Feeds:
Bài viết
Phản hồi

ISER VS FISH

 

Tất nhiên là Iser không đời nào chịu thua một gã hậu sinh (Fish thua Iser 12 tuổi, và ý tưởng chống lại Iser là một thứ mà Fish rất khoái) hồ đồ và cực đoan như Fish.

Trước hết ông phê bình Fish là đã bộp chộp khi cho rằng ông phân biệt cái xác định là cái cho sẵn, còn cái không xác định là cái thêm vào. Ông giải thích lại rằng những từ ngữ của một văn bản là cái cho sẵn, sự lý giải các từ ngữ là cái xác định. Trong khi đó khoảng trống giữa những yếu tố cho sẵn và/ hoặc giữa những sự lý giải là những cái không xác định.

Tỉ số là 1-1

Tiếp đến ông cho rằng dù văn bản mang đặc điểm gì đi nữa, dù xác định hay không xác định, hay cả hai thứ, thì nó cũng có một bản chất tiên nghiệm, là nó sinh ra là để làm trung gian cho sự chuyển biến của bản ngã người đọc. Cái bản chất tiên nghiệm này có trước sự lý giải lẫn sự chỉ dẫn của văn bản, và nó làm cho văn bản có sẵn được lý giải và làm cho giả định của người đọc thay đổi khi đọc văn bản.

Lập luận rắc rối này được trình bày như sau:

“Cái gì đó’ vốn là để được trung giới thì có trước sự lý giải, [và] những hoạt động xét như là sự kiềm chế việc lý giải, nó tác động đến những dự kiến vận hành sự lý giải, và do vậy tham gia vào quá trình thông diễn, kết quả của điều này là hai thứ, cái có sẵn được trung giới và sự cải biến những giả định ban đầu”.

Rõ ràng là Iser vẫn kiên trì với luận điểm mà ông khai triển từ Ingarden, thầy ông, rằng sở dĩ hành vi đọc có thể có được là do nó vận hành trên văn bản cho sẵn là hệ thống ký hiệu, vì vậy, văn bản cho sẵn này TỰ NÓ là điều kiện cho hành vi đọc, hay, nó là “người đọc mặc nhiên” (implied reader), một loại khả năng đọc có sẵn trong văn bản.

Iser đã không chú ý đến tiền đề cơ sở về mối quan hệ giữa “sự kiện” và “sự lý giải” mà Fish lấy làm điểm tựa cho toàn bộ hệ lập luận của mình. Vì Fish không nói rằng có hay không có loại khả năng đọc có sẵn trong văn bản, hay “người đọc mặc nhiên” như Iser nói; mà ông cho rằng khi Iser kết luận rằng văn bản có đặc điểm là nó tồn tại sẵn khả năng đọc, thì kết luận ấy cũng chính là một hệ quả của chiến lược lý giải mà thôi.

Vì vậy, lập luận phản bác của Iser không đạt đến mức độ trừu tượng hóa như lập luận của Fish, nói cách khác, nó không đồng đẳng phạm trù với lập luận của Fish, mà là lập luận nằm trong hệ lập luận của Fish. Nghĩa là, Iser quay mòng mòng trong cái lồng “chiến lược lý giải” của Fish.

Tỉ số là 2-1. Fish thắng!

Có thể nói rằng Fish rất thông minh và khôn ngoan khi ông một mặt dựa trên tiên đề thông diễn học được xác lập từ Nietsche, mặt khác, lại khéo léo xử lý tiên đề ấy thành một thứ như một cái lồng gà, mọi cái không phải là cái cho sẵn, thì là chiến lược lý giải. Vấn đề là dù anh có kết luận gì đi nữa, thì cái kết luận ấy cũng có một tiền giả định: nó là hệ quả của chiến lược lý giải.hehe.

Đó là lý do mà trong sự phát triển lý thuyết cuối cùng, Fish cho rằng không tồn tại cả văn bản lẫn người đọc, mà tất cả chỉ là những chiến lược lý giải giao thoa lẫn nhau.

Iser không đáp lời trực tiếp với Fish trong vụ đó nữa, ông chuyển hướng sang bàn về khía cạnh triết học của hư cấu. Đáng chú ý là ông cũng lấy một luận điểm của Nietsche, để cho thấy rằng hư cấu văn học là một loại hư cấu đặc biệt, như một tấm gương nằm trong hiện thực nhưng không là hiện thực trong hiện thực, mà là một đối ngẫu của hiện thực, làm cho con người soi vào hiện thực để thấy mình trong đó.

Thấp thoáng ở đây là lập luận phản bác nằm cùng cấp độ với tiên đề thông diễn của Fish.

Nhưng đó là chuyện còn kinh  khủng hơn. Chờ nhé.

 

FISH VS ISER

 

“Rõ ràng rằng bản thân sự phân biệt là một giả định, đó là, khi thông tin một hoạt động miêu tả văn học, thì sẽ tạo ra một hiện tượng hỗ trợ cho sự miêu tả đó. Nghĩa là, mỗi thành tố trong cuộc khảo sát như thế – những cái xác định hay những phân mảnh của văn bản, những cái không xác định hay những khoảng trống, và những chuyến du hành của “điểm nhìn lưu chuyển” của người đọc – ắt sẽ là sản phẩm của của một chiến lược lý giải cần đến chúng, và do vậy không có cái nào trong số những thành tố ấy có thể cấu thành cái có sẵn độc lập vốn dĩ đặt cơ sở cho quá trình lý giải”.

Đại khái là nếu các bố cho rằng quá trình lý giải văn bản có đặc điểm này nọ, thực ra là các bố đang nằm trong chiến lược lý giải văn bản. Vì mỗi cái trong số đặc điểm ấy không liên quan gì đến văn bản, vốn dĩ có sẵn và độc lập khỏi các phán xét về nó, nhưng không có nó thì không có mọi thứ.

Cái chính trong lập luận này của Fish là một quan niệm về mối liên hệ giữa “sự kiện” và “sự lý giải”. Fish cho rằng khi Iser nói văn bản là cấu trúc không xác định, hay ngược lại, thì đều vừa đúng, vừa không đúng. Vì, chẳng hạn, làm sao người đọc có thể thoát khỏi cái thế giới thực tại vật chất xác định mà trong đó có bản thân họ và văn bản của họ? Cơ sở và bản chất của quá trình đọc, do đó, là xác định.

Thứ nữa là Fish phê phán tính chất trung dung trong hệ lập luận của Iser về quá trình đọc và mối quan hệ tương tác giữa văn bản và người đọc. Iser cho rằng văn bản vừa xác định, vừa không xác định; người đọc vừa tự do vừa chịu sự dẫn dắt của văn bản. Fish mỉa mai điều này khi cho rằng mỗi trong số đặc điểm nêu trên tự nó không liên quan gì đến văn bản như là sự kiện, vì thế cho nên chúng phải dựa vào nhau, vừa này, vừa nọ. Hehe…

“Mỗi hành vi đọc là một sự kiện, một sự tương hỗ bao gồm một người đọc cụ thể và sự tượng hình cụ thể của những vết mực trên trang giấy, và xảy ra trong một thời gian cụ thể ở một ngữ cảnh cụ thể. Những trạng thái cơ thể nào đó, những loại cảm xúc nào đó, những sự liên kết ngôn từ và biểu trưng nào đó, được khơi dậy từ nơi trữ lượng ngôn từ (linguistic reservoir). Từ những vùng năng động này, đến những cụm từ, nói theo cách đơn giản nhất, sự định hướng lựa chọn – được điều kiện hóa từ những nhân tố cá nhân và xã hội phức tạp tham gia vào tình huống – tuyển ra những yếu tố tổng hợp hay hòa phối thành cái tạo nên “ý nghĩa”. Ý nghĩa không phải là cái đã tạo rồi sẵn có trong văn bản hay nơi người đọc, mà là điều xảy ra trong suốt sự tương hỗ giữa người đọc và văn bản.

Khi ta nhìn thấy một tập hợp những vết mực trên trang in mà ta tin rằng chúng có thể được chuyển thành các kí hiệu ngôn từ (nghĩa là có thể được xem như một văn bản), ta cho rằng nó ắt sinh ra một số loại ý nghĩa ít nhiều mạch lạc. Ta sử dụng kinh nghiệm dự trữ của ta. Những khả năng lựa chọn phức tạp bên trong vang vọng đến những từ ngữ khi chúng được đặt vào trong các cụm từ và các câu. Từ mỗi khởi đầu, và thậm chí thường là trước đó, một số những chờ đợi, một vài những cảm xúc, hay quy tắc hay mục đích sơ khởi, chẳng quan trọng là chúng mơ hồ như thế nào, sẽ dẫn dắt sự lựa chọn và tổng hợp. Khi đôi mắt ta chạm đến văn bản đang mở ngỏ, ta tìm kiếm những dấu hiệu dựa trên những chờ đợi về điều gì sắp đến, dưới sự soi sáng của trải nghiệm ngữ pháp và ngữ nghĩa trong quá khứ. Văn bản xét như một kiểu hình ngôn ngữ là bộ phận của cái gì đang được cấu tạo. Những khả năng mở ra cho các quy ước từ vựng, ngữ pháp, ngôn ngữ và văn học, các ý tưởng, các chủ đề, những kiểu mẫu chung của ý nghĩa vốn có thể được tiếp tục triển khai”. Louise Rosenblatt, 1988, Writing and Reading: The Transactional Theory, University of Illinois, trang 4.

“Chẳng có cái gì giống như loại người đọc hay loại tác phẩm văn học; mà chỉ có hằng triệu khả năng của những người đọc cá thể và hằng triệu khả năng của các tác phẩm văn học. Một tiểu thuyết, một bài thơ hay một vở kịch chỉ thuần túy là những vết mực trên giấy cho đến khi người đọc chuyển chúng thành một tập hợp những biểu trưng có nghĩa. Tác phẩm văn học tồn tại trong một phạm vi sống động tạo ra giữa người đọc và văn bản; người đọc đưa ý nghĩa cảm xúc và tinh thần vào kiểu hình của các biểu trưng ngôn từ, và những biểu trưng này dẫn dắt (channel) đến tư tưởng và cảm xúc của họ”. Louise Rosenblatt.

Phạm trù về sự hồi ứng bao gồm bất kỳ và toàn bô những hoạt động được khơi gợi từ một dãy các từ: sự dự phóng những khả năng cú pháp và từ vựng; những gì diễn ra hay không diễn ra sau đó của chúng; thái độ hướng đến những con người và những sự vật, hay những ý niệm hướng đến chúng; sự đảo ngược hay đặt vấn đề về những thái độ đó; và nhiều điều nữa. Hiển nhiên, điều này áp đặt một gánh nặng rất lớn lên người phân tích, người mà quan sát của anh ta vào bất kỳ thời khắc nào trong trải nghiệm đọc phải bao hàm toàn bộ những gì đã xảy ra (trong tâm trí của người đọc) ở những thời điểm trước đó, mỗi trong số chúng nằm ở nơi sự chuyển hướng của nó tùy thuộc vào những áp lực được tích lũy của những gì trước đó của nó. (Anh ta phải xét cả những ảnh hưởng và những áp lực xảy ra trước trải nghiệm đọc hiện thời – câu hỏi về thể loại, lịch sử và vân vân – những câu hỏi ta sẽ xem xét sau). Toàn bộ những điều này được thâu gồm trong vế câu “hiện thời”. Nền tảng của phương pháp là một sự xem xét về dòng chảy thời gian của trải nghiệm đọc, và nó cho thấy rằng người đọc hồi ứng dựa trên dòng chảy này và không [hồi ứng] đối với toàn bộ phát biểu. Nghĩa là, trong bất kỳ đoạn nào của phát biểu, có một điểm mà nơi đó người đọc lĩnh hội từ thứ nhất, và sau đó là từ thứ hai, rồi thứ ba, và cứ tiếp tục như vậy, và sự tường thuật về những gì xảy ra đối với người đọc luôn là sự tường thuật về điều đã xảy ra đối với điểm đó”.

(Stanley Fish, “Literature in the Reader: Affective Stylistics”, Is There a Text in This Class? Harvard University Press, trang 27).

CÁCH ĐẾN VỚI KIẾN THỨC

2008, gặp lần đầu,
- Em làm về gì?
- Dạ, tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
- [Suy nghĩ một chút] Lý giải về sự lý giải, thông diễn học?
- Dạ [ dù chưa hiểu gì!].
- Dùng khái niệm gì?
- ???
- Không được, phải có một khái niệm công cụ, một thôi, “viên đá đỉnh vòm”.
Mấy tháng sau nữa,
- Thưa thầy, “chân trời”.
- Của ai?
- Jauss ạ.
- Được rồi, tìm nó trong từ điển chuyên ngành, rồi dịch ra, đưa tôi sửa…… [Dịch sai be bét!!! mắng ‘gục đầu’ luôn.... sau đó, giảng 6 tháng thông diễn học !!!].
2009,
- Này, theo em, Jauss ảnh hưởng từ ai?
- Gadamer ạ.
- Gadamer và Jauss có hiểu khái niệm này như nhau không?…
- ???
Không nói gì, mấy tháng sau, giảng một buổi về lịch sử khái niệm “chân trời” trong triết học và thông diễn học, không nói gì về Jauss; cuối buổi kết luận một câu xanh rờn: ‘Jauss của các ông đại khái từ đây mà ra!’.
Mấy tháng sau,
- Đọc ai để hiểu Gadamer?…..
- ???
- Đọc Kant, mỹ học Kant, Gadamer thuộc phái Kant mới, đọc cuốn Phê phán thứ 3 của Kant, nhưng muốn đọc cuốn 3 thì em phải đọc cuốn 1. [giảng 3 tháng cuốn 1, không giảng cuốn 3! Ác liệt luôn. Mãi sau này, tôi mới nghe ông giảng cuốn 3 cho ….khoa Văn, ĐHKHXH-NV !!].
Mấy tháng sau….
- …Này, em nên đi vào khái niệm ‘horizontabhebung’, để thấy bước chuyển từ Jauss sang Gadamer.
Mấy tháng sau,
- Thưa thầy em viết rồi, thầy xem giúp.
Không nói gì… [nghĩa là chưa được!!! sợ quá, từ đó không dám gởi bài viết gì luôn. À, sau này có 1 bài trên tạp chí văn học, gởi ông đọc, đọc xong, ông không nói gì, chỉ cười cười].
[Sau này, khi trình bày Jauss ở Cà phê thứ 7, tôi có đề cập đến bước chuyển này, tất nhiên là khác trước nhiều rồi. Ông đến nghe và nhận xét mỗi một từ: “Được”. Tôi biết rằng tôi đã đi đúng hướng].
Mấy tháng nữa,
- Này, Gadamer dùng ai để chống lại Kant?
- ???
- Heidegger, mỹ học Heidegger. [giảng 6 tháng Tồn tại và thời gian của Heidegger; không nói gì đến mỹ học Heidegger!].
2010, giảng lịch sử mỹ học triết học; triết học Hegel; triết học Nietzsche,….
2011, giảng lịch sử triết học phương Tây cổ đại…
2012, giảng Ý niệm về hiện tượng học của Husserl; Nguồn gốc tác phẩm nghệ thuật của Heidegger [4 năm sau mới dạy mỹ học Heidegger!].
[…. liên tục được/ bị khuyên nhủ, nhắc nhở và mắng mỏ về chuyện dịch… Gỉa sử mà tôi có dịch trọn vẹn được cái gì, thì là do luôn được/ bị ông và đại ca nhắc nhở và thậm chí mắng mỏ]

2013, và bây giờ, chuẩn bị dạy Gadamer….. Nhưng cả tháng rồi ông mới xong triết học khoa học….

HỌC TẬP VÀ CHỨNG VĨ CUỒNG

Tâm thế nghiên cứu khoa học văn học hiện nay của chúng ta tồn tại một hiện tượng có tính nghịch lí. Một mặt, chúng ta đã có ý thức về việc phải học tập, tiếp thu các kiến thức khoa học văn học hiện đại, sau nhiều thập kỉ bó hẹp trong phạm vi học thuật xã hội chủ nghĩa. Nhưng mặt khác, chúng ta lại háo hức muốn ứng dụng, vận dụng, và có kết quả, thậm chí thành tựu ngay tức thì. Điều này dẫn đến thái độ không chú trọng, xem trọng việc học tập, giới thiệu, dịch thuật kiến thức một cách chính xác, hệ thống và trật tự. Thậm chí có người còn xem việc giới thiệu như thế là một dạng thuộc bài, học bài, nói lại…. Tâm thế này ít nhất gây ra hai hậu quả. Người giới thiệu kiến thức thì chỉ giới thiệu qua loa, thiếu chính xác, thiếu tính hệ thống và trật tự, do chưa đủ công phu học tập, nghiền ngẫm, hoặc khi giới thiệu thì cố gắng biến báo đi, phê phán, nhận xét, mà thực ra chủ yếu là bình tán một cách chủ quan, để nhằm thể hiện rằng mình không phải là kẻ “thuộc bài”. Người ứng dụng, vận dụng thậm chí cả lập thuyết thì tha hồ vung đao kiếm như chỗ không người, vì chẳng ai hiểu anh ta nói gì, mà có hiểu chút chút thì cũng không thể nói gì, vì chưa chắc anh ta có thể hiểu mình ở đâu và nói gì!

Tình trạng này còn được tiếp sức bằng việc ngày nay, nhìn chung ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận các tư liệu nước ngoài trên mạng, chỉ cần có chút ngoại ngữ, là có thể đọc được. Nó dẫn đến hậu quả là chúng ta mang ảo tưởng mình là người có tài liệu, và vì vậy, có kiến thức về vấn đề lí thuyết ấy. Thậm chí có người còn hoang đường đến mức là tự lập thuyết cho mình các loại “luận”, trên cơ sở xào nấu, bình tán vô tội vạ các triết gia nước ngoài…

Xem chừng căn bệnh mà ông Cao Xuân Hạo gọi là chứng “vĩ cuồng” không còn chỉ có ở một lớp người nào đó nữa.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 38 other followers