Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Cần gì lí thuyết!

Nếu hiểu lí thuyết từ cội nguồn của nó, là sự chiêm ngưỡng, nhìn ngắm các khái niệm, thì câu “cần gì lí thuyết” biểu hiện cho thái độ hoài nghi con đường khái quát hóa, con đường khái niệm hóa, con đường lí thuyết hóa của tư duy con người. Và rất vui là nó không có gì mới nhưng chỉ đôi khi xuất hiện trong hình thức không đích thực mà thôi.

Khi Plato, hiện thân mình trong những đối thoại Socrates, không ngừng đặt câu hỏi về phạm vi của những khái niệm, và thường là khi kết thúc, những đối thoại ấy không có câu trả lời xác quyết nào, cho ngay cả những khái niệm đơn giản như “tình bạn”, “sự dũng cảm”….; thì đó không chỉ là một nỗ lực lí thuyết, mà cũng chính là biểu hiện sâu sắc nhất cho sự hoài nghi lí thuyết.

Nói cách khác, sự hoài nghi lí thuyết và nỗ lực lí thuyết luôn đặt cơ sở trong nhau, trải suốt lịch sử và trong từng hành vi lí thuyết đích thực của con người, tuy rằng đôi lúc ta chỉ thấy, và chỉ nghĩ đến khía cạnh này, hoặc khía cạnh kia.

Sự hoài nghi lí thuyết đích thực nên là sự hoài nghi bằng một hành vi lí thuyết.

Cách thức nhà văn làm ta vui sướng (pleasure) với tác phẩm của họ là bí mật sâu thẳm nhất; căn bản của nghệ thuật thơ ca nằm trong kĩ thuật vượt qua xúc cảm đề kháng trong ta vốn tất yếu liên hệ với những sự ngăn cản sinh ra giữa cái tôi (ego) đơn lẻ và những kẻ khác (the others). Ta có thể đoán định hai phương pháp sử dụng kĩ thuật này. Nhà văn làm mềm mại đặc trưng cá biệt của những giấc mơ ban ngày của mình bằng cách biến đổi và ngụy trang nó, và lén đưa (bribe) cho ta dưới dạng hình thức đơn thuần – nghĩa là dưới dạng thẩm mỹ – món quà của niềm vui sướng (yield of pleasure) được dâng tặng bằng sự trình hiện những huyễn tưởng của họ. Ta đặt tên cho món quà là phần thưởng khuyến khích hay niềm vui thú có trước, theo cách đó, món quà gởi tặng cho ta để tạo khả năng phóng thích nhiềm sui sướng lớn hơn tiếp nối sinh ra từ nguồn cội tâm lý sâu hơn. Theo quan điểm của tôi, tất cả niềm vui sướng thẩm mỹ vốn là sáng tạo mà nhà văn ban cho ta có điểm đặc trưng của sự vui sướng có trước thuộc loại trên, và sự thích thú thực sự của ta về tác phẩm tưởng tượng bắt nguồn từ sự giải phóng những độ căng (tensions) trong tâm thức của ta. Có lẽ phần nhiều những tác động này là nhằm kết nối người viết với ta để ta có được giấc mơ ban ngày của riêng mình mà không tự trách mình hay xấu hổ. Điều này đem lại cho ta ngưỡng (threshold) mới [của tâm thức], những đòi hỏi trở nên phức tạp và thú vị; nhưng cũng vì thế, hay ít nhất ở thời điểm này, kết thúc những bàn luận của ta. Sigmund Freud.

“Schleiermacher xem mình như là người đề xuất một thông diễn học chung hay một thông diễn học phổ quát mới, tức là hợp nhất và tôn tạo các quy tắc cụ thể của thông diễn học luật học, thông diễn học thánh điển và thông diễn học ngữ văn. Ông đã phê bình và chỉnh sửa các tiền bối của ông, Friedrich Ast và Friedrich A. Wolf, về việc đã giới hạn thông diễn học vào việc nghiên cứu các ngôn ngữ cổ. Ngay cả giờ đây khi ta nghĩ rằng Schleiermacher không phải là người đầu tiên phát triển một lý thuyết phổ quát, thì chính Schleiermacher và truyền thống [thông diễn học] mà ta kế thừa đã từng xem thông diễn học của ông như là một lý thuyết phổ quát đầu tiên. Schleiermacher cho rằng “thông diễn học với tính cách như một nghệ thuật hiểu không còn tồn tại theo dạng thức chung nữa, thay vào đó chỉ còn những hình thức khác nhau của thông diễn học đặc thù” (HC: 5). Các quy tắc cụ thể của sự lý giải vận dụng vào trong các lý thuyết thông diễn học đặc thù khác biệt cần đến một sự biện luận trong một lý thuyết phổ quát của sự lý giải.

NGHỆ THUẬT HIỂU

Thông diễn học là nghệ thuật hiểu. Với chữ “nghệ thuật”, Schleiermacher không có ý muốn nói rằng thông diễn học là thuần túy chủ quan, thuần túy là một quá trình sáng tạo. Mà ngược lại, vào thời đó, chữ “nghệ thuật” bao gồm một nghĩa được hiểu chung là cách thức để làm cái gì, tức là có liên quan đến nghĩa của các chữ “các nghệ thuật có tính chất kĩ thuật” và “các nghệ thuật hoàn hảo”. Với tính cách như là một nghệ thuật, thông diễn học bao gồm các quy tắc phương pháp luận nhưng sự vận dụng của chúng không phải là vị quy tắc, như thể là một trường hợp trong một phương sách có tính chất kỹ thuật. Schleiermacher cho rằng “Mọi ngôn ngữ cá biệt có lẽ là có thể được hiểu bằng những quy tắc, và cái gì được hiểu theo cách này là chủ nghĩa kỹ thuật. Phải thừa nhận rằng nghệ thuật là cái gì có các quy tắc nhưng sự vận dụng kết hợp các quy tắc này không thể trở thành vị quy tắc”. (HC: 229). Schleiermacher đối lập thông diễn học xét như nghệ thuật hiểu với nghệ thuật nói, tức là tu từ học và nghệ thuật xử lý sự ngoại hiện hóa tư tưởng. Việc nói chuyển đổi tư tưởng bên trong thành sự biểu hiện ngoại hiện của nó qua ngôn ngữ, trong khi đó thông diễn học chuyển đổi sự biểu hiện ngoại hiện trở về tư tưởng với tính cách là ý nghĩa của sự biểu hiện đó. “Không ai có thể suy tư mà không có từ ngữ. Không có từ ngữ thì tư tưởng không thể hoàn tất và rõ ràng”. (HC: 8).
Thông diễn học là nghệ thuật hiểu nên mục đích của thực hành thông diễn là nhằm hiểu chính xác những gì người nói phát biểu, đặc biệt là qua hình thức viết. “Mỗi lời nói có một quan hệ kép, quan hệ với tính toàn thể của ngôn ngữ và quan hệ với toàn bộ tư tưởng của người sáng tạo ra nó” (nt). Nói hoặc viết một điều gì đó đặt cơ sở trong một ngôn ngữ cụ thể. Các tư tưởng rõ ràng chỉ diễn ra, như Schleiermacher nói, khi các từ ngữ chính xác được tìm thấy. Vì ngôn ngữ truyền thông phải trở thành dễ hiểu đối với cả người nói lẫn người nghe. Từ ngữ chỉ có nghĩa của chúng trong quan hệ với từ ngữ khác của ngôn ngữ đó. Một từ không chỉ có một nghĩa, tức là không chỉ biểu hiện một đối tượng. “Ngôn ngữ là không hạn định vì mỗi yếu tố được xác định một cách cụ thể bằng những yếu tố khác” (HC:11). Vì tính liên hệ này mà mỗi lời nói ít nhất liên hệ một cách gián tiếp đến toàn bộ những từ ngữ khác, và vì thế liên hệ đến tính toàn thể của ngôn ngữ này vào thời điểm nói. Dù cho ngôn ngữ của người nói được ấn định trước khi tư tưởng của anh ta sinh thành, thì những tư tưởng mới vẫn có thể được phát biểu bằng một cách thức duy nhất trong đó người nói sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu đã được đặt định trước. Vì một số lí do khác nhau, người nói cố gắng truyền đạt tư tưởng cụ thể, vốn dĩ liên quan đến các tư tưởng khác của anh ta. Hoạt động nói này xảy ra trong đời sống của người nói, và do đó, nó quan hệ một cách gián tiếp tới đời sống cá nhân riêng tư, vốn tự nó là một phần của xã hội trong một thời điểm cụ thể. “Mỗi ngôn ngữ được sử dụng chỉ có thể được hiểu thông qua dân tộc và vùng lãnh thổ của chúng” (HC:9).
Thông diễn học với tính cách như việc hiểu các phát biểu bằng ngôn ngữ có thể hiểu được thì bao gồm toàn bộ các chuẩn tắc, nhưng Schleiermacher giới hạn lĩnh vực của thông diễn học. Ta đã từng lưu ý rằng tu từ học liên quan đến việc phát biểu các tư tưởng bằng ngôn ngữ, do đó thông diễn học là quá trình đảo ngược thông qua việc khám phá các tư tưởng hàm ẩn trong phát biểu. Phê bình, vốn cũng đã được Schleiermacher bàn đến, được kết nối với các phán đoán về tính xác thực của một phần hoặc toàn bộ văn bản. Rõ ràng là thông diễn học và phê bình đặt cơ sở trong nhau, do đó ta phải có văn bản chính xác để hiểu và phân tích một cách trọn vẹn những gì tác giả biểu đạt, nhưng để phán đoán tính xác thực của một văn bản, trước tiên ta phải hiểu nó. Schleiermacher quy tính tiên nghiệm cho nỗ lực thông diễn vì một số hoạt động hiểu một văn bản phải được diễn ra trước khi có thể thực hiện bất kì một phán đoán nào liên quan đến tính xác thực của văn bản. Sự vận dụng, có vai trò là sự trình bày và chứng minh về việc hiểu của ta, chỉ là việc phát biểu về cái mà ta đã hiểu theo hình thức thông diễn.
Thông diễn học với tính cách là nghệ thuật hiểu các lời nói trong các mặt kép của chúng, vì thế nó có hai phần: phần ngữ pháp, tức là lý giải lời nói như nó xuất phát từ ngôn ngữ, và phần kỹ thuật hay tâm lý học, tức là lý giải lời nói “như là một sự kiện trong con người tư duy” (HC:8). Schleiermacher gán phần thứ hai này cho cả hai thuật ngữ, “kỹ thuật” và “tâm lý”, nhưng xem ra cuối cùng ông đã lựa chọn từ “tâm lý”, cũng là từ sẽ được ta sử dụng ở đây. Thông diễn học yêu cầu cả lý giải ngữ pháp lẫn lý giải tâm lý. Schleiermacher cho rằng nhìn chung sẽ sai lầm nếu thiết lập sự lý giải tâm lý vượt qua sự lý giải ngữ pháp; ngược lại tính tiên nghiệm đặt cơ sở trong mục đích của sự lý giải. Nếu ta chủ yếu quan tâm đến ngôn ngữ như thể nó là phương tiện cho sự truyền đạt cá nhân các tư tưởng của người nói, thì lý giải tâm lý sẽ trở nên quan trọng hơn. Ngược lại, nếu ta xem ngôn ngữ ở vai trò nó thiết định việc suy tưởng của cá nhân trong một thời điểm cụ thể, thì mặt ngữ pháp sẽ chiếm ưu thế. Tuy vậy, cả lý giải ngữ pháp lẫn lý giải tâm lý đều luôn yêu cầu một trình độ nào đó; đối với việc chỉ sử dụng lý giải ngữ pháp, ngầm ý rằng ta hiểu biết trọn vẹn về ngôn ngữ, trong khi chỉ sử dụng lý giải tâm lý ngầm ý rằng ta hiểu biết trọn vẹn về con người. Tuy nhiên, cả hai điều này đều không thể xảy ra. Do đó, “ta phải di chuyển từ cái này đến cái kia, và không có quy tắc nào đem lại cho ta cách thức để tiến hành điều này” (HC: 11). Đó là lý do tại sao thông diễn học còn là một nghệ thuật.

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Lawrence K. Schmidt, 2006, Understanding Hermeneutics.

Khó khăn nhất của một người được đào tạo từ nhà trường Việt Nam như tôi hiện nay khi phải tiếp cận với một lí thuyết nào đó của Phương Tây là cách tư duy trong hệ thống khái niệm của nó. Tất nhiên, ngoại ngữ hay tài liệu cũng là những khó khăn đáng kể, nhưng đó là chuyện khác. Sau đây tôi chia sẻ vài bài học mà tôi học được từ thầy và sư huynh, khả dĩ khắc phục khó khăn này.

1/ Đọc từ nguồn ảnh hưởng và phê phán. Một lí thuyết được hình thành và phát triển từ các nguồn ảnh hưởng và bằng cách nó phê phán góc nhìn trước đó. Nắm được nguồn ảnh hưởng và phê phán thì ta nắm được tính lịch sử của lí thuyết. Gadamer ảnh hưởng Heidegger và phê phán Kant. Jauss ảnh hưởng Gadamer và phê phán quan niệm về lịch sử [có tính] khách quan. Điều quan trọng trong cách đọc này là nắm được ảnh hưởng từ cái gì và phê phán bằng cái gì. Từ cái ảnh hưởng đến cái dùng phê phán là một khoảng cách. Khoảng cách ấy là chỗ mới của sự thay đổi lí thuyết. Jauss giải thích lại khái niệm logic của câu hỏi và câu trả lời của Collingwood để xoay chuyển cái vòng tuần hoàn thông diễn giữa quá khứ và hiện tại của Gadamer, vốn là thứ mà ông ảnh hưởng Gadamer. Sự giải thích lại này là cái khoảng cách ấy. Xét cho đến tận cùng, nó là đầu mối cho sự phát triển lí thuyết của Jauss.

2/ Đọc từ khởi nguyên. Các lí thuyết được hoàn thiện bằng các công trình tổng kết, hệ thống hóa; nhưng để hiểu được phần xương cốt của nó, phải theo dõi nó từ khởi nguyên. Tất nhiên, đây là các công trình đề xuất lí thuyết, không phải công trình dẫn nhập hay phân tích hay miêu tả. Nhiều khi khởi nguyên của một cuốn sách là một vài bài báo phân tích trường hợp. Iser phân tích các trường hợp văn xuôi trước khi đề xuất lí thuyết của ông ấy. Fish cũng vậy. Jauss làm một luận văn hậu tiến sĩ phân tích các văn bản văn học trung cổ trước khi tuyên bố về một phương pháp viết lịch sử văn học mới. Nhất thiết phải đọc những công trình khởi nguyên này. Một lí thuyết bao giờ cũng hình thành từ một góc nhìn, một phương pháp, vận dụng vào một số trường hợp cụ thể. Quan sát hết tất cả, ta sẽ biết được ưu và khuyết của nó.

3/ Đọc bằng khái niệm. Mọi sự mở rộng và phát triển hay đề xuất lí thuyết, xét cho cùng đều là sự mở rộng, phát triển hay đề xuất khái niệm. Bản đồ một lí thuyết, xét cho cùng là bản đồ các khái niệm của lí thuyết ấy. Các khái niệm có liên quan với nhau nằm cùng hệ thống thì soi sáng cho nhau. Một khái niệm xuyên qua các hệ thống thì cho thấy khả năng đa dạng của nó, và có thể được mở rộng sang các hệ thống mới. Khái niệm “horizon” đi từ triết học, thông diễn học đến xã hội học rồi đến lí thuyết văn học. Mỗi lần chuyển hệ thống, nó lại tăng thêm các phạm vi vận dụng. Đến “horizon of expectations” của Jauss thì có các phạm vi triết học hiện tượng học, thông diễn học triết học, xã hội học nhận thức… trong đó rồi.

Và cuối cùng, không liên quan nhưng rất quan trọng, hãy đọc toàn bộ trước khi nói về nó, hay ít ra, là toàn bộ những công trình chủ chốt.
Thầy tôi nói tôi rằng, này, chỉ người đọc toàn bộ công trình quan trọng của Kant thì mới được quyền nói về Kant. Nên khi tôi làm luận văn sử dụng lí thuyết của Jauss, điều đầu tiên tôi làm là thực hiện một cái chuyên đề về Jauss: “Jauss đã nói gì về hành trình lí thuyết của ông”. Một cái nhan đề rất chuối, giống kiểu Ngọc Trinh nói gì về bạn trai của mình! Nhưng sau gần 5 năm, tôi thấy đó là cái chuyên đề hữu ích nhất. Còn lại, dù rất tiện dụng cho luận văn, nhưng đều chuối cả.

“Văn học là một loại nghệ thuật động ảnh (kinetic art) nhưng với hình thức vật lý nó đảm nhận việc ngăn ta thôi không xem xét bản tính bản chất của nó, ngay cả khi ta trải nghiệm nó là như thế. Sự tiện lợi của một cuốn sách đối với đôi tay, sự hiện diện của nó trên kệ, danh mục của nó trong catalogue thư viện – tất cả những điều này khiến ta nghĩ về nó như là một đối tượng tĩnh tại. Không hiểu sao khi đặt cuốn sách xuống, ta lại quên rằng trong khi ta đang đọc, thì nó chuyển động (các trang sách được lật, các dòng chữ lùi dần vào quá khứ) và quên rằng ta cũng chuyển động cùng với nó.
Nhà phê bình nào cho rằng “bài thơ tự nó như một đối tượng của phán đoán phê bình cá biệt” thì đã đưa sự lãng quên này thành một nguyên tắc; nó biến đổi kinh nghiệm có tính thời gian thành một kinh nghiệm có tính không gian; nó bước lùi lại và bằng một cái nhìn lướt đơn giản đã thâu gồm cái toàn bộ (câu văn, trang sách, tác phẩm) vốn được người đọc nhận biết (nếu được chút nào đó) chỉ dần dần, từng bước một”. Stansley Fish.

Đọc và thiền, why not?

“Đọc là sự tìm kiếm cá nhân câu trả lời cho những câu hỏi liên quan đến một chiêm nghiệm triết lý về cuộc sống, gia nhập vào một chuỗi những nhiệm vụ được thiết lập cho việc giải thoát bản thân người đọc khỏi xác thịt vật chất, cảm tính và hoàn cảnh sống, như là bước đầu tiên trong việc đạt đến trạng thái buông bỏ (detachment) vốn có vai trò thiết yếu đối với sự tự tri đích thực (valid self-knowledge)” Brian Stock.

‘Đọc một văn bản như là văn học không phải là biến trí óc của ta thành một tấm bảng trắng và rồi tiếp cận văn bản mà không có các quan niệm có trước làm tiền đề; mà ngược lại, ta phải đưa vào văn bản sự hiểu có sẵn về các tổ chức của diễn ngôn văn học, vốn dĩ cho ta biết điều ta chờ đợi hay tìm kiếm trong văn bản’. Jonathan Culler, 1975, Structuralist Poetics, Cornell University Press.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 48 other followers