Feeds:
Bài viết
Bình luận

NƯỚC

 

Mưa quật mạnh vào cửa gỗ, nước mưa xuyên qua khe cửa chảy thành dòng trên tường, vài dòng đã gần chạm đất. Nền phòng dần mềm đi và lỏng ra, chân ghế bắt đầu lún xuống. Hắn đứng dậy bước thử vài bước thì chân không nhấc lên được nữa. Bàn và ghế nghiêng dần. Những quyển sách từ từ trượt ra khỏi mặt bàn và rơi xuống. Tiếng rơi vang động khắp căn phòng, đau buốt lên tận óc. Chất lỏng dưới nền lạnh buốt từ từ bò lên nuốt lấy đôi chân. Hắn bình thản, như đã chờ đợi việc này lâu lắm rồi. Hình như nó đã từng xảy ra một lần nào đó trong quá khứ. Cảm giác tê buốt từ từ thấm qua các lỗ chân lông, luồn lách và bám thít vào những sợi gân máu li ti, xuyên vào từng tầng cơ thịt, Những sợi gai lạnh buốt bò lên và bám vào thành xương đùi như những cây leo quái vật trong một bộ phim kinh dị nào đó.

An Thảo

Advertisements


Đối với “trường hợp Chu Giang”, một người tự nhận mình chuyên làm công tác “kiểm dịch” trong chốn khoa học, hiện có nhiều luồng ý kiến khác nhau về việc có nên tranh luận với ông hay không: có ý kiến cho rằng cần tranh luận, có ý kiến ngược lại là cần im lặng.


Tôi lại cho rằng thay vì đặt câu hỏi “có nên tranh luận với ông”, thì trước tiên phải đặt câu hỏi cơ bản hơn là “ông có đủ điều kiện để có thể tham dự một cuộc tranh luận (đúng nghĩa) hay không”, hiểu theo nghĩa có đủ khả năng tư duy ở mức cần thiết để có thể tham gia vào một cuộc trao đổi có tính chất khoa học hay không. Vì chỉ có những người có tư duy lành mạnh bình thường, thì mới có thể tham dự vào cuộc trao đổi khoa học trong sự tôn trọng của người khác. Và lúc ấy, việc bàn đến một luận điểm khoa học nào đó với họ, mới không là một sự xa xỉ vô nghĩa.


Tôi sẽ chứng minh rằng ông Chu Giang chưa có nổi một khả năng tư duy lành mạnh bình thường. Điều này thì chỉ cần lẩy ra một vài ý trong bài viết của ông “kiểm dịch” ông Trần Đình Sử là thấy ngay.

Trong một đoạn phê bình luận án của ông Trần Ngọc Hiếu, ông Chu Giang viết như sau:
“Biết nhiều về lý luận bên ngoài cũng tốt và cần thiết. Nhưng thực tiễn văn hoá dân tộc, thiển nghĩ, nếu không cao hơn thì cũng không kém gì các lý thuyết bên ngoài về sự chơi và trò chơi.
Hãy quan sát đời một con người, từ lúc lọt lòng cho đến khi nhắm mắt, sự chơi và trò chơi của nó và đối với nó như thế nào? Mỗi giai đoạn, mỗi hoàn cảnh… có những trò chơi gì. Từ cá nhân đến cộng đồng, dân tộc. Trò chơi của người Việt trong văn hoá trong văn học nghệ thuật như thế nào? Nếu biết tổng kết, khái quát sẽ có được một lý luận không kém gì của thiên hạ. Dân gian ta nói gì?Làm trai cho đáng nên trai/ Phú Xuân cũng trải Đồng Nai cũng từng. Cụ nghè Trần Bích San có câu Văn vô sơn thuỷ phi kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài. Ông bà ta nói: Nghề chơi cùng lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn… là một lý thuyết cực kỳ sâu sắc về trò chơi…”. (hết trích).


Đoạn trên ông Chu Giang vì cố chứng minh rằng “thực tiễn văn hóa dân tộc, thiển nghĩ, nếu không cao hơn thì cũng không kém gì các lý thuyết bên ngoài” nên đã đánh đồng tri thức khoa học và kinh nghiệm dân gian. Kinh nghiệm dân gian được đúc kết để dạy con người cách sống và ứng xử, còn tri thức khoa học là sự phân tích để tìm ra bản chất và quy luật phổ quát của các hiện tượng thực tiễn. Ngay một quan niệm tưởng như đơn giản là quan niệm về “trò chơi”, đã có bao nhiêu khuynh hướng lí thuyết, bao nhiêu công trình thuộc về các lĩnh vực triết học, tư tưởng, văn hóa… Tôi nghĩ chỉ cần một thao tác cơ bản trên google, tra các khái niệm “game theory”, “play” hoặc các khái niệm liên quan, là ông có thể cập nhật cho mình rất nhiều kiến thức cơ bản, chắc chắn phong phú, hệ thống, chi tiết và phổ quát hơn nhiều các kinh nghiệm dân gian mà ông đã dẫn.

Nhưng tôi không chủ ý trao đổi với ông về kiến thức, mà như đã nói, chỉ ra một điều cơ bản hơn, đó là khả năng tư duy không lành mạnh bình thường của ông. Đoạn sau đây cho thấy rõ hơn điều ấy.
“Về sự chơi và trò chơi, nói lý thuyết đến bao nhiêu cũng không thừa, dù có dẫn cổ kim đông tây đến thiên kinh vạn quyển cũng thế. Nhưng chỉ cần nhớ: Nghề chơi cũng lắm công phu. Ăn có nơi chơi có chốn cũng đủ.” (hết trích)

Tôi rất ngạc nhiên khi ông có thể quy giản toàn bộ “cổ kim đông tây đến thiên kinh vạn quyển” vào đôi ba câu đúc kết kinh nghiệm dân gian. Bằng cách tư duy như thế này, tôi nghĩ có lẽ ông có thể khuyên mọi người không cần vào trường đại học, không cần học tập, nghiên cứu, nghĩa là có thể loại bỏ hoàn toàn các thể chế khoa học, mà chỉ cần quay về với tục ngữ và kinh nghiệm dân gian, để xây dựng và phát triển đất nước.
Một tư duy không lành mạnh bình thường như thế rõ là không đủ điều kiện và khả năng cần thiết để có thể hiểu phát ngôn khoa học của người khác. Và tôi hoàn toàn có thể nghi ngờ những gì ông tự nhận là “kiểm dịch”, những lời bàn to tát của ông về công trình của các nhà khoa học chân chính.

Tôi nghĩ cái thời mà một người không có khả năng tư duy lành mạnh bình thường vẫn có thể huênh hoang trong lĩnh vực khoa học đã không còn nữa. Đây là thời hiện đại, thời mà mỗi người khẳng định mình bằng khả năng thực tiễn, chứ không phải bằng việc đóng vai trò “kiểm dịch” để tham dự vào không gian học thuật mà mình vốn dĩ không thể thuộc về.

An Thảo. 2015

VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Adam tỉnh dậy, nhận ra một bên ngực và sườn của mình đã rỗng toác. Tiếng Thượng Đế vang lên trong đầu: ta ban cho con người đàn bà này từ thân thể con. Anh ngước nhìn lên. Đứng trước anh là sinh thể nhỏ nhắn đang cười môi còn chưa khô vết máu.

*

“Không có quả táo như thế, chỉ có các ranh giới ở trong ngươi mà thôi”.
Con rắn nhìn sâu vào mắt người đàn ông. Đôi mắt mệt mỏi thoáng hướng lên bầu trời xanh như cảm nhận sự sâu thẳm khôn cùng của câu trả lời.
“Con người các ngươi được làm ra từ bụi đất, nhưng luôn bị dằn vặt bởi các giao ước. Tại sao lại như thế? Hãy tự đi tìm câu trả lời. Nó không có ở đây”.

*

Adam nhìn quả táo trên tay. Anh chẳng còn quan tâm con rắn đã nói những gì. Anh chỉ biết mình không thuộc về nơi này.
Nàng vẫn nhìn anh chờ đợi. “Nhưng rồi đây người ta sẽ chỉ nói về em”. “Em biết”. Nàng nhẹ nhàng trả lời và gục đầu vào vai anh.

 

AN THẢO

NGÔN TỪ

 

Ta quất vào nhau

những nhát roi

quá khứ

buồn nôn

nụ hôn

buổi chiều ngoảnh mặt

 

Ta đóng đinh vào tim nhau

những cơn đói

nhói đau

cống rãnh

ngày dài

 

Ta khoan vào tâm hồn nhau

giấc mơ

hoảng loạn

những con đường…

 

AN THẢO

“[…] Khi công trình về trung cổ học dẫn tôi đến vấn đề về vai trò nổi bật của chân trời, một vấn đề có tính chất thông diễn, và đưa tôi đến việc phê bình chủ thuyết truyền thống của ngữ văn học thực chứng, thì cố gắng ban đầu của tôi nhằm bổ sung sự hiểu biết của mình bằng một kế hoạch với mỹ học tiếp nhận của văn học (Lịch sử văn học như một thách thức, 1967) đã chuyển sang một tình huống hơi khác. Quan niệm về một lịch sử văn học mới sẽ mở ra một mối quan hệ xoay vòng ngắn ngủi giữa tác giả và cái thế giới trong đó bao gồm người tiếp nhận, và sau đó sẽ xây dựng nên một vị thế trung giới giữa quá khứ và hiện tại từ người đọc hoặc công chúng. Quan niệm này phải được xác định trong diện mạo của một ý tưởng nghi ngờ tính khách quan của lịch sử văn học cũ và những yêu sách của tính khách quan được tạo ra bởi cả hai đối thủ là chủ nghĩa cấu trúc và xã hội học về việc hiểu lịch sử. Điểm đặc trưng chính của vị thế này là sự biến đổi của những chân trời, một hệ hình mới được đưa vào trong nghiên cứu văn học hiện đại. Nó được minh họa trong những trường hợp lí tưởng nào đó qua những tác phẩm như Don QuixoteJacques le fataliste, những tác phẩm: “gợi lên chân trời của những chờ đợi của người đọc, được thiết lập bằng những quy ước về thể loại, phong cách hoặc hình thức, chỉ nhằm từng bước phá vỡ chúng, tức là không chỉ có vai trò nhằm phục vụ mục đích phê bình; mà có thể một lần nữa lại tạo ra những tác động thi ca”. Trong sự biến đổi chân trời giữa những chờ đợi sơ khởi và kinh nghiệm mới được nhận ra này, tôi nhận thức rõ nguyên lý trung giới thẩm mỹ trong tiến trình lịch sử văn học, dẫn đến sự biến đổi đích thực cái quy phạm bằng việc xét lại những quan niệm của chúng ta về toàn bộ tác phẩm quá khứ. Quan niệm này về sự biến đổi của những chân trời cũng cho phép tôi nhìn nhận được đặc trưng thẩm mỹ của một tác phẩm khi gắn liền với khoảng cách thẩm mỹ ngầm ẩn (tức là khoảng cách giữa sự chờ đợi và trải nghiệm, giữa truyền thống và sự cách tân), và cho phép tôi đối chiếu tính chất phủ định kiến tạo của nó với đặc điểm khẳng định của cái quy tắc dựa vào đặc tính của văn học tiêu thụ.

Công thức của tôi về hệ hình này rõ ràng chịu ảnh hưởng (qua vài sự đồng thuận vô thức) của quan niệm chủ nghĩa hình thức Nga rằng sự cách tân thẩm mỹ là tác nhân tạo thành cuộc cách mạng của văn học, và quan niệm về mỹ học phủ định của Adorno, theo đó một tác phẩm tự trị có thể có được chức năng xã hội bằng một sự phủ định nào đó đối với những quy tắc đang tồn tại. Xu hướng có tính chất hiện đại rõ ràng trong hệ hình đầu tiên của mỹ học tiếp nhận này tương ứng lập trường mà tôi nêu ra trong bài giảng nhậm chức ở Constanz, bài giảng đã gây một bất ngờ và gây ra một cuộc luận chiến sôi nổi. Nỗ lực của tôi nhằm đáp lại những lời phê bình đã cho phép tôi từng bước phát triển kế hoạch thứ nhất về mỹ học tiếp nhận trong sự đối thoại với họ và cho phép tôi thực hành thẩm tra kế hoạch này. Giai đoạn tiếp theo là nhằm giới thiệu khái niệm “chân trời chờ đợi” như là một phương sách cho sự phân tích kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc:

“Sự phân tích kinh nghiệm văn học của người đọc sẽ tránh được những cạm bẫy đe dọa của tâm lý học nếu nó mô tả sự tiếp nhận và sự ảnh hưởng của một tác phẩm trong một hệ thống được khách quan hóa của những chờ đợi sinh ra cho mỗi tác phẩm trong khoảnh khắc lịch sử nó xuất hiện, từ một sự thấu hiểu trước về thể loại từ hình thức và những chủ đề của những tác phẩm đã quen thuộc, và từ sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ hằng ngày”.

trực tiếp chống lại những người đã cho rằng một phân tích về kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc chắc chắn kết thúc ở chủ nghĩa chủ quan của phản ứng cá nhân (“bao nhiêu người đọc, bấy nhiêu cách lý giải”), hoặc trong chủ nghĩa tập thể của một xã hội học về thị hiếu, vị thế này tạo ra khả năng quan niệm về một kinh nghiệm văn học trong sự khác biệt có tính khách quan giữa sự chờ đợi có tính quy chuẩn và kinh nghiệm có tính sáng tạo; do đó nó mang nhiều tính văn học nội tại. Trong sự biến đổi các chân trời như vậy, khái niệm “chân trời chờ đợi” có sự thuận lợi trong việc không xét đến cái gì được gán cho sự ảnh hưởng của văn bản và cái gì được chiếm lĩnh bởi những người tiếp nhận ban đầu và về sau. Điều này đặt ra vấn đề sự phân biệt trong quá trình lịch sử văn học về hai khía cạnh của quan hệ giữa văn bản và người đọc: khía cạnh tác động như là nhân tố của sự thực tại hóa ý nghĩa được thiết định bởi văn bản; và khía cạnh tiếp nhận, như là một nhân tố của sự thực tại hóa ý nghĩa được thiết định bởi người nhận. Trong việc chống lại ý niệm cho rằng truyền thống văn học tự động tạo thành chính nó như là sự hợp nhất thụ động của một “sự hòa trộn các chân trời”, điều này trở nên cần thiết cho việc nhấn mạnh đặc tính sự kiện của tác phẩm văn học như là một mo-ment của một quá trình trong đó hai chân trời luôn tham gia vào trò chơi tương tác trong sự hợp nhất chủ động của việc hiểu. Nói cách khác, chân trời chờ đợi được khơi gợi qua việc tác phẩm thừa nhận hoặc vượt qua kinh nghiệm của người nhận. Sự tham gia chủ động của người đọc vào sự thực tại hóa tiến trình lịch sử của ý nghĩa (khả năng “tiếp nhận sáng tạo” của người đọc – Sartre) cũng bị bỏ quên một cách khó hiểu do vậy đã không trình bày lịch sử văn học như quá trình lịch sử tự trị mà ngược lại nhấn mạnh tính cục bộ của nó, ở nơi mà quan hệ riêng của nó với lịch sử chung bị xem như cốt để nắm bắt chức năng xã hội và năng lượng kiến tạo lịch sử của nó: “Chức năng xã hội của văn học chỉ tự biểu thị khả năng đích thực của nó ở nơi mà kinh nghiệm văn học của người đọc nằm trong/ nhập vào (enter into) chân trời chờ đợi của thực tiễn đời sống anh ta, nó thiết lập trước việc hiểu của anh ta về thế giới, và do vậy nó cũng có một sự tác động vào ứng xử xã hội của anh ta” (Lịch sử văn học như sự thách thức, trang 199). Trực tiếp hướng đến lý thuyết về sự mô phỏng, lý thuyết mà Lukács đã từng quan tâm trở lại nhưng đã bị đóng cứng vào trong cái vòng khép kín của mỹ học sáng tạo và biểu hiện, luận đề kết thúc bài giảng tại trường Constanz của tôi đòi hỏi quyền ưu tiên cho chức năng kiến tạo quy chuẩn của văn học so với chức năng trình bày của nó. Vấn đề còn để ngỏ ở đây là câu hỏi rằng chân trời chờ đợi của đời sống thực tiễn đã được đưa vào bằng cách nào, nếu không phải bằng sự quyết định âm thầm của những quyền lực kinh tế thì bằng những quan điểm có trước của quan hệ người, bằng những hứng thú, nhu cầu, mơ ước tiềm tàng của con người. Mặt còn lại cũng cần được xem xét là quan hệ giữa nó với chân trời kinh nghiệm thẩm mỹ. Một mối quan hệ như vậy có thể chỉ được làm sáng tỏ cùng với lập trường có tính chất thách thức mà tôi thiết lập trong phần kết của quyển Lịch sử văn học như sự thách thức. Ở đây, tôi đòi hỏi rằng văn học đương đại, cũng như trong quá khứ, có thể làm mới lại “lập trường kiên cố” của chúng và phá hủy những cấm kỵ đạo đức hiện hành. Điều này đòi hỏi phải có sự viết lại mỹ học tiếp nhận từ điểm nhìn văn học nội tại, bên trong lĩnh vực ảnh hưởng của thực tiễn xã hội và đòi hỏi tìm hiểu khi nào và bằng cách nào sự hiện thực hóa về mặt lịch sử của một tác phẩm văn học, thông qua sự tiếp nhận thụ động hay sáng tạo của người đọc, phản ứng lại với những tình thế xã hội, định giá những mâu thuẫn của chúng, và nỗ lực giải quyết chúng một cách có dự tính. Quan trọng hơn cả, điều này có nghĩa là đáp lời một cách nghiêm túc mối nghi ngờ có tính phê phán và có tính ý hệ rằng truyền thống văn học không có được đặc quyền phát triển trong sự tự do hoàn toàn mà có lẽ đã bị cưỡng ép và do vậy ta không thể tiền giả định một cách thuần túy tính chất trong suốt của giao tiếp văn học giữa con người và các thời đại, mà tìm cách giành lại nó từ diện mạo của một khuynh hướng của truyền thống là sáp nhập những gì pha tạp vào quy phạm cổ điển hài hòa […]”.

Trích dịch trong: James L. Machor và Philip Goldstein, 2001, Reception Study: From Literary Theory to Cultural Studies, Routledge, New York, từ trang 20.

 

SATAN

 

“Không có quả táo như thế, chỉ có các ranh giới ở trong ngươi mà thôi”.
Con rắn nhìn sâu vào mắt người đàn ông và nhận thấy đôi mắt mệt mỏi thoáng hướng lên bầu trời xanh như cảm nhận sự sâu thẳm khôn cùng của câu trả lời.
“Con người các ngươi được làm ra từ bụi đất, nhưng luôn bị dằn vặt bởi các giao ước. Tại sao lại như thế? Hãy tự đi tìm câu trả lời. Nó không có ở đây”.

An Thảo

ADAM

 

Adam nhìn quả táo trên tay. Anh chẳng còn quan tâm con rắn đã nói những gì. Anh chỉ biết mình không thuộc về nơi này.
Nàng vẫn nhìn anh chờ đợi. “Nhưng rồi đây người ta sẽ chỉ nói về em”. “Em biết”. Nàng nhẹ nhàng trả lời và gục đầu vào vai anh.

An Thảo