chúng, một phạm vi định chế xã hội đang ngày càng lớn mạnh và có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, trong đó có văn học. Trong góc nhìn này, truyền thông đại chúng với không gian Internet, báo, tạp chí… , như điều kiện vật chất trung giới giữa người đọc và văn bản, kiến tạo nên sự đọc đương đại.

Phần một của sách tập hợp những bài giới thiệu lí thuyết tiếp nhận đương đại. Trong bài đầu tiên, Chuyển hướng văn hóa của nghiên cứu tiếp nhận: khái lược và gợi mở, tôi khái lược tiến trình lịch sử của các lí thuyết tiếp nhận, từ đầu thế kỷ XX đến những năm 90, ở góc độ cách đặt vấn đề của mỗi sự chuyển hướng, qua đó nhấn mạnh đến sự chuyển hướng văn hóa và gợi ra những hướng nghiên cứu tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ hướng chuyển này.

Bài Một số khuynh hướng mới của nghiên cứu tiếp nhận đầu thế kỷ XXI giới thiệu ba khuynh hướng nổi bật của lí thuyết tiếp nhận trong các nghiên cứu Anh, Mỹ mấy năm gần đây. Hai bài Một số điểm chính trong lí thuyết tiếp nhận của Wolfgang IserNhững điểm chính trong hành trình lí thuyết của Hans Robert Jauss tôi bao quát những nét chính và khái niệm chính do Iser và Jauss đề xuất. Bài cuối của phần này, Sự kế thừa và vận dụng của Hans Robert Jauss về quan niệm “lịch sử tác động”, tôi làm rõ sự rẽ hướng của Jauss so với Gadamer trong quan niệm về lịch sử tác động.

Nhìn chung những giới thiệu này chỉ khái lược hay điểm qua một số khuynh hướng chính của lí thuyết tiếp nhận từ đầu thế kỉ XX đến nay. Còn đó một số rẽ nhánh cần giới thiệu kĩ hơn, như lí thuyết tiếp nhận từ góc độ phân tâm học và nữ quyền luận, hay nhánh mới gần đây liên quan đến chiều hướng tôn giáo của sự tiếp nhận. Tôi hi vọng sẽ có dịp trình bày chúng trong thời gian tới.

Phần hai của sách là những bài nghiên cứu về lí thuyết tiếp nhận và thực tiễn tiếp nhận văn học ở Việt Nam. Bài Tiếp cận lịch sử tiếp nhận từ góc độ khái niệm “chân trời” và “trò chơi ngôn ngữ”, rút ra từ luận văn tiến sĩ, có tính chất định hướng lí thuyết cho những nghiên cứu về sau của tôi. Trong bài này, tôi tìm thấy một gợi ý của Hans Robert Jauss có thể trả lời cho những băn khoăn của tôi về phương pháp nghiên cứu thực tiễn tiếp nhận văn học Việt Nam đương đại.

Trong ba bài Xung đột và biến đổi quy chuẩn trong phê bình văn học (nhìn lại cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế về Truyện Kiều), Trò chơi ngôn ngữ và phê bình văn học: trường hợp phê bình thơ Nôm Hồ Xuân HươngĐịnh chế và sự đọc: trường hợp tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, tôi sử dụng phương pháp trò chơi ngôn ngữ để bóc tách các chiến lược lí giải của chủ thể tiếp nhận và đặt nó trong ngữ cảnh xã hội với các diễn ngôn và liên văn bản.

Hai bài Kí ức và sự hòa giải: hiện tượng Nhật ký Đặng Thùy Trâm trong sự kiến tạo của truyền thông đại chúngSự đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình: trường hợp các fan page trên Facebook thể hiện mối quan tâm của tôi đối với vai trò của truyền thông đại chúng trong việc định hình ý nghĩa văn bản văn học và kiến tạo không gian tiếp nhận. Riêng bài Sự đọc bình dân tiểu thuyết ngôn tình: trường hợp các fan page trên facebook tôi quan tâm đến tầng lớp người đọc đại chúng, một biểu hiện đặc thù của đời sống văn học đương đại.

Trong bài Tính đại chúng của sự đọc và huyễn tưởng tinh thần của văn học trong một số tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh tôi vận dụng quan niệm về fantasy theo cơ chế vô thức trong các tác phẩm đại chúng để phân tích tác động thẩm mỹ của một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Nhật Ánh. Trong bài Phương pháp trò chơi ngôn ngữ trong nghiên cứu lịch sử tiếp nhận – được sắp xếp ở cuối cùng, tôi trình bày phương pháp nghiên cứu tiếp nhận theo sự gợi ý của Hans Robert Jauss và đặt nó trong tương quan với các lí thuyết tiếp nhận đương đại.

Phần ba của sách là bài dịch của thầy Bùi Văn Nam Sơn và tôi.

Hầu hết những bài trong phần một và hai đã báo cáo tại các hội thảo, công bố trên các tạp chí hoặc in chung trong sách, khi được in lại ở đây đã có sự chỉnh sửa, chủ yếu là nhằm nhất quán chú thích và tài liệu tham khảo. Một số trường hợp chỉnh sửa và bổ sung nội dung sẽ được chú thích trong từng bài. Trật tự các bài trong mỗi phần được sắp xếp theo nội dung, không theo trật tự thời gian. Cuối sách, tôi cũng soạn ra một thư mục các lí thuyết gia và công trình nghiên cứu tiếp nhận chủ chốt (tiếng Anh và tiếng Đức), hi vọng sẽ có ích cho sinh viên và nhà nghiên cứu.

Hoàng Phong Tuấn