Feeds:
Bài viết
Bình luận

VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Adam tỉnh dậy, nhận ra một bên ngực và sườn của mình đã rỗng toác. Tiếng Thượng Đế vang lên trong đầu: ta ban cho con người đàn bà này từ thân thể con. Anh ngước nhìn lên. Đứng trước anh là sinh thể nhỏ nhắn đang nhoẻn miệng cười khóe miệng còn chưa khô vết máu.

*

“Không có quả táo như thế, chỉ có các ranh giới ở trong ngươi mà thôi”.
Con rắn nhìn sâu vào mắt người đàn ông. Đôi mắt mệt mỏi thoáng hướng lên bầu trời xanh như cảm nhận sự sâu thẳm khôn cùng của câu trả lời.
“Con người các ngươi được làm ra từ bụi đất, nhưng luôn bị dằn vặt bởi các giao ước. Tại sao lại như thế? Hãy tự đi tìm câu trả lời. Nó không có ở đây”.

*

Adam nhìn quả táo trên tay. Anh chẳng còn quan tâm con rắn đã nói những gì. Anh chỉ biết mình không thuộc về nơi này.
Nàng vẫn nhìn anh chờ đợi. “Nhưng rồi đây người ta sẽ chỉ nói về em”. “Em biết”. Nàng nhẹ nhàng trả lời và gục đầu vào vai anh.

 

AN THẢO

NGÔN TỪ

 

Ta quất vào nhau

những nhát roi

quá khứ

buồn nôn

nụ hôn

buổi chiều ngoảnh mặt

 

Ta đóng đinh vào tim nhau

những cơn đói

nhói đau

cống rãnh

ngày dài

 

Ta khoan vào tâm hồn nhau

giấc mơ

hoảng loạn

những con đường…

 

AN THẢO

“[…] Khi công trình về trung cổ học dẫn tôi đến vấn đề về vai trò nổi bật của chân trời, một vấn đề có tính chất thông diễn, và đưa tôi đến việc phê bình chủ thuyết truyền thống của ngữ văn học thực chứng, thì cố gắng ban đầu của tôi nhằm bổ sung sự hiểu biết của mình bằng một kế hoạch với mỹ học tiếp nhận của văn học (Lịch sử văn học như một thách thức, 1967) đã chuyển sang một tình huống hơi khác. Quan niệm về một lịch sử văn học mới sẽ mở ra một mối quan hệ xoay vòng ngắn ngủi giữa tác giả và cái thế giới trong đó bao gồm người tiếp nhận, và sau đó sẽ xây dựng nên một vị thế trung giới giữa quá khứ và hiện tại từ người đọc hoặc công chúng. Quan niệm này phải được xác định trong diện mạo của một ý tưởng nghi ngờ tính khách quan của lịch sử văn học cũ và những yêu sách của tính khách quan được tạo ra bởi cả hai đối thủ là chủ nghĩa cấu trúc và xã hội học về việc hiểu lịch sử. Điểm đặc trưng chính của vị thế này là sự biến đổi của những chân trời, một hệ hình mới được đưa vào trong nghiên cứu văn học hiện đại. Nó được minh họa trong những trường hợp lí tưởng nào đó qua những tác phẩm như Don QuixoteJacques le fataliste, những tác phẩm: “gợi lên chân trời của những chờ đợi của người đọc, được thiết lập bằng những quy ước về thể loại, phong cách hoặc hình thức, chỉ nhằm từng bước phá vỡ chúng, tức là không chỉ có vai trò nhằm phục vụ mục đích phê bình; mà có thể một lần nữa lại tạo ra những tác động thi ca”. Trong sự biến đổi chân trời giữa những chờ đợi sơ khởi và kinh nghiệm mới được nhận ra này, tôi nhận thức rõ nguyên lý trung giới thẩm mỹ trong tiến trình lịch sử văn học, dẫn đến sự biến đổi đích thực cái quy phạm bằng việc xét lại những quan niệm của chúng ta về toàn bộ tác phẩm quá khứ. Quan niệm này về sự biến đổi của những chân trời cũng cho phép tôi nhìn nhận được đặc trưng thẩm mỹ của một tác phẩm khi gắn liền với khoảng cách thẩm mỹ ngầm ẩn (tức là khoảng cách giữa sự chờ đợi và trải nghiệm, giữa truyền thống và sự cách tân), và cho phép tôi đối chiếu tính chất phủ định kiến tạo của nó với đặc điểm khẳng định của cái quy tắc dựa vào đặc tính của văn học tiêu thụ.

Công thức của tôi về hệ hình này rõ ràng chịu ảnh hưởng (qua vài sự đồng thuận vô thức) của quan niệm chủ nghĩa hình thức Nga rằng sự cách tân thẩm mỹ là tác nhân tạo thành cuộc cách mạng của văn học, và quan niệm về mỹ học phủ định của Adorno, theo đó một tác phẩm tự trị có thể có được chức năng xã hội bằng một sự phủ định nào đó đối với những quy tắc đang tồn tại. Xu hướng có tính chất hiện đại rõ ràng trong hệ hình đầu tiên của mỹ học tiếp nhận này tương ứng lập trường mà tôi nêu ra trong bài giảng nhậm chức ở Constanz, bài giảng đã gây một bất ngờ và gây ra một cuộc luận chiến sôi nổi. Nỗ lực của tôi nhằm đáp lại những lời phê bình đã cho phép tôi từng bước phát triển kế hoạch thứ nhất về mỹ học tiếp nhận trong sự đối thoại với họ và cho phép tôi thực hành thẩm tra kế hoạch này. Giai đoạn tiếp theo là nhằm giới thiệu khái niệm “chân trời chờ đợi” như là một phương sách cho sự phân tích kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc:

“Sự phân tích kinh nghiệm văn học của người đọc sẽ tránh được những cạm bẫy đe dọa của tâm lý học nếu nó mô tả sự tiếp nhận và sự ảnh hưởng của một tác phẩm trong một hệ thống được khách quan hóa của những chờ đợi sinh ra cho mỗi tác phẩm trong khoảnh khắc lịch sử nó xuất hiện, từ một sự thấu hiểu trước về thể loại từ hình thức và những chủ đề của những tác phẩm đã quen thuộc, và từ sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ hằng ngày”.

trực tiếp chống lại những người đã cho rằng một phân tích về kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc chắc chắn kết thúc ở chủ nghĩa chủ quan của phản ứng cá nhân (“bao nhiêu người đọc, bấy nhiêu cách lý giải”), hoặc trong chủ nghĩa tập thể của một xã hội học về thị hiếu, vị thế này tạo ra khả năng quan niệm về một kinh nghiệm văn học trong sự khác biệt có tính khách quan giữa sự chờ đợi có tính quy chuẩn và kinh nghiệm có tính sáng tạo; do đó nó mang nhiều tính văn học nội tại. Trong sự biến đổi các chân trời như vậy, khái niệm “chân trời chờ đợi” có sự thuận lợi trong việc không xét đến cái gì được gán cho sự ảnh hưởng của văn bản và cái gì được chiếm lĩnh bởi những người tiếp nhận ban đầu và về sau. Điều này đặt ra vấn đề sự phân biệt trong quá trình lịch sử văn học về hai khía cạnh của quan hệ giữa văn bản và người đọc: khía cạnh tác động như là nhân tố của sự thực tại hóa ý nghĩa được thiết định bởi văn bản; và khía cạnh tiếp nhận, như là một nhân tố của sự thực tại hóa ý nghĩa được thiết định bởi người nhận. Trong việc chống lại ý niệm cho rằng truyền thống văn học tự động tạo thành chính nó như là sự hợp nhất thụ động của một “sự hòa trộn các chân trời”, điều này trở nên cần thiết cho việc nhấn mạnh đặc tính sự kiện của tác phẩm văn học như là một mo-ment của một quá trình trong đó hai chân trời luôn tham gia vào trò chơi tương tác trong sự hợp nhất chủ động của việc hiểu. Nói cách khác, chân trời chờ đợi được khơi gợi qua việc tác phẩm thừa nhận hoặc vượt qua kinh nghiệm của người nhận. Sự tham gia chủ động của người đọc vào sự thực tại hóa tiến trình lịch sử của ý nghĩa (khả năng “tiếp nhận sáng tạo” của người đọc – Sartre) cũng bị bỏ quên một cách khó hiểu do vậy đã không trình bày lịch sử văn học như quá trình lịch sử tự trị mà ngược lại nhấn mạnh tính cục bộ của nó, ở nơi mà quan hệ riêng của nó với lịch sử chung bị xem như cốt để nắm bắt chức năng xã hội và năng lượng kiến tạo lịch sử của nó: “Chức năng xã hội của văn học chỉ tự biểu thị khả năng đích thực của nó ở nơi mà kinh nghiệm văn học của người đọc nằm trong/ nhập vào (enter into) chân trời chờ đợi của thực tiễn đời sống anh ta, nó thiết lập trước việc hiểu của anh ta về thế giới, và do vậy nó cũng có một sự tác động vào ứng xử xã hội của anh ta” (Lịch sử văn học như sự thách thức, trang 199). Trực tiếp hướng đến lý thuyết về sự mô phỏng, lý thuyết mà Lukács đã từng quan tâm trở lại nhưng đã bị đóng cứng vào trong cái vòng khép kín của mỹ học sáng tạo và biểu hiện, luận đề kết thúc bài giảng tại trường Constanz của tôi đòi hỏi quyền ưu tiên cho chức năng kiến tạo quy chuẩn của văn học so với chức năng trình bày của nó. Vấn đề còn để ngỏ ở đây là câu hỏi rằng chân trời chờ đợi của đời sống thực tiễn đã được đưa vào bằng cách nào, nếu không phải bằng sự quyết định âm thầm của những quyền lực kinh tế thì bằng những quan điểm có trước của quan hệ người, bằng những hứng thú, nhu cầu, mơ ước tiềm tàng của con người. Mặt còn lại cũng cần được xem xét là quan hệ giữa nó với chân trời kinh nghiệm thẩm mỹ. Một mối quan hệ như vậy có thể chỉ được làm sáng tỏ cùng với lập trường có tính chất thách thức mà tôi thiết lập trong phần kết của quyển Lịch sử văn học như sự thách thức. Ở đây, tôi đòi hỏi rằng văn học đương đại, cũng như trong quá khứ, có thể làm mới lại “lập trường kiên cố” của chúng và phá hủy những cấm kỵ đạo đức hiện hành. Điều này đòi hỏi phải có sự viết lại mỹ học tiếp nhận từ điểm nhìn văn học nội tại, bên trong lĩnh vực ảnh hưởng của thực tiễn xã hội và đòi hỏi tìm hiểu khi nào và bằng cách nào sự hiện thực hóa về mặt lịch sử của một tác phẩm văn học, thông qua sự tiếp nhận thụ động hay sáng tạo của người đọc, phản ứng lại với những tình thế xã hội, định giá những mâu thuẫn của chúng, và nỗ lực giải quyết chúng một cách có dự tính. Quan trọng hơn cả, điều này có nghĩa là đáp lời một cách nghiêm túc mối nghi ngờ có tính phê phán và có tính ý hệ rằng truyền thống văn học không có được đặc quyền phát triển trong sự tự do hoàn toàn mà có lẽ đã bị cưỡng ép và do vậy ta không thể tiền giả định một cách thuần túy tính chất trong suốt của giao tiếp văn học giữa con người và các thời đại, mà tìm cách giành lại nó từ diện mạo của một khuynh hướng của truyền thống là sáp nhập những gì pha tạp vào quy phạm cổ điển hài hòa […]”.

Trích dịch trong: James L. Machor và Philip Goldstein, 2001, Reception Study: From Literary Theory to Cultural Studies, Routledge, New York, từ trang 20.

 

SATAN

 

“Không có quả táo như thế, chỉ có các ranh giới ở trong ngươi mà thôi”.
Con rắn nhìn sâu vào mắt người đàn ông và nhận thấy đôi mắt mệt mỏi thoáng hướng lên bầu trời xanh như cảm nhận sự sâu thẳm khôn cùng của câu trả lời.
“Con người các ngươi được làm ra từ bụi đất, nhưng luôn bị dằn vặt bởi các giao ước. Tại sao lại như thế? Hãy tự đi tìm câu trả lời. Nó không có ở đây”.

An Thảo

ADAM

 

Adam nhìn quả táo trên tay. Anh chẳng còn quan tâm con rắn đã nói những gì. Anh chỉ biết mình không thuộc về nơi này.
Nàng vẫn nhìn anh chờ đợi. “Nhưng rồi đây người ta sẽ chỉ nói về em”. “Em biết”. Nàng nhẹ nhàng trả lời và gục đầu vào vai anh.

An Thảo

Buổi hội thảo đặt trọng tâm vào mối quan hệ giữa đọc và viết, chỉ dấu một nhận thức âm thầm có sẵn rằng hai loại hoạt động ngôn ngữ này kết nối chặt chẽ với nhau. Việc [buổi hội thảo được] tài trợ từ hai trung tâm nghiên cứu phản ánh sự thật rằng độ thập kỷ nay có rất nhiều tài liệu in ấn liên quan đến hai lĩnh vực này, và có nhiều dự án nghiên cứu khác nhau đang triển khai liên quan đến những mối quan hệ kết nối giữa chúng. Vậy thì tại sao bài thuyết trình của tôi lại bàn đến chuyện lý thuyết? Câu trả lời là bất kì dự án nghiên cứu nào, bất kì phương pháp dạy học nào, cũng đều đặt trên những loại tiền giả định nhận thức luận, và trong lĩnh vực này, [chúng đặt trên] một số mô hình của quá trình đọc và viết. Chúng ta cần liên tục xem xét kỹ lưỡng những tiền giả định làm cơ sở cho những thực hành của chúng ta, để thấy cách chúng quan hệ với tiền giả định khác, và với những mục đích giáo dục dài hạn của chúng ta.

Trong việc tóm tắt lại lý thuyết tương tạo (transaction) của tôi, tôi nhận thấy rằng thập niên vừa qua không khí quan tâm đến quan điểm này đã tăng lên. Để quy cho các lý thuyết gia và các nhà nghiên cứu khác nhau hay các công trình của họ tiếp cận hướng nghiên cứu về đọc và viết là có sự tương ứng [với nhau] thì tất phải bàn luận về những điểm đồng thuận và bất đồng thuận của họ. Mối quan tâm của tôi ở đây là bằng việc làm sáng tỏ những khuynh hướng chung ấy, trình bày một tiếp cận lý thuyết mạch lạc chặt chẽ đối với mối quan hệ giữa quá trình đọc và quá trình viết.

Mối quan hệ giữa đọc và viết nằm trong một mạng lưới của những tương ứng và khác biệt. Đọc và viết cùng có chung mối liên quan tất yếu đến các văn bản. Do vậy, cả hai đều thiếu những sự hỗ trợ phi ngôn từ cho giao tiếp mà người nói và người nghe có được. Tuy thế viết và đọc rõ ràng khác biệt với nhau ở chỗ người viết bắt đầu với trang giấy trắng và phải tạo ra một văn bản, trong khi đó người đọc bắt đầu với văn bản đã được in hay viết sẵn và phải tạo ra ý nghĩa. Tuy nhiên, điểm giống nhau được nhấn mạnh hiện nay là: người viết “soạn thảo” một văn bản với nghĩa được đặt ra sẵn rồi; người đọc, sau “người viết”, “soạn thảo” một ý nghĩa được lý giải. Phép ẩn dụ này, tuy [là một trường hợp] hữu dụng [để giải thích] cho những điểm giống nhau [giữa đọc và viết], nhưng lại che khuất đi những khác biệt nào đó ở hai cách thức soạn thảo. Ngược lại, hiện nay người ta ngày càng cho rằng việc đọc là một phần hữu cơ của quá trình viết. Nhưng việc đọc của người viết vừa đồng dạng vừa khác biệt với việc đọc của người đọc: tôi nhận thấy hai điểm khác nhau đặc thù đối với [việc đọc] của người viết. Hơn nữa, quan sát của tôi về quá trình viết và quá trình đọc sẽ thêm vào những chiều hướng khác cho những gì vốn mặc định trong những đối lập đã được thừa nhận chung kiểu như là “tính miêu tả/ tính thi ca” hay “văn học/ phi văn học”.

Hệ hình tương tạo

Những thuật ngữ ‘tương tạo’ (transaction) và ‘thuộc về/ có tính tương tạo’ (transactional) mà tôi sử dụng là phù hợp với sự thay đổi trong tư duy của thế kỷ XX hiện nay về mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên. Trong Knowing and the Known, John Dewey và Arthur F. Bentley chỉ ra rằng thuật ngữ “tương tác” (interaction) gắn bó quá chặt chẽ với nhị nguyên luận của triết học Decartes và vật lý học Newton, hệ hình xem xét con người và tự nhiên như hai thực thể tách biệt. Hệ hình mới hiện nay, phản ánh sự phát triển của thuyết Einstein và hạ nguyên tử trong vật lý học, nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa chúng. Nhà khoa học, “người quan sát”, theo cách diễn đạt của Niels Bohr, được xem như là một phần hữu cơ trong sự quan sát của anh ta” (1959, trang 210). Thay vì sự tách biệt, trong đó các thực thể đã được xác định sẵn tác động đến các thực thể khác (một “sự tương tác”), Dewey và Bentley (1949, trang 69) khẳng định rằng thuật ngữ “tương tạo” được sử dụng để làm rõ những mối quan hệ trong đó mỗi yếu tố đặt cơ sở và được đặt cơ sở cho/bởi yếu tố khác trong một tình hống tạo thành lẫn nhau. Điều này đòi hỏi sự tuyệt giao với những thói quen đã kiên cố của tư duy nhị nguyên luận cũ về kích thích-phản ứng, chủ thể-đối tượng, cá nhân-xã hội đem đến một đường lối nhận thức rằng những mối quan hệ như thế đặt định trong một ngữ cảnh vốn cũng thực hiện/ tác động sự kiện. Những hành vi và mối quan hệ của con người được xem như là những sự tương tạo trong đó cái cá nhân và các yếu tố xã hội, văn hóa và tự nhiên hòa lẫn vào nhau. Dạng thức tương tạo của tư duy dĩ nhiên là đã được đồng hóa một cách rõ ràng nhất trong sinh thái học. Những tác gia triết học và kí hiệu học ngày nay (chẳng hạn Bruner, 1986; Rorty, 1982; Toulmin, 1982), qua việc họ có thể bất đồng với những liên đới về siêu hình học, tìm thấy nó để tất yếu tiến đến việc thừa nhận hệ hình mới”.

(còn nữa)

[1]

Sáng nay bé bồ câu chuẩn bị đi siêu thị với mẹ. Bồ câu mẹ nhắc con:

  • Này con, nhớ thay quần áo đẹp nhé.

Bé bồ câu nũng nịu: “Mẹ ơi, con mặc đồ này thôi”. Bồ câu mẹ trìu mến nhìn con:

– Con ạ, đồ này là đồ ngủ. Con đi ra ngoài thì phải mặc đồ đẹp chứ. Con hãy tìm áo đầm đẹp để mặc.

Bé bồ câu vâng lời mẹ, chạy đi tìm đồ đẹp. Bé tìm trong tủ và trong ngăn kéo, nhưng vẫn không thấy đồ đẹp.

  • Mẹ ơi, đồ đẹp của con đâu cả rồi?
  • Đồ đẹp của con mẹ giặt hôm qua, vẫn còn phơi trên sân thượng chưa mang xuống.
  • Thế để con mang xuống giúp cho mẹ nhé.

Bé bồ câu chạy lon ton lên sân thượng và mang đồ xuống giúp mẹ. Mẹ khen bé rất ngoan. Rồi bé chọn mặc áo đầm đẹp để cùng mẹ đi siêu thị.

Khi bé vào siêu thị, cô nhân viên nhìn bé cười và khen.

  • Bé bồ câu hôm nay đẹp quá!

Câu hỏi:

  1. Lúc đầu, bé bồ câu muốn mặc gì khi đi siêu thị?
  2. Bồ câu mẹ nhắc bé điều gì?
  3. Vì sao bé bồ câu được mẹ khen?
  4. Con sẽ mặc đồ gì khi đi siêu thị, đi công viên chơi với ba mẹ,…?

Hoàng Phong Tuấn sáng tác và biên soạn