Feeds:
Bài viết
Phản hồi

“Schleiermacher xem mình như là người đề xuất một thông diễn học chung hay một thông diễn học phổ quát mới, tức là hợp nhất và tôn tạo các quy tắc cụ thể của thông diễn học luật học, thông diễn học thánh điển và thông diễn học ngữ văn. Ông đã phê bình và sửa chữa các tiền bối của ông, Friedrich Ast và Friedrich A. Wolf, về việc đã giới hạn thông diễn học vào việc nghiên cứu các ngôn ngữ cổ. Ngay cả giờ đây khi ta nghĩ rằng Schleiermacher không phải là người đầu tiên phát triển một lý thuyết phổ quát, thì chính Schleiermacher và truyền thống [thông diễn học] mà ta kế thừa đã từng xem thông diễn học của ông như là một lý thuyết phổ quát đầu tiên. Schleiermacher cho rằng “thông diễn học với tính cách như một nghệ thuật hiểu không còn tồn tại theo dạng thức chung nữa, thay vào đó chỉ còn những hình thức khác nhau của thông diễn học đặc thù” (HC: 5). Các quy tắc cụ thể của sự lý giải vận dụng vào trong các lý thuyết thông diễn học đặc thù khác biệt cần đến một sự biện luận trong một lý thuyết phổ quát của sự lý giải.

NGHỆ THUẬT HIỂU

Thông diễn học là nghệ thuật hiểu. Với chữ “nghệ thuật”, Schleiermacher không có ý muốn nói rằng thông diễn học là thuần túy chủ quan, thuần túy là một quá trình sáng tạo. Mà ngược lại, vào thời đó, chữ “nghệ thuật” bao gồm một nghĩa được hiểu chung là cách thức để làm cái gì, tức là có liên quan đến nghĩa của các chữ “các nghệ thuật có tính chất kĩ thuật” và “các nghệ thuật hoàn hảo”. Với tính cách như là một nghệ thuật, thông diễn học bao gồm các quy tắc phương pháp luận nhưng sự vận dụng của chúng không phải là vị quy tắc, như thể là một trường hợp trong một phương sách có tính chất kỹ thuật. Schleiermacher cho rằng “Mọi ngôn ngữ cá biệt có lẽ là có thể được hiểu bằng những quy tắc, và cái gì được hiểu theo cách này là chủ nghĩa kỹ thuật. Phải thừa nhận rằng nghệ thuật là cái gì có các quy tắc nhưng sự vận dụng kết hợp các quy tắc này không thể trở thành vị quy tắc”. (HC: 229). Schleiermacher đối lập thông diễn học xét như nghệ thuật hiểu với nghệ thuật nói, tức là tu từ học và nghệ thuật xử lý sự ngoại hiện hóa tư tưởng. Việc nói chuyển đổi tư tưởng bên trong thành sự biểu hiện ngoại hiện của nó qua ngôn ngữ, trong khi đó thông diễn học chuyển đổi sự biểu hiện ngoại hiện trở về tư tưởng với tính cách là ý nghĩa của sự biểu hiện đó. “Không ai có thể suy tư mà không có từ ngữ. Không có từ ngữ thì tư tưởng không thể hoàn tất và rõ ràng”. (HC: 8).
Thông diễn học là nghệ thuật hiểu nên mục đích của thực hành thông diễn là nhằm hiểu chính xác những gì người nói phát biểu, đặc biệt là qua hình thức viết. “Mỗi lời nói có một quan hệ kép, quan hệ với tính toàn thể của ngôn ngữ và quan hệ với toàn bộ tư tưởng của người sáng tạo ra nó” (nt). Nói hoặc viết một điều gì đó đặt cơ sở trong một ngôn ngữ cụ thể. Các tư tưởng rõ ràng chỉ diễn ra, như Schleiermacher nói, khi các từ ngữ chính xác được tìm thấy. Vì ngôn ngữ truyền thông phải trở thành dễ hiểu đối với cả người nói lẫn người nghe. Từ ngữ chỉ có nghĩa của chúng trong quan hệ với từ ngữ khác của ngôn ngữ đó. Một từ không chỉ có một nghĩa, tức là không chỉ biểu hiện một đối tượng. “Ngôn ngữ là không hạn định vì mỗi yếu tố được xác định một cách cụ thể bằng những yếu tố khác” (HC:11). Vì tính liên hệ này mà mỗi lời nói ít nhất liên hệ một cách gián tiếp đến toàn bộ những từ ngữ khác, và vì thế liên hệ đến tính toàn thể của ngôn ngữ này vào thời điểm nói. Dù cho ngôn ngữ của người nói được ấn định trước khi tư tưởng của anh ta sinh thành, thì những tư tưởng mới vẫn có thể được phát biểu bằng một cách thức duy nhất trong đó người nói sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu đã được đặt định trước. Vì một số lí do khác nhau, người nói cố gắng truyền đạt tư tưởng cụ thể, vốn dĩ liên quan đến các tư tưởng khác của anh ta. Hoạt động nói này xảy ra trong đời sống của người nói, và do đó, nó quan hệ một cách gián tiếp tới đời sống cá nhân riêng tư, vốn tự nó là một phần của xã hội trong một thời điểm cụ thể. “Mỗi ngôn ngữ được sử dụng chỉ có thể được hiểu thông qua dân tộc và vùng lãnh thổ của chúng” (HC:9).
Thông diễn học với tính cách như việc hiểu các phát biểu bằng ngôn ngữ có thể hiểu được thì bao gồm toàn bộ các chuẩn tắc, nhưng Schleiermacher giới hạn lĩnh vực của thông diễn học. Ta đã từng lưu ý rằng tu từ học liên quan đến việc phát biểu các tư tưởng bằng ngôn ngữ, do đó thông diễn học là quá trình đảo ngược thông qua việc khám phá các tư tưởng hàm ẩn trong phát biểu. Phê bình, vốn cũng đã được Schleiermacher bàn đến, được kết nối với các phán đoán về tính xác thực của một phần hoặc toàn bộ văn bản. Rõ ràng là thông diễn học và phê bình đặt cơ sở trong nhau, do đó ta phải có văn bản chính xác để hiểu và phân tích một cách trọn vẹn những gì tác giả biểu đạt, nhưng để phán đoán tính xác thực của một văn bản, trước tiên ta phải hiểu nó. Schleiermacher quy tính tiên nghiệm cho nỗ lực thông diễn vì một số hoạt động hiểu một văn bản phải được diễn ra trước khi có thể thực hiện bất kì một phán đoán nào liên quan đến tính xác thực của văn bản. Sự vận dụng, có vai trò là sự trình bày và chứng minh về việc hiểu của ta, chỉ là việc phát biểu về cái mà ta đã hiểu theo hình thức thông diễn.
Thông diễn học với tính cách là nghệ thuật hiểu các lời nói trong các mặt kép của chúng, vì thế nó có hai phần: phần ngữ pháp, tức là lý giải lời nói như nó xuất phát từ ngôn ngữ, và phần kỹ thuật hay tâm lý học, tức là lý giải lời nói “như là một sự kiện trong con người tư duy” (HC:8). Schleiermacher gán phần thứ hai này cho cả hai thuật ngữ, “kỹ thuật” và “tâm lý”, nhưng xem ra cuối cùng ông đã lựa chọn từ “tâm lý”, cũng là từ sẽ được ta sử dụng ở đây. Thông diễn học yêu cầu cả lý giải ngữ pháp lẫn lý giải tâm lý. Schleiermacher cho rằng nhìn chung sẽ sai lầm nếu thiết lập sự lý giải tâm lý vượt qua sự lý giải ngữ pháp; ngược lại tính tiên nghiệm đặt cơ sở trong mục đích của sự lý giải. Nếu ta chủ yếu quan tâm đến ngôn ngữ như thể nó là phương tiện cho sự truyền đạt cá nhân các tư tưởng của người nói, thì lý giải tâm lý sẽ trở nên quan trọng hơn. Ngược lại, nếu ta xem ngôn ngữ ở vai trò nó thiết định việc suy tưởng của cá nhân trong một thời điểm cụ thể, thì mặt ngữ pháp sẽ chiếm ưu thế. Tuy vậy, cả lý giải ngữ pháp lẫn lý giải tâm lý đều luôn yêu cầu một trình độ nào đó; đối với việc chỉ sử dụng lý giải ngữ pháp, ngầm ý rằng ta hiểu biết trọn vẹn về ngôn ngữ, trong khi chỉ sử dụng lý giải tâm lý ngầm ý rằng ta hiểu biết trọn vẹn về con người. Tuy nhiên, cả hai điều này đều không thể xảy ra. Do đó, “ta phải di chuyển từ cái này đến cái kia, và không có quy tắc nào đem lại cho ta cách thức để tiến hành điều này” (HC: 11). Đó là lý do tại sao thông diễn học còn là một nghệ thuật.

Hoàng Phong Tuấn dịch từ: Lawrence K. Schmidt, 2006, Understanding Hermeneutics.

Khó khăn nhất của một người được đào tạo từ nhà trường Việt Nam như tôi hiện nay khi phải tiếp cận với một lí thuyết nào đó của Phương Tây là cách tư duy trong hệ thống khái niệm của nó. Tất nhiên, ngoại ngữ hay tài liệu cũng là những khó khăn đáng kể, nhưng đó là chuyện khác. Sau đây tôi chia sẻ vài bài học mà tôi học được từ thầy và sư huynh, khả dĩ khắc phục khó khăn này.

1/ Đọc từ nguồn ảnh hưởng và phê phán. Một lí thuyết được hình thành và phát triển từ các nguồn ảnh hưởng và bằng cách nó phê phán góc nhìn trước đó. Nắm được nguồn ảnh hưởng và phê phán thì ta nắm được tính lịch sử của lí thuyết. Gadamer ảnh hưởng Heidegger và phê phán Kant. Jauss ảnh hưởng Gadamer và phê phán quan niệm về lịch sử [có tính] khách quan. Điều quan trọng trong cách đọc này là nắm được ảnh hưởng từ cái gì và phê phán bằng cái gì. Từ cái ảnh hưởng đến cái dùng phê phán là một khoảng cách. Khoảng cách ấy là chỗ mới của sự thay đổi lí thuyết. Jauss giải thích lại khái niệm logic của câu hỏi và câu trả lời của Collingwood để xoay chuyển cái vòng tuần hoàn thông diễn giữa quá khứ và hiện tại của Gadamer, vốn là thứ mà ông ảnh hưởng Gadamer. Sự giải thích lại này là cái khoảng cách ấy. Xét cho đến tận cùng, nó là đầu mối cho sự phát triển lí thuyết của Jauss.

2/ Đọc từ khởi nguyên. Các lí thuyết được hoàn thiện bằng các công trình tổng kết, hệ thống hóa; nhưng để hiểu được phần xương cốt của nó, phải theo dõi nó từ khởi nguyên. Tất nhiên, đây là các công trình đề xuất lí thuyết, không phải công trình dẫn nhập hay phân tích hay miêu tả. Nhiều khi khởi nguyên của một cuốn sách là một vài bài báo phân tích trường hợp. Iser phân tích các trường hợp văn xuôi trước khi đề xuất lí thuyết của ông ấy. Fish cũng vậy. Jauss làm một luận văn hậu tiến sĩ phân tích các văn bản văn học trung cổ trước khi tuyên bố về một phương pháp viết lịch sử văn học mới. Nhất thiết phải đọc những công trình khởi nguyên này. Một lí thuyết bao giờ cũng hình thành từ một góc nhìn, một phương pháp, vận dụng vào một số trường hợp cụ thể. Quan sát hết tất cả, ta sẽ biết được ưu và khuyết của nó.

3/ Đọc bằng khái niệm. Mọi sự mở rộng và phát triển hay đề xuất lí thuyết, xét cho cùng đều là sự mở rộng, phát triển hay đề xuất khái niệm. Bản đồ một lí thuyết, xét cho cùng là bản đồ các khái niệm của lí thuyết ấy. Các khái niệm có liên quan với nhau nằm cùng hệ thống thì soi sáng cho nhau. Một khái niệm xuyên qua các hệ thống thì cho thấy khả năng đa dạng của nó, và có thể được mở rộng sang các hệ thống mới. Khái niệm “horizon” đi từ triết học, thông diễn học đến xã hội học rồi đến lí thuyết văn học. Mỗi lần chuyển hệ thống, nó lại tăng thêm các phạm vi vận dụng. Đến “horizon of expectations” của Jauss thì có các phạm vi triết học hiện tượng học, thông diễn học triết học, xã hội học nhận thức… trong đó rồi.

Và cuối cùng, không liên quan nhưng rất quan trọng, hãy đọc toàn bộ trước khi nói về nó, hay ít ra, là toàn bộ những công trình chủ chốt.
Thầy tôi nói tôi rằng, này, chỉ người đọc toàn bộ công trình quan trọng của Kant thì mới được quyền nói về Kant. Nên khi tôi làm luận văn sử dụng lí thuyết của Jauss, điều đầu tiên tôi làm là thực hiện một cái chuyên đề về Jauss: “Jauss đã nói gì về hành trình lí thuyết của ông”. Một cái nhan đề rất chuối, giống kiểu Ngọc Trinh nói gì về bạn trai của mình! Nhưng sau gần 5 năm, tôi thấy đó là cái chuyên đề hữu ích nhất. Còn lại, dù rất tiện dụng cho luận văn, nhưng đều chuối cả.

“Văn học là một loại nghệ thuật động ảnh (kinetic art) nhưng với hình thức vật lý nó đảm nhận việc ngăn ta thôi không xem xét bản tính bản chất của nó, ngay cả khi ta trải nghiệm nó là như thế. Sự tiện lợi của một cuốn sách đối với đôi tay, sự hiện diện của nó trên kệ, danh mục của nó trong catalogue thư viện – tất cả những điều này khiến ta nghĩ về nó như là một đối tượng tĩnh tại. Không hiểu sao khi đặt cuốn sách xuống, ta lại quên rằng trong khi ta đang đọc, thì nó chuyển động (các trang sách được lật, các dòng chữ lùi dần vào quá khứ) và quên rằng ta cũng chuyển động cùng với nó.
Nhà phê bình nào cho rằng “bài thơ tự nó như một đối tượng của phán đoán phê bình cá biệt” thì đã đưa sự lãng quên này thành một nguyên tắc; nó biến đổi kinh nghiệm có tính thời gian thành một kinh nghiệm có tính không gian; nó bước lùi lại và bằng một cái nhìn lướt đơn giản đã thâu gồm cái toàn bộ (câu văn, trang sách, tác phẩm) vốn được người đọc nhận biết (nếu được chút nào đó) chỉ dần dần, từng bước một”. Stansley Fish.

Đọc và thiền, why not?

“Đọc là sự tìm kiếm cá nhân câu trả lời cho những câu hỏi liên quan đến một chiêm nghiệm triết lý về cuộc sống, gia nhập vào một chuỗi những nhiệm vụ được thiết lập cho việc giải thoát bản thân người đọc khỏi xác thịt vật chất, cảm tính và hoàn cảnh sống, như là bước đầu tiên trong việc đạt đến trạng thái buông bỏ (detachment) vốn có vai trò thiết yếu đối với sự tự tri đích thực (valid self-knowledge)” Brian Stock.

‘Đọc một văn bản như là văn học không phải là biến trí óc của ta thành một tấm bảng trắng và rồi tiếp cận văn bản mà không có các quan niệm có trước làm tiền đề; mà ngược lại, ta phải đưa vào văn bản sự hiểu có sẵn về các tổ chức của diễn ngôn văn học, vốn dĩ cho ta biết điều ta chờ đợi hay tìm kiếm trong văn bản’. Jonathan Culler, 1975, Structuralist Poetics, Cornell University Press.

LTS:
Tôi thích đọc những bài khởi nguyên của một lý thuyết/ của một sự chuyển hướng lý thuyết. Ở nơi đó, lý thuyết như dòng dung nham vừa trào ra từ một cơn chấn động của tư tưởng. Nó nóng bỏng, chưa được định hình, và vì thế, luôn tràn trề sức sống và đầy tham vọng muốn nuốt chửng, thiêu cháy mọi thứ phía trước. Nó bất định, thiếu tính hệ thống, và vì thế, luôn tiềm ẩn nnhững kẽ hở; nói cách khác, nơi đó tính hệ thống của tư duy chưa kịp vá víu những rạn nứt vốn có của bất kỳ lý thuyết nào.

“Nếu ta nỗ lực tìm kiếm tính tất yếu lịch sử của sự môi giới (medium) văn học, một sự môi giới không còn độc quyền trong lĩnh vực giải trí và mua vui, và giờ đây đã bị sự cạnh tranh của truyền thông đại chúng làm cho còi cọc đi, thì ta buộc phải xuyên qua hình thức cũ của nó, chấp nhận mở rộng hơn những hình thức đã được hợp thức hóa: tính tự trị của nó, sự phản ánh có tính mô phỏng của nó về những hoàn cảnh xã hội, và thậm chí quyền lực phổ quát của nó trong việc kiến tạo thực tại, như chủ nghĩa Marx khai minh đã đề cập đến. Thế thì điểm trọng tâm ở đây là sự trang bị có tính nhân học của con người, những con người mà cuộc sống của họ được duy trì bằng trí tưởng tượng của họ.
Dù vậy, văn học cũng có một nền tảng cơ sở, một cơ sở của tính mềm dẻo (plasticity) chưa được xem là tiêu biểu, vốn tự biểu hiện trong sự tái định hình liên tục những mẫu hình mà con người chấp nhận, vốn đã bị điều kiện hóa về mặt văn hóa. Như là một sự môi giới của viết, văn học đem lại sự trình bày cái gì khác vẫn còn chưa được xem trọng. Điều này nổi lên như là sự phản chiếu tính mềm dẻo thuộc về con người ở thời điểm mà những chức năng trước đó của văn học đã bị vượt bỏ bởi những hình thức truyền thông khác. Nếu văn học tạo điều kiện cho những định hình bất tận của tính mềm dẻo thuộc về con người, thì nó biểu hiện cho động cơ căn bản của con người muốn biểu thị chính mình; bởi vì sự tự hiểu sinh ra từ việc vượt qua những giới hạn. Văn học khơi dậy tính mềm dẻo thuộc về con người cho sự hoàn tất khép kín của những mẫu hình, mà mỗi hành động đó của nó là một mệnh lệnh cho sự tự đối diện [của con người]. Như là một sự môi giới, văn học cho thấy rằng toàn bộ tính xác định chỉ là ảo tượng. Thậm chí nó hội nhập vào chính mình tính không đích thực của toàn bộ những mẫu hình thuộc về con người mà nó là tiêu biểu, vì đây là cách duy nhất nó đem lại diện mạo cho đặc điểm bất định của cái mà nó đang môi giới. Có lẽ đây là chân lý mà qua đó văn học đối lập với nhận thức rằng nó là một ảo tượng, bằng việc kháng cự lại sự xóa bỏ [nó] xét như [nó là] sự lừa dối đơn thuần. Nếu văn học cho thấy rằng tính mềm dẻo thuộc về con người được thôi thúc bởi một xu hướng vươn tới mẫu hình mà không bao giờ tự cầm tù trong bất kỳ mẫu hình nào đã đạt được, thì rõ ràng là văn học soi sáng nhiều cho cấu tạo nhân học của con người chúng ta….”

Nhát dao của Fish

Rốt cục thì, câu hỏi oái oăm từ một sinh viên trong lớp học của Fish vẫn còn treo lơ lửng trên đầu các lý thuyết gia tiếp nhận: “Có [tồn tại] văn bản nào trong lớp này không?”. Ngay cả đối với các lý thuyết gia vận dụng khoa học tự nhiên (y sinh học, khoa học não bộ và các thứ khác) cho nghiên cứu tiếp nhận, thì câu hỏi ấy (mà tiền đề của nó là luận đề nổi tiếng của Nietzsche: không có sự kiện, chỉ có sự lý giải) vẫn nêu ra nghi vấn đối với quan niệm của khoa học tự nhiên về sự tồn tại của sự kiện.

Sự kiện tồn tại như thế nào, nó tồn tại qua các bằng chứng có thể kiểm tra được (xung điện trong não nộ, các phản ứng điện hóa của các neuron thần kinh), hay tồn tại như là các mô hình logic về thế giới, hay tồn tại trong ngôn ngữ… hay ….; thì xét cho cùng, đó đều là những cách lý giải về tồn tại.

Fish quả không hổ danh là người đã đâm một nhát dao trí mạng vào lý thuyết tiếp nhận; và, người rèn con dao ấy, lại là Nietzsche.

Duy có điều, Fish đã dùng con dao mổ cá sấu của Nietzsche để đâm chết một con thằn lằn, làm cho nó nát bét ra, trước khi có thể biết chút gì đó về nó, như đực hay cái, chẳng hạn.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 46 other followers